Tiểu luận môn nghiệp vụ ngân hàng thương mại hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại tại việt nam - Pdf 35

Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC - KHOA NGÂN HÀNG
--------------

ĐỀ TÀI 6: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Trầm Thị Xuân Hương
Nhóm thực hiện: Nhóm 3

Tháng 04 năm 2016

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 1


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

DANH SÁCH NHÓM 3:
TÊN THÀNH VIÊN NHÓM

PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

Lê Hoàng Long (NT)

Câu hỏi 2+ Dịch 2 paper

Lê Đại Thành

nhập”
Khi đề cập đến khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM), có rất nhiều phát biểu khác
nhau tuỳ vào từng quốc gia. Tuy nhiên, tựu trung lại các khái niệm đều có điểm chung là dựa
trên chức năng và phương thức hoạt động. Chẳng hạn:
Ở Mỹ khái niệm ngân hàng thương mại được định nghĩa “Ngân hàng thương mại là một
công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch
vụ tài chính”.
Trong khi đó ở Thổ Nhĩ Kỳ quy định “ngân hàng thương mại là công ty trách nhiệm hữu
hạn được thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ
chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác”.
Ở Pháp hệ thống ngân hàng thương mại được định nghĩa “ N g â n h à n g t h ư ơ n g m ạ i
là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng
dưới hình thức ký thác hay dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các
nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và dịch vụ tài chính”.
Ngân hàng thương mại ở Ấn Độ định nghĩa “ Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các
khoản ký thác để cho vay hay tài trợ các khoản đầu tư”.
Đối với Việt Nam khái niệm NHTM trong Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được Quốc
hội thông qua vào ngày 16/06/2010 được phát biểu như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình
tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có
liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc
kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín
dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Như vậy qua các định nghĩa trên thì có thể khái quát lại khái niệm về ngân hàng thương mại
như sau: “Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian có khả năng thực hiện toàn
bộ các dịch vụ tài chính ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận”.
1.1.1 Phân loại ngân hàng thương mại:
Để phân loại các Ngân hàng thương mại ta có thể dựa trên các tiêu chí sau:
Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 3

- Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ.
Ngân hàng bán buôn là loại hình ngân hàng mà hoạt động của nó chủ yếu thực hiện đối với
các khách hàng lớn. Số lượng các giao dịch của ngân hàng bán buôn nhỏ song về giá trị một dịch vụ
lại lớn.
Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó thực hiện đối với các
khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân. Số lượng các giao dịch của ngân
hàng bán lẻ lớn song giá trị một giao dịch thường nhỏ.



Căn cứ theo cơ cấu tổ chức:

Ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty. Sự phân chia này là do pháp
luật ở nhiều nước cấm không cho ngân hàng trực tiếp tham gia vào một số hoạt động kinh doanh
như: buôn bán chứng khoán, bất động sản... nên các ngân hàng tổ chức ra các công ty riêng, có tư
cách pháp nhân để kinh doanh.



Hiện nay, ở Việt Nam có các loại hình ngân hàng thương mại sau:

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 4


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

- Ngân hàng thương mại nhà nước: Đây là các ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống
ngân hàng ở nước ta. Các ngân hàng này được nhà nước cấp vốn và hoạt động chịu sự quản lý của

Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu
vốn. Ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế
để tạo lập nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh
và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế.
Thông qua thực hiện chức năng trung gian tín dụng của NHTM đem lại lợi ích cho các chủ
thể: Thứ nhất, đối với khách hàng là người gửi tiền, chức năng này thu lợi được nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức tiền lãi đồng thời đảm bảo an toàn tiền gửi và được hưởng
những tiện ích mà ngân hàng mang lại; còn đối với người đi vay, chức năng này giúp cho các
Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 5


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

chủ thể trong nền kinh tế thoả mãn được nhu cầu vốn tạm thời thiếu trong quá trình sản xuất kinh
doanh và tiêu dùng đồng thời tiết kiệm được chi phí, tiết kiệm thời gian tìm kiếm được nguồn vốn
tiện lợi, an toàn và hợp pháp. Thứ hai, đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại
và phát triển ngân hàng thông qua lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi,
đồng thời nó là cơ sở để NHTM tạo bút tệ góp phần tăng qui mô tín dụng cho nền kinh tế. Thứ
ba, đối với nền kinh tế, chức năng này giúp điều hoà vốn tiền tệ từ nơi tạm thời dư thừa đến nơi
tạm thời thiếu hụt góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.



Chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng thương mại thay mặt cho khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho người được
hưởng do mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác hoặc nhận tiền vào tài khoản từ bán hàng
hoá, dịch vụ và các khoản thu khác.

Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

1.2.2 Khái niệm hệ thống pháp luật của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Hệ thống pháp luật của NHTM là công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động vào các quan
hệ tiền tệ ngân hàng với mục đích làm cho các quan hệ này phát triển ổn định theo một hướng nhất
định có lợi cho nền kinh tế - xã hội. Theo đó, nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật đối với hoạt
động của NHTM bao gồm tổng thể các mối quan hệ tiền tệ ngân hàng được điều chỉnh bằng pháp
luật, đặc biệt là đối tượng và phạm vi điều chỉnh với những chế định, nguyên tắc, quy phạm chứa
đựng trong luật và các văn bản dưới luật. Hoạt động của NHTM ở các nước khác nhau sẽ có nội
dung và phạm vi khác nhau tùy thuộc vào pháp luật và định hướng mô hình hoạt động của NHTM ở
các nước đó. Nhìn chung, theo pháp luật của Việt Nam, nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật của
NHTM thường bao gồm:
- Các quy định về tạo vốn, bao gồm cả việc huy động vốn, như nhận tiền gửi của công
chúng dưới các hình thức khác nhau, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, vay vốn của các
TCTD và NHTW theo quy định.
- Các quy định về hoạt động tín dụng: cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân dưới các hình
thức khác nhau như cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, bảo lãnh, CTTC và các
hình thức khác theo quy định.
- Các quy định về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: bao gồm việc mở và sử dụng tài khoản
tại NHTW và các TCTD theo quy định để cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch
vụ thanh toán trong và ngoài nước cho khách hàng theo quy định.
- Các quy định về các dịch vụ khác: dùng vốn tự có để thực hiện các nghiệp vụ góp vốn, liên
doanh, mua cổ phần; kinh doanh ngoại hối; ủy thác và nhận ủy thác; làm đại lý trong các lĩnh vực
liên quan đến hoạt động ngân hàng (như quản lý tài sản, vốn đầu tư của khách hàng, tư vấn tiền tệ,
tài chính, bảo quản hiện vật quý và giấy tờ có giá, cho thuê két sắt và các dịch vụ khác; cung ứng dịch
vụ bảo hiểm, chứng khoán theo quy định của pháp luật).
- Địa vị pháp lý của NHTM (quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm phát sinh của các chủ thể theo
pháp luật và phù hợp với pháp luật).
- Cơ chế bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng (quy định về giới hạn cho vay, bảo
lãnh; BHTG; cấm cạnh tranh bất hợp pháp; tỷ lệ DTBB; dự phòng rủi ro; tỷ lệ bảo đảm an toàn; bảo

Pháp luật về NHTM với hai bộ phận cấu thành là các quy định về tổ chức và các quy định
điều chỉnh hoạt động (hành vi) đã từng bước được đề cập đến trong các văn bản pháp luật. Với tư
cách là một bộ phận chủ yếu của pháp luật về NHTM, pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM ở
Việt Nam bao gồm tổng thể các chế định, nguyên tắc và quy phạm điều chỉnh phạm vi hoạt động
của NHTM phát sinh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các hoạt động kinh doanh ngân
hàng khác có liên quan.

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 8


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

Câu hỏi 2: Các quy định pháp luật ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của ngân hàng
thương mại?
Nghiên cứu liên quan: “Các quy định tài chính có ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân
hàng hay không? Bằng chứng từ các ngân hàng thương mại của Trung Quốc” (Tung-Hao Lee, ShuHwa Chih năm 2013).
Bài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng mà các quy định tài chính của CBRC (China Banking
Regulatory Commission – Uỷ ban Giám sát Ngân hàng Trung Quốc) tác động đến hiệu quả và rủi
ro của ngân hàng thương mại tại Trung Quốc.
Trong bài nghiên cứu, các ngân hàng thương mại được phân loại thành ngân hàng lớn (giá trị tài sản
lớn hơn 1 nghìn tỷ NDT) và ngân hàng nhỏ (các trường hợp còn lại). Dữ liệu được lấy từ
Bankscope, CBRC và báo cáo tài chính được công bố của các ngân hàng.
Các biến nghiên cứu:
Biến phụ thuộc: hiệu quả lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng.
Biến độc lập: các quy định về tài chính của ngân hàng. Gồm 4 nhóm:
-

Chất lượng tài sản: gồm 2 biến tỷ lệ nợ xấu (RES_NPL), tỷ lệ dự phòng rủi ro (RES_Loan)

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 10


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

Câu hỏi 3: Những văn bản, quy định pháp luật nào đang áp dụng tại các NHTM Việt Nam?
3.1 Quy chế về hoạt động của ngân hàng thương mại
3.1.1 Hoạt động cấp tín dụng và nhận tiền gửi
Theo Luật các TCTD 2010 số 47/2010/QH12 do Quốc Hội thông qua ngày 16/06/2010, hoạt
động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số
nghiệp vụ: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo đó, tùy
theo loại hình hoạt động, TCTD có thể thực hiện một hoặc một số hoặc cả ba hoạt động ngân hàng
nêu trên khi được NHNN cấp Giấy phép thành lập và hoat động. Theo quy định hoạt động ngân
hàng của ngân hàng thương mại:
− Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
− Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và

+
+
+
+
+

nước ngoài.
Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
Cho vay;
Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
Bảo lãnh ngân hàng;



Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 7 tháng 03 năm 2005;
Luật các TCTD năm 2010 ra đời đã được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2011. Và Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín
dụng đối với khách hàng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2002. Các quy định về cho vay
(thông qua Quy chế cho vay mới) đã phản ánh những nội dung cơ bản nhất về quan hệ tín dụng giữa
TCTD đối với khách hàng, cụ thể: Tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết định trong cho
vay của mình. Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủ trong
quá trình cho vay và thu hồi nợ của tổ chức tín dụng.Pháp luật tín dụng ngân hàng đặc biệt chú trọng
đến các nguyên tắc và điều kiện vay vốn như: sử dụng vốn vay đúng mục đích; hoàn trả nợ gốc và
lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.Đây là các nguyên tắc cơ bản, xuất
phát từ đặc điểm của giao dịch tín dụng là việc cho vay (sử dụng vốn) của TCTD bắt nguồn từ việc
đi vay (huy động vốn từ các từng lớp dân cư). Do vậy, việc sử dụng đúng mục đích đã cam kết theo
hợp đồng là điều kiện cần thiết để khách hàng có thể hoàn trả được nợ gốc và lãi vốn vay. Quy chế
cho vay hiện hành của NHNN phản ánh phương châm tiếp tục đổi mới cơ chế cho vay phù hợp với
các quan hệ kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 CPvề bảo đảm tiền vay và nghị định số
85/2002/NĐ-CPcho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm cố của khách hàng (bao gồm cả cầm cố giấy
tờ có giá, không phân biệt ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn) là biện pháp bảo đảm tiền vay, do vậy
việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ phải thực hiện theo Nghị định 178. Theo quan điểm này,
việc cho vay trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản cầm cố (bao gồm cả việc cầm cố giấy tờ có giá), là
một biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo ra các cơ sở pháp lý cần thiết giúp ngân hàng thu hồi nợ vay
trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ đến hạn. Trên thực tế, việc cấp tín dụng của
NHTM trên cơ sở này đang gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp do nhiều thủ tục phiền hà của cơ chế
cho vay. Trong khi đó, một khách hàng đang nắm giữ giấy tờ có giá và có nguyên vọng vay vốn để

Thứ tư, thẩm quyền những người được ký bảo lãnh cũng được mở rộng hơn: Ngoài Tổng
giám đốc (hoặc Giám đốc), Phó tổng giám đốc, Giám đốc chi nhánh của TCTD, là những đối tượng
trước đây, Quy chế mới đã mở rộng thêm thẩm quyền ký bảo lãnh cho Phó giám đốc Chi nhánh của
TCTD trên cơ sở ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của TCTD. Quy định này đã thực sự
tháo gỡ nhiều khó khăn, ách tắc trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của TCTD.
Thứ năm, mức phí bảo lãnh tối đa là 1% năm theo quy chế trước đây đã được thay đổi và
điều chỉnh là 2% cho phù hợp với thực tiễn hơn. Cả về mặt lý luật và thực tiễn hoạt động cho thấy
nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có tính rủi ro cao. Do vậy, phí bảo lãnh 2%/năm là hợp lý.
Thông tư số: 05/2006/TT-NHNN ngày 25/07/2006 Hướng dẫn một số nội dung về hoạt
động cho thuê tài chính và dịch vụ ủy thác cho thuê tài chính theo quy định tại Nghịđịnh số
16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 tại Điều 1 đã cụ thể hóa định nghĩa trên như sau:
− Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc,
thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho
thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các
Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 13


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê.
Bên thuê nắm giữ tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa
thuận.
− Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục
thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng CTTC.
Nhìn chung, các văn bản pháp lý trên đây đã thực sự tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho
hoạt động của các công ty CTTC ở Việt Nam. So với quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của
công ty CTTC ban hành kèm theo Nghị định 64/CP ngày 9/10/1995 của Chính phủ, Nghị định 16
đã có nhiều nội dung mới, khắc phục được một số quy định hạn chế trước đây

dịch vụ thanh toán của người sử dụng dịch vụ thanh toán (Điều 3 khoản 1 Nghị định 64). Nghị định
64 đã thực sự tạo ra được cơ sở pháp lý mới trong hoạt động thanh toán của các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán với những quy định bao quát được các quan hệ thanh toán và hoạt động thanh
toán phát sinh trong thực tiễn.
Bên cạnh việc tạo ra một quy chế mới về cung ứng dịch vụ thanh toán, pháp luật hiện hành
về thanh toán và hoạt động thanh toán qua ngân hàng còn chứa đựng một số hạn chế và bất cập như
sau:
− Pháp luật thanh toán, bao gồm cả thanh toán điện tử còn thiếu tính hệ thống, thiếu đồng bộ
và nhất quán.
− Các quy tắc và tập quán quốc tế về thanh toán chậm được luật pháp hóa, thiếu cụ thể, gây
trở ngại và ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng
Việt Nam.
− Các công cụ thanh toán phổ biến trên thế giới, như séc, lại chưa được áp dụng rộng rãi do
các quy định pháp luật còn nhiều hạn chế về đối tượng, phạm vi sử dụng; thủ tục thanh toán
rườm rà, phức tạp.
− Các phương tiện thanh toán sử dụng công nghệ hiện đại, như thẻ thanh toán, chưa được sử
dụng phổ biến, hệ thống cơ sở hạ tầng viễn thông, trang thiết bị máy móc phục vụ thanh
toán còn nghèo nàn, sơ sài.
Về việc ngân hàng thương mại thành lập Công ty chứng khoán trực thuộc để kinh doanh
trên thị trường chứng khoán. Theo quy định tại Nghị định 48 (Điều 29 khoản 1), các TCTD muốn
tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập Công ty chứng khoán độc lập. Thủ tục và trình tự
thành lập Công ty chứng khoán của NHTM được quy định theo Quyết định 172/1999/QĐ-TTg ngày
19/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 04/1999/TT-NHNN5 ngày 2/11/1999 của NHNN
Việt Nam.
Tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán nói chung và của công ty chứng khoán
trực thuộc ngân hàng thương mại nói riêng được quy định trong các văn bản: Quyết định 04 ngày
13/10/1998 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Quyết định 78 ngày 29/12/2000 bổ sung một số
điều trong Quyết định 04 nói trên.

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành
kinh tế theo quy định tại Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014.
Để đảm bảo tuân thủ các quy định của NHNN, an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng và ổn
định thị trường tiền tệ,Ngoài ra, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng tự kiểm tra, phát hiện những vi
phạm về mức lãi suất huy động, chỉ đạo chấn chỉnh và xử lý nghiêm người đứng đầu các chi nhánh,
đơn vị của tổ chức tín dụng để xảy ra vi phạm, không chấp hành các quy định của NHNN, chủ động
Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 16


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

phát hiện và báo cáo về NHNN những tổ chức tín dụng cạnh tranh không lành mạnh vi phạm quy
định về mức lãi suất huy động.
3.2 Quy chế về đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Đảm bảo an toàn hoạt động của NHTM nói riêng và của cả hệ thống các TCTD nói chung
luôn luôn là một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng trong tổ chức và hoạt động kinh doanh tiền
tệ. Do vậy, hai trong bốn mục tiêu quan trọng của Luật các TCTD là bảo vệ lợi ích của người gửi
tiền và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng để từ đó đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD. Thông
tư 13/2010/TT-NHNN thay thế Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Thông tư 13
là tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9 %. Cụ thể, Điều 4 của Thông tư quy định: Tổ chức tín
dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có
so với tổng tài sản “Có” rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ). Việc tăng tỷ lệ an
toàn vốn là cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm khuyến khích các ngân hàng tái cơ cấu và
nâng cao tiềm lực tài chính và tăng cường khả năng và quản lý thanh khoản
3.3 Quy chế kiểm soát đặc biệt; thanh tra, kiểm tra, giám sát ngân hàng thương mại
Các đặc thù dẫn đến rủi ro trong hoạt động ngân hàng là lý do khách quan để Nhà nước tăng

Câu hỏi 4: Đánh giá vai trò và hạn chế của hệ thống pháp luật ngân hàng Việt Nam?
Những quy định của pháp luật là cơ sở để các NHTM tuân thủ trong quá trình thực hiện các hoạt
động của mình. Thông qua những quy định đó, nhà nước còn thực hiện việc kiểm tra, giám sát đối
với các NHTM. Bên cạnh đó, pháp luật còn tạo cơ sở để phát huy trách nhiệm của NHNN trong
phòng ngừa rủi ro hoạt động cấp tín dụng của NHTM thông qua chức năng quản lý nhà nước về tiền
tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng ngân hàng trung ương.
4.1 Vai trò của pháp luật ngân hàng
Một là, pháp luật đưa ra những quy định mang tính chất bắt buộc cho các NHTM thực hiện
hoạt động cấp tín dụng an toàn, hiệu quả. Thông qua các quy định của pháp luật, các NHTM biết rõ
những hoạt động nào không được thực hiện, những hoạt động nào bị hạn chế thực hiện, những hoạt
động nào được khuyến khích thực hiện nhằm bảo đảm an toàn. Như vậy, pháp luật đã tạo lập một
“khung” hướng dẫn các NHTM trong hoạt động. Thực vậy, khi các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ
nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho khách hàng, họ phải tiến hành các
công việc đó trong một khung pháp lý được xây dựng một cách cẩn trọng để bảo vệ lợi ích của toàn
xã hội. Nhìn chung, những hoạt động có tính chất rủi ro rất cao, gây thiệt hại lớn cho các NHTM
hoặc có xung đột lợi ích trong NHTM thì pháp luật quy định theo chiều hướng cấm đoán. Chẳng
hạn, NHTM không được cấp tín dụng cho thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành
viên… của chính NHTM đó. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định NHTM bị hạn chế thực hiện một
số hoạt động có nguy cơ xảy ra rủi ro, muốn bảo đảm an toàn thì cần phải tuân thủ một số quy định
ràng buộc. Ví dụ, NHTM không được cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho kế toán trưởng, kiểm
toán viên, thanh tra viên đang làm nhiệm vụ kiểm toán và thanh tra tại NHTM đó…. Ngoài ra,
những hoạt động của NHTM có tính an toàn, hiệu quả sẽ được pháp luật khuyến khích thực hiện.
Hai là, pháp luật là công cụ rất hữu hiệu nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các NHTM
trong phòng ngừa rủi ro. Mặc dù đã có những bước phát triển vượt bậc về quy mô, loại hình và hiệu
quả hoạt động nhưng hệ thống NHTM Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều rủi ro. Các NHTM
Việt Nam có năng lực tài chính còn non kém, trình độ kinh doanh còn non yếu, công tác quản lý rủi
ro ngân hàng còn lỏng lẻo, chưa thực sự được chú trọng và mang tính chuyên nghiệp. Vì vậy, một
yêu cầu mang tính khách quan là các NHTM cần nắm bắt kịp thời những thách thức, rủi ro để tìm ra
những giải pháp, công cụ thích hợp nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động. Thế nhưng, thực tế
không phải tất cả các NHTM đều có sự quan tâm đến vấn đề này. Chính vì vậy, pháp luật, với

thời gian, trong khi hoạt động kinh doanh phát sinh hàng ngày. Trong đó có những nội dung nảy
sinh nhiều vướng mắc như giấy phép hoạt động, lãi suất huy động, việc đảo nợ, vấn đề bảo lãnh,
giới hạn dư nợ cấp tín dụng, mua cổ phần của ngân hàng khác… Khó khăn, bất cập về pháp lý có
rất nhiều,. Nhưng về cơ bản thì vướng mắc nhất là giao dịch bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm và vấn
đề tố tụng., các quy định về tài sản bảo đảm, giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm liên quan
đến nhiều ngành, nhưng quy định của ngành này lại bị quy định của ngành khác, cơ quan khác hạn
chế.Về tài sản bảo đảm là nhà ở hình thành trong tương lai, Nghị định 71/2010/NĐ-CP quy định,
vấn đề này giao Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện, nhưng đến nay, Ngân hàng Nhà nước
vẫn chưa cho ra đời văn bản hướng dẫn. Các ngân hàng không biết thực hiện theo quy định nào và

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 20


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

vướng mắc đối với cả trường hợp nhà ở hình thành trong tương lai riêng lẻ và dự án, tức là vướng
mắc cả với chủ nhà và chủ đầu tư dự án.
Hai là, giữa quy định pháp luật và thực thi trên thực tế còn có khoảng cách khá xa, ảnh
hưởng không nhỏ tới hoạt động ngân hàng.Chẳng hạn, hợp đồng thế chấp có quy định rõ quyền của
ngân hàng (bên nhận thế chấp) được thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ, nhưng lại chưa có biện
pháp bảo đảm thực thi, dẫn đến khó khăn/hạn chế thực hiện trên thực tế. Không ít trường hợp, ngân
hàng đã không thể thực hiện được quyền này khi bên thế chấp (chủ tài sản) chống đối/ không bàn
giao tài sản…, bởi lẽ chưa có quy định rõ ràng về nghĩa vụ của cơ quan chức năng như UBND,
công an tại địa phương nơi có tài sản, hỗ trợ ngân hàng thu giữ tài sản bảo đảm. Trong khi đó, việc
khởi kiện khách hàng để thu hồi nợ cũng không phải dễ dàng khi vướng mắc về các thủ tục tố tụng.
Nhiều trường hợp khách hàng vay bỏ trốn, doanh nghiệp chuyển trụ sở mà không thông báo cho
ngân hàng…, thì việc khởi kiện là vô cùng khó khăn. Thời gian từ lúc nộp đơn đến khi tòa thụ lý rất
mất thời gian do không thể xác minh được địa điểm cư trú của bị đơn. Ngân hàng đã phải “bôn ba”

nhất định. Ba là, phát triển đồng bộ mô hình xử lý nợ xấu phi tập trung cùng với mô hình tập trung.
Mô hình tập trung là mô hình xử lý nợ xấu ngắn hạn trong 5 năm, trong khi đó mô hình phi tập
trung là mô hình hoạt động dài hạn cả trong và sau tái cơ cấu. Vì vậy việc phát triển đồng bộ cả hai
mô hình sẽ giúp kết quả quá trình xử lý nợ xấu được duy trì và phát huy, ngay cả khi giai đoạn tái
cơ cấu 2011 - 2015 đã kết thúc. Bốn là, có cơ chế đặc biệt cho VAMC, trao cho VAMC một số
quyền hạn đặc biệt để giảm thiểu các vướng mắc trong việc xử lý nợ xấu và đẩy nhanh tốc độ mua
bán nợ. Năm là, hướng dẫn cụ thể về việc xử lý các khoản nợ xấu đối với ngân hàng thương
mại. Sáu là, xây dựng chính sách thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.Bảy là, xây dựng thị trường
mua bán nợ. Một thị trường mua bán nợ thật sự bao gồm cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
sẽ giúp huy động đa dạng các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia xử lý nợ xấu. Tám là, phát
triển thị trường trái phiếu và tạo hành lang pháp lý cho việc chứng khoán hóa các khoản nợ xấu.
Xây dựng một thị trường vốn sâu rộng với nhiều công cụ khác nhau, đặc biệt là việc thiết lập thị
trường trái phiếu giúp tạo ra một kênh huy động vốn thay thế cho ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phối hợp với các bộ, ban, ngành liên quan sớm xây
dựng các văn bản pháp quy và các tổ chức trong điều hành các thị trường phái sinh (cụ thể là thị
trường hoán đổi tín dụng) cũng như các thị trường liên quan đến chứng khoán hóa (thị trường
chứng khoán, thị trường bất động sản và thị trường bảo hiểm). Theo đó, các văn bản pháp lý và các

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 22


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

tổ chức được xây dựng theo hướng hạn chế tối đa sự nguy hiểm bắt nguồn từ tính liên thông giữa
các thị trường trên khi kinh tế vĩ mô trở nên bất ổn.
Thứ hai, khuôn khổ pháp lý về mua bán, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tín dụng. Các
văn bản pháp luật cần thống nhất khái niệm mua lại tổ chức tín dụng. Theo đó, mua lại tổ chức tín
dụng cần được hiểu là mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng

Trang 23


Đề tài nghiên cứu: Hệ thống pháp luật ngân hàng thương mại Việt Nam

Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng cũng đã có quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của
các cá nhân cũng như các tổ chức trong ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, cần quy định cụ thể rõ
ràng hơn về mức sở hữu cổ phần tối đa với từng loại cổ đông. Với cổ đông cá nhân có thể phân chi
tiết hơn như: cá nhân tham gia quản lý, cá nhân không tham gia quản lý... Với cổ đông là tổ chức có
thể phân thành các nhóm: tổ chức tài chính, tổ chức phi tài chính, tổ chức là cơ quan, doanh nghiệp
nhà nước... Bên cạnh đó, cần nghiêm cấm các hành vi lợi dụng sở hữu chéo để vượt qua các quy
định về tỷ lệ sở hữu, giới hạn góp vốn, mua cổ phần; các quy định về hạn chế cho vay, giới hạn tín
dụng cũng như phân loại, trích lập dự phòng rủi ro. Với những sai phạm bị phát hiện, cần có cơ chế
xử phạt thật nghiêm bao gồm nâng các mức phạt hành chính nhằm gia tăng kỷ luật đối với các ngân
hàng thương mại khác.
Thứ tư, khuôn khổ pháp lý về quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn hoạt động của các
ngân hàng thương mại. Việc tuân thủ các quy định an toàn hoạt động ngân hàng và chuẩn mực an
toàn vốn là những giải pháp quan trọng trong cơ cấu lại tài chính của hệ thống ngân hàng thương
mại theo Đề án 254. Để bảo đảm an toàn hoạt động toàn bộ hệ thống ngân hàng đặc biệt trong giai
đoạn tái cấu trúc, NHNN cần có các giải pháp toàn diện đối với vấn đề này.
Thứ năm, khuôn khổ pháp lý về cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các tổ chức tín dụng
thực hiện tái cơ cấu. Cần có các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí hợp lý liên quan đến
mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay (đặc biệt là thuế VAT); miễn, giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp trong vòng 2 năm đối với các tổ chức tín dụng sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập,
hợp nhất; miễn, giảm thuế, phí hợp lý đối với quỹ tín dụng nhân dân nhằm khuyến khích các tổ
chức tín dụng tham gia tích cực vào quá trình xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, hỗ trợ các tổ
chức tín dụng giảm gánh nặng về tài chính trong quá trình cơ cấu lại và xử lý nợ xấu. Thực hiện cho
vay, hỗ trợ nguồn vốn với mức lãi suất hợp lý dưới hình thức tái cấp vốn đối với các tổ chức tín
dụng tham gia tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém từ nguồn tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà
nước để bảo đảm khả năng chi trả và tạo nguồn vốn cho mở rộng hoạt động. Cho phép tổ chức tín

góp phần tạo môi trường lành mạnh và động lực cho các ngân hàng, doanh nghiệp phát triển
sản xuất kinh doanh. Loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp, ưu đãi trong lĩnh vực ngân hàng và
phân biệt đối xử giữa các TCTD.
Luật NHNN và luật các TCTD hướng tới điều chỉnh mọi hoạt động tiền tệ, ngân hàng,
không phân biệt đối tượng tiến hành hoạt động ngân hàng. Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật
trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tăng cường hiệu lực chế tài pháp lý, kinh tế và hành
chính bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của người đi vay và bảo vệ quyền lợi chính đáng
của các ngân hàng. Hạn chế và tiến tới xoá bỏ việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực
ngân hàng.
Ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực của Ủy ban Basel trên cơ sở lựa chọn
những chuẩn mực thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Trong đó chú trọng đến
các văn bản quy định về việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội bộ của mỗi NHTM.
Đối với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, NHNN tư vấn cho chính phủ và bộ tài
chính ra văn bản hướng dẫn cụ thể trên cơ sở quy định trong phương pháp chuẩn của hiệp ước Basel
II. Đồng thời bổ sung định hướng thực hiện hiệp ước Basel trong chính sách phát triển hệ thống
ngân hàng giai đoạn 2010-2020, trong đó nêu cụ thể và chi tiết về lộ trình áp dụng cũng như các
điều kiện áp dụng.

Nhóm 6 – Lớp NHTM Chủ Nhật - K24

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status