Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh bỏng tại khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện a thái nguyên - Pdf 35

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN
LÂM SÀNG CỦA BỆNH BỎNG TẠI KHOA
CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN
A - THÁI NGUYÊN

1


MỤC LỤC
Trang

ĐẶT VÂN ĐỂ: ……………………………………………………… 2
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử ngành bỏng và điều trị bỏng………………………… 3
1.2 Đại cương bỏng ……………………………………………….. 4
1.3 Một số thể bỏng đặc biệt ……………………………………... 10
1.4 Điều trị bỏng …………………………………………………… 10
Chương 2 : ĐÔI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu ………………………………………... 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu ……………………………………. 11
2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu …………………………………………... 11
2.4 Xử lý số liệu …………………………………………………… 13
Chương 3: DỰ KlẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm dịch tễ bỏng ……………………………………….. 14
3.2 Đặc điểm lâm sàng bỏng …………………………………….. 16
3.3 Đặc điểm cận lâm sàng bỏng ………………………………... 18
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm dịch tễ bỏng ……………………………………….. 22
4.2 Đặc điểm lâm sàng bỏng ……………………………………. 22
4.3 Đặc điểm cận lâm sàng bỏng ……………………………….. 23
KẾT LUẬN …………………………………………………………. 24

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của
bệnh bỏng tại khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện A - Thái Nguyên” với
mục tiêu:
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh bỏng.

3


Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử ngành bỏng và điều trị bỏng

Lịch sử phát triển của ngành bỏng gắn liền với lịch sử phát triển của
con người. Cách đây khoảng 500.000 năm trước công nguyên từ khi con
người tìm ra lửa cũng là lúc con người bị bỏng do nhiệt khô, đồng thời từ khi
con người biết làm đồ gốm và dùng nồi, ấm bằng sành sứ để đun nấu thì con
người bị bỏng do nhiệt ướt.
Vào thế kỷ XV - XVI, khi môn hoá học phát triển, bỏng còn do các hoá
chất như axit, các chất kiềm mạnh gây ra. Đặc biệt thế kỷ XVI - XVII, khi con
người tìm ra điện thì lại có bỏng điện. Đến thế kỷ XIX - XX bỏng còn do các tia vật
lý, phóng xạ. Như vậy lịch sử nguyên nhân bỏng luôn gắn liền với yếu tố tự nhiên
môi trường, luôn gắn với yếu tố kinh tế, kỹ thuật, khoa học công nghệ.

Cách đây 4.000 năm, từ nền văn minh Ai Cập đến nền văn minh Trung
Hoa cổ đại đã mô tả điều trị bỏng bằng cây thuốc, 430 năm trước công
nguyên Hypocrate đã mô tả thuốc chữa bỏng tự chế bằng cuốn Tanin.
Thế kỷ XIV, Guy Chauliac đã đề ra ý kiến phân loại bỏng theo độ sâu.
Năm 1799 James Earle đề xuất ngâm vùng chi thể bị bỏng vào nước lạnh để dập
lửa, hạ nhiệt độ da bỏng, giảm đau, giảm phù nề, giảm thoát dịch huyết tương [11].
Năm 1832, Baron Guillaume Duypuytren đã nêu: “Bỏng không phải là một
bệnh đơn giản, trái lại nó là một bệnh rất phức tạp, có nhiều biểu hiện bệnh lý khác

+ Biểu bì là biểu mô lát tầng sừng hóa, gồm 4-5 lớp, từ dưới lên trên có:
• Lớp đáy (lớp sinh sản): Bao gồm một hàng tế bào hình khối vuông hoặc
hình trụ, có khả năng sinh sản cao.
• Lớp sợi (Manpigi): Bao gồm 3-5 hàng tế bào hình đa diện.
• Lớp hạt: Gồm 5-7 hàng tế bào dẹt, hình thoi, bào tương nhiều hạt

sừng.
• Lớp bóng: Gồm 3-5 hàng tế bào dẹt, đã mất nhân và bào quan
• Lớp sừng: Gồm những tế bào đã hóa sừng thành dải sừng.

