“THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MƯỜNG SO, HUYỆN PHONG
THỔ, TỈNH LAI CHÂU ”
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hải Ninh
Nhóm thực hiện:
1.
Tẩn Minh Tuấn
(1351062888)
2.
Kiều Minh Tuân
(1354023120)
3.
Dương Thị Thanh
(1354030616)
4.
Nguyễn Mạnh Tùng
(1351072804)
thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu (Triệu Thị Trang,
2011).
Mường So là một xã miền núi của huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, có phía
Đông giáp xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ; phía Tây giáp thị trấn Phong Thổ và xã
Phìn Hồ, huyện Sìn Hồ; phía Nam giáp xã Lả Nhì Thàng, huyện Phong Thổ và
2
phía Bắc giáp xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ. Kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất
Nông nghiệp. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp tại địa phương do một số lí do tồn
tại mà không được chú trọng và đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản
xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, chất lượng nông sản thấp, khả năng hợp
tác liên doanh cạnh tranh còn yếu, sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm. Trong điều
kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hóa và gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế, đồng thời tạo đà
cho phát triển nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng
đất hiên tại, đánh giá đúng mức độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử
dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề
xuất quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của xã
Mường So là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết.
2.
Cơ sở lý luận
2.1. Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp
Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con
người, con người sinh ra trên mặt đất, sống và lớn lên nhờ vào các sản phẩm từ đất.
Nhưng không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Đất quý giá như thế
động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng
như cuộc sống của xã hội loài người.
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệp
về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và đất sử dụng vào
mục đích bảo vệ, phát triển rừng: Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
2.2 Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất
* Khái niệm sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất
trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào quy
luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững
về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý
4
nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích
sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999).
Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi
phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng
đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của
đất đai.
Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất
đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử
dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ
cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử
dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách
học kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý, sử dụng lao động… yếu tố kinh tế - xã
hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai. Thực vậy,
phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế
trong từng thời kỳ nhất định. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả
năng thích ứng về phương thức sử dụng đất. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới
việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất. Thực trạng sử dụng đất
liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất. Nếu có
chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải tạo và hạn chế sử dụng đất theo kiểu bóc lột
đất đai. Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình
trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lý mà còn bị hủy hoại.
Như vậy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tạo ra nhiều
tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí và có
tác động khác nhau. Vì vậy, cần dựa vào yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội trong
lĩnh vực sử dụng đất đai để từ đó tìm ra những nhân tố thuận lợi và khó khăn để sử
dụng đất đai đạt hiệu quả cao.
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
6
Đất là tư liệu sản xuất cần thiết và không thể thiếu đối với mọi quá trình sản xuất
trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Đối với nông
nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng
thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như: cày,
bừa, xới, xáo…) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (Sử dụng để trồng
trọt, chăn nuôi…). Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì
nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất. Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ
ha đất cho sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3
– 5 tỷ ha. Nhân loại đang làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện
nay có khoảng 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa.
không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Như vậy, đất gần như trở thành một công cụ sản xuất. Năng suất và chất lượng sản
phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong tất cả các tư liệu sản xuất dùng
trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này (Lương Văn Hinh và cs, 2003).
3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Mường So, huyện Phong Thổ,
tỉnh Lai Châu
3.1. Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và môi trường
3.1.1.Vị trí địa lý
Xã Mường So nằm ở khu vực trung tâm của huyện Phong Thổ, có vị trí địa lý được
khái quát mô tả như sau:
- Phía Đông: giáp xã Nậm Xe.
- Phía Tây: giáp Thị Trấn Phong Thổ.
- Phía Nam: giáp xã Lả Nhì Thàng.
- Phía Bắc: giáp xã Khổng Lào.
Xã nằm cách trung tâm hành chính của huyện đặt tại thị trấn Phong Thổ khoảng 12
km, nằm cách trung tâm hành chính tỉnh khoảng 28 km về phía Đông Nam theo
Quốc lộ 4D. Nhìn chung xã Mường So có vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối giao
lưu phát triển kinh tế - xã hội giữa các xã trong huyện.
3.1.2. Địa hình, địa mạo
Là xã miền núi nên Mường So có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi hai dãy
núi nằm ở phía Đông Bắc có độ cao từ 600 m đến 1000 m và phía Tây Nam có độ
8
cao trung bình từ 700 m đến 1100 m, địa hình đồi núi chiếm khoảng 75 % diện tích
tự nhiên toàn xã. Khu trung tâm xã là khu vực lòng chảo bằng phẳng được tạo
thành từ hai dãy núi trên có cao độ trung bình khoảng 300 m, diện tích khu vực này
chiếm khoảng 25 % diện tích tự nhiên toàn xã.
3.1.3. Điều kiện khí hậu
Xã Mường So mang những đặc điểm chung của khí hậu khu vực Tây Bắc, có 2
Mường So loại đất này phân bố ở khu vực trung tâm xã, cánh đồng Tùng So, các
khu vực ven các con suối. Do là sản phẩm dốc tụ nên loại đất này có hàm lượng
mùn, đạm, lân khá lớn rất thích hợp cho trồng lúa và các loại cây hoa màu.
- Nhóm đất đỏ vàng (feralit) gồm:
+ Đất nâu vàng hình thành trên đá macma bazơ, loại đất này phân bố chủ yếu ở các
khu vực đồi, núi thấp của xã; đây là nhóm đất thích hợp cho các loại cây công
nghiệp. Đất đỏ nâu hình thành trên đá vôi, loại đất này phân bố ở những nơi có độ
dốc trên 25o thích hợp cho các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng.
- Ngoài ra còn một số loại đất không phổ biến khác như đất mùn vàng đỏ phân bố
ở độ cao trên 900 m và một số nhóm đất khác nằm rải rác trong xã.
3.1.5. Tài nguyên nước
Trên địa bàn xã có 01 con suối chính chảy qua là suối Nậm So chảy theo hướng từ
Đông sang Tây và nhiều các con suối nhỏ bắt nguồn từ các khe núi đổ ra suối Nậm
So. Suối Nậm So là hợp lưu của hai con suối Nậm Pạt và Nậm Lùn, trong đó Suối
Nậm Pạt là một con suối lớn được hình thành từ rất nhiều con suối lớn nhỏ khác
nhau khi chảy qua địa phận xã Mường So gặp địa hình lòng chảo đã bồi đắp qua
nhiều năm và hình thành nên cánh đồng Tùng So, TùngCủng có đất đai màu mỡ là
vựa lúa của huyện Phong Thổ.
Như vậy chế độ thuỷ văn của xã Mường So chịu ảnh hưởng chủ yếu của con suối
Nậm So và hệ thống các nhánh suối nhỏ tạo nên nguồn tài nguyên nước phong
phú, thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp.
10
Tuy nhiên do đặc điểm địa hình núi cao, độ dốc lớn, độ che phủ của rừng thấp,
lượng mưa phân bố không đều tập chung chủ yếu vào mùa mưa nên hàng năm sạt
lở đất hai bên bờ suối Nậm So vẫn thường xuyên xảy ra gây thiệt hại và nguy cơ
gây thiệt hại về người, tài sản, đất đai ven suối của nhân dân là rất lớn.
3.1.6. Tài nguyên rừng
Xã Mường So có 1.754,73 ha đất lâm nghiệp có rừng, độ che phủ đạt 49,45%. Tài
- Là xã nằm trong tam giác kinh tế Thị trấn Phong Thổ – Mường So – Dào San
- Khu công nghiệp huyện Phong Thổ được huyện lựa chọn đặt trên địa bàn xã.
- Tiềm năng phát triển du lịch liên quan đến các di tích lịch sử văn hoá như lễ hội
Nàng Han, di tích kháng chiến hang Nà Củng, hang Thẳm Tạo...
- Cánh đồng Tùng So, Tùng Củng có đất đai phì nhiêu là điều kiện thuận lợi cho xã
áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất năng cao năng xuất cây trồng.
* Khó khăn
- Khu công nghiệp đã được quy hoạch nhưng chưa được đầu tư, phát triển.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống đã được đầu tư nhưng vẫn
còn nhỏ lẻ, manh mún.
- Việc khai thác tài nguyên có tính tự phát, thiếu sự điều tra, tổ chức nên gây ra
những tác hại về môi trường.
- Là xã có dịch vụ thương mại khá phát triển, song do hạ tầng kỹ thuật, đất đai cho
ngành này không được quy hoạch đồng bộ nên phần nào cũng hạn chế đến tốc độ
phát triển kinh tế của xã.
- Vấn đề ô nhiễm môi trường không lớn, song cũng đã ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống và sức khoẻ của nhân dân.
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Kinh tế
12
Là một xã khu vực trung tâm của huyện Phong Thổ, Mường So có tốc độ phát triển
kinh tế khá, ổn định và có nhiều cơ hội phát triển, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế
trong tương lai.
Tổng kết tình hình thực hiện kinh tế xã hội năm 2013 kế hoạch năm 2014 cho thấy
nền kinh tế của xã vẫn duy trì được mức độ tăng trưởng khá, chất lượng tăng
trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội luôn luôn được cải thiện.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội của, trong
hộ gia đình, chưa tạo ra được sản phẩm mang tính hàng hoá. Trong tương lai cần
xây dựng các mô hình phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô hộ gia đình
và trang trại.
- Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những năm qua huyện luôn quan
tâm chỉ đạo phát triển lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,
trong đó Mường So được huyện đặt khu công nghiệp và hướng phát triển thành
khu vực trọng điểm kinh tế.
Hiện tại tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của xã khá phát triển, toàn xã có 9 cơ sở
kinh doanh vận tải; 15 cơ sở làm nghề mộc, sản xuất gạch và khai thác khoáng sản,
vật liệu thông thường; 25 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát; 23 co sở
kinh doanh nhà nghỉ, cắt tóc, gia công may mặc; 01 cơ sở kinh doanh thuốc tân
dược; 01 cơ sở kinh doanh thuốc thú y và trên 100 cơ sở kinh doanh hàng tạp hoá.
Trên địa bàn xã có chợ Mường So là một chợ trung tâm cụm xã mang những đặc
điểm cơ bản của chơ phiên vùng cao, là nơi giao lưu chao đổi hàng hoá và các sản
vật do nhân dân trong vùng sản xuất ra với các hàng hoá công nghiệp, nông nghiệp
mang từ các vùng khác đến, đồng thời là nơi giao lưu văn hoá của các dân tộc khác
nhau; chợ họp 2 lần một tuần vào thứ 2 và thứ 6, lượng người dân đi chợ ước
khoảng từ 2000 đến 3000 người/phiên; Ngành Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại
dịch vụ của xã khá phát triển so với các xã trong khu vực. Tuy nhiên qua điều tra
cho thấy một số bất cập ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của ngành này như sau:
- Địa điểm họp chợ có diện tích 0,08 ha nằm trong khu dân cư chật hẹp
14
không có hệ thống vệ sinh môi trường đảm bảo, chợ thường xuyên họp tràn ra
đường gây ùn tắc giao thông và mất mỹ quan và vệ sinh môi trường.
- Trên địa bàn xã đã có tuyến xe khách chạy thị xã Lai Châu và Lào Cai nhưng
chưa có bến xe, chưa có sự quản lý chặt chẽ.
giúp cho công tác quản lý đất đai được dễ dàng hơn.
- Công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tham mưu cho UBND xã ban hành các văn bản để triển khai, hướng dẫn và đôn
đốc người dân trong công tác quản lý quy hoạch kế hoạch sử dụng đất năm 2009
đã được phê duyệt.
Tham mưu cho UBND xã xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2010 (có điều chỉnh
bổ sung) trên địa bàn.
Nhìn chung, chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thấp; Thể
hiện là các quy hoạch, kế hoạch đã được lập trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
xong vẫn phải điều chỉnh bổ sung, tỷ lệ thực hiện kế hoạch sử dụng đất của nhiều
lại đất còn thấp.
- Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất Công tác giao đất, thu hồi đất được
thực hiện tốt. Khi thu hồi để xây dựng các công trình, giao và cho thuê đất xã đã
xây dựng phương án đền bù hỗ trợ thoả đáng.
- Công tác đăng ký thống kê, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDÐ Công tác đăng
ký, thống kê đất đai: Xã tiến hành cấp GCNQSDĐ cho 88.39% đất nông nghiệp,
50.8% đất ở. Các hộ còn lại đang được tiếp tục hoàn thiện để có thể hoàn thành
công tác cấp GCNQSDĐ trong thời gian tới.
- Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật, xử lý vi
phạm trong quản lý sử dụng đất đai Những năm qua xã đã rất chú trọng đến công
tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về đất đai. Dưới sự phối hợp, giúp đỡ của
Phòng Tài nguyên và Môi trường, xã đã tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra việc
thực hiện quản lý sử dụng đất, việc thực hiện các dự án đầu tư, các hồ sơ biến động
đất đai... kịp thời chấn chỉnh các sai phạm, đảm bảo cho công tác quản lý đất đai đi
vào nề nếp.
16
- Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai
4
5
3,548.08
100
NNP
2,623.24
73.93
1.1 Đất lúa nước
DLN
160.26
6.11
1.2 Đất trồng lúa nương
LUN
1.3 Đất trồng cây hàng năm còn lại
HNC
14.54
1.8 Đất nuôi trồng thuỷ sản
NTS
5.84
0.22
DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN
1 Đất nông nghiêp
18
-
-
-
-
1.9 Đất làm muối
LMU -
-
2.3 Đất an ninh
CAN
0.58
0.16
2.4 Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh
SKK
10.08
2.79
2.5 Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh
SKC
0.22
0.06
Đất sản xuất vật liệu xây dựng,
2.6 gốm sứ
SKX
-
-
-
2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
NTD
2.12
MNC -
Đất mặt nước CD
2.13 Đất sông suối
3 Đất chưa sử dụng
4.38
1.21
-
SON
74.81
Biểu đồ 2: Biểu đồ cơ cấu đất nông nghiệp xã Mường So năm 2013
5.3. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
Theo FAO: Loại hình sử dụng đất (LUT – Land Use Type) là bức tranh mô tả thực
trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong
các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định. Qua quá trình điều tra
nông hộ và điều tra hiện trạng sử dụng đất, có thể xác định được trên địa bàn xã
Mường So có các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính sau đây:
Bảng 3: Các loại hình sử dụng đất chính của xã Mường So, huyện Phong Thổ,
tỉnh Lai Châu
22
LUT chính LUT Kiểu sử dụng đất
1.Cây hàng năm
2 lúa– 1 màu
- Lúa xuân – lúa mùa - ngô đông
- Lúa xuân – lúa mùa – rau đông
2 lúa - Lúa xuân – lúa mùa
Lúa – màu
- Lạc xuân - lúa mùa
- Ngô xuân – lúa mùa
- Rau - lúa mùa
1lúa - LX
Rau màu và cây công
23
- Địa hình: Vàn: =Vàn thấp: m Vàn cao:
- Thành phần cơ giới: b: cát pha c1: Thịt nhẹ
c2: Thịt trung bình c3: Thịt nặng
- Chế độ nước: CĐ: Chủ động Cđ: Bán chủ động
cđ: Không chủ độngUng: Úng nặng
- Đặc điểm trồng trọt:LC: Luân canhĐC: Độc canh
- Loại đất:+ Po: đất phù sa cổ
+ Pi: đất phù sa ít được bồi
25