+ Trung bì gồm tế bào của mô liên kết, mạch máu, thần kinh, tuyến bã,
nang lông và tuyên mồ hôi, các chất nền tảng: fibronectin, Proteoglycan, sợi tạo
keo, sợi lưới, sợi chun.. .Trung bì còn được chia thành 2 lớp nhỏ:
• Lớp nhú: Ngay dưới màng đáy, tập trung nhiều mạch máu,thần kinh
• Lớp lưới:Gồm nhiều tế bào xơ sợi, thành phần phụ của da và

thần kinh, mạch máu.
+ Hạ bì: Gồm mô liên kết mỡ, mạng lưới mạch máu thần kinh da. Hạ bì
có ổ mỡ chứa tế bào mỡ, lớp cân nông và mô liên kết lỏng lẻo [1].
1.3 Nguyên nhân gây bỏng.
Nguyên nhân gây bỏng luôn gắn liền với yếu tố tự nhiên môi trường,
gắn với yếu tố kinh tế, kỹ thuật và khoa học công nghệ cho nên nguyên nhân
gây bỏng rất đa dạng và phong phú. Có 4 loại tác nhân gây bỏng chính đó là:
Bỏng nhiệt, bỏng hoá chất, bỏng điện và bỏng do các tia xạ [10].
1.3.1 Bỏng nhiệt
Đây là loại bỏng hay gặp nhất chiếm 84-99%. Khi mô tế bào bị nóng do
nhiệt độ (độ C) sẽ xuất hiện tổn thương tuỳ thuộc vào nhiệt độ, thời gian tiếp xúc.
+ Bỏng do nhiệt khô: Hay gặp nhất là bỏng lửa cháy với nhiệt đ ộ cao
như củi gỗ cháy (1300°C - 1400°C). Bỏng do tác dụng trực tiếp của vật nóng như
kim loại nóng chảy trong kỹ nghệ luyện kim thường gặp gây bỏng sâu.

• Rất nặng là chết lâm sàng.
1.3.4 Bỏng do bức xạ:
Bao gồm bỏng do tia hồng ngoại, tử ngoại và Rơnghen, tia laser.. .mức độ
tổn thương tuỳ thuộc vào loại tia, mật độ, chùm tia, khoảng cách từ nguồn tia đến
da và thời gian tác dụng.
1.4 Chẩn đoán tổn thương bỏng.

Công tác chẩn đoán tổn thương bỏng có vị trí quyết định để tiên lượng
và định kế hoạch cứu chữa.
1.4.1 Chẩn đoán diện tích bỏng:
Diện tích vết bỏng được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa bề mặt của nó
với bề mặt da toàn thân. Như vậy, bỏng càng rộng thì càng nặng.
• Người lớn bỏng trên 20% là nặng, bỏng trên 30% là rất nặng.
• Trẻ em bỏng trên 10% là nặng, trên 20% là bỏng rất nặng.
Có nhiều cách tính diện tích bỏng, thường dùng 3 công thức sau:
+ Công thức con số 9: Người ta chia diện tích da trên cơ thể bệnh nhân
thành những phần tương đối bằng nhau, mỗi phần đó chiếm khoảng 9% diện
tích da toàn thân, những phần da nhỏ hơn thì dùng các số 1, 3, 6%

1.2Giải phẫu và mô học của da.....................4
1.3Nguyên nhân gây bỏng...........................5
1.3.1 Bỏng nhiệt..................................5
1.3.2 Bỏng do hoá chất............................5
1.3.3 Bỏng điện:..................................5
1.3.4 Bỏng do bức xạ:.............................6
1.4 Chẩn đoán tổn thương bỏng.....................6
1.4.1 Chẩn đoán diện tích bỏng:...................6
Tuổi.................................................10
Giới.................................................10
+ Số lượng tiểu cầu (x 103mm3).........................11


13%

14%

1 2 - 2 4 tháng

12%

15%

2-3 tuổi

11%

16%

3-4 tuổi

10%

17%

>5 tuổi

9%

18%

+ Công thức con số 1 - 3 - 6 - 9 - 1 8 của Lê Thế Trung được áp dụng theo

+ Độ V: Tổn thương hết bề dày của da và đến cơ xương bên trong
Ngoài ra có thể chẩn đoán theo lâm sàng [10].
1.5 Các thời kỳ của bệnh bỏng.
Theo Lê Thế Trung(1972), tổn thương bỏng gây ra những phản ứng chung
của cơ thể và những rối loạn bệnh lý toàn thân xuất hiện có tính quy luật gọi là bệnh
bỏng. Quy luật này trải qua 4 thời kỳ của bệnh bỏng [10]:

7


1.5.1 Thời kỳ đầu: Shock bỏng (48h đầu).
- Bệnh nhân kêu la vật vã do đau, buồn nôn, dần dần nằm lả đi, vẻ mặt
thờ ơ, vã mồ hôi ở trán, mũi, lạnh đầu chi.
+ Do giảm khối lượng tuần hoàn, huyết tương thoát ra ngoài mạch,
ngấm vào tổ chức gây phù nề dẫn đến mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt
+ Xét nghiệm: Máu bị cô đặc, dự trữ kiềm giảm, Bệnh nhân nhiễm toan,
Kali máu tăng, Creatinin tăng.

+ Não gan và thận trong đó thận là cơ quan chịu ảnh hưởng của Shock
nặng nề nhất. Bệnh nhân dễ bị viêm thận cấp (nước tiểu ngày càng ít đi, đỏ đặc, đái
ra huyết cầu tố, protein...) từ thiểu niệu dần trở nên vô niệu và suy thận cấp.

+ Nếu không bồi phụ khối lượng tuần hoàn sớm và đầy đủ tỉ lệ tử vong
rất cao.
1.5.2 Thời kỳ thứ hai (ngày thứ 2, 3 sau bỏng đến ngày 30 - 40 - 50): Với
đặc trưng là 3 hội chứng chính (nhiễm độc bỏng cấp, sốt hấp thụ mủ và nhiễm
khuẩn toàn thân).

Đối với bỏng nông đây là thời kỳ liền sẹo và khỏi bệnh
Đối với bỏng sâu biểu hiện các hội chứng:

kích ứng, không nhiễm trùng.
+ Toàn thân:
• Dùng thuốc giảm đau toàn thân: Có thể dùng đường uống, thụt hậu
môn, bơm qua sonde dạ dày hoặc dùng đường tĩnh mạch.
• Dung dịch Đông miên.
- Bồi phụ lại khối lượng tuần hoàn [15].
1.7.2 Xử trí vết bỏng: Là việc làm rất cần thiết để điều trị bỏng. Có những
phương pháp xử trí theo các bước sau:
- Cắt lọc vết bỏng, bôi, đắp thuốc, dán thuốc lên vết bỏng
- Băng vết bỏng tránh nhiễm trùng và thoát huyết tương
- Có thể phải vá da
- Để vùng bị bỏng ở tư thế tránh co dính và dung thuốc [15].

9


Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân bị bỏng
2.1.1 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu thuận tiện
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 1/ 2014 đến tháng 12/ 2014
- Địa điểm: Tại khoa Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện A Thái
Nguyên
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.
- Tất cả các bệnh nhân bỏng được điều trị tại khoa Chấn thương chỉnh hình
Bệnh viện A Thái Nguyên

10


- Phương pháp tính độ sâu bỏng: Độ sâu bỏng được tính theo phương

pháp của tác giả Lê Thế Trung. Phương pháp này chia thành 5 độ: Bỏng nông
gồm bỏng độ I, II, III và bỏng sâu gồm bỏng độ IV, V.
- Shock bỏng và tiêu chuẩn chẩn đoán shock
- Theo dõi các biến chứng toàn thân: Nhiễm khuẩn huyết, xuất huyết
tiêu hoá, phế quản phế viêm, rối loạn đông máu, suy hô hấp cấp, suy thận cấp.
2.3.3 Đặc điểm cận lâm sàng
* Các chỉ tiêu theo dõi về huyết học
- Tất cả những bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu khi vào viện được lấy
máu xét nghiệm trước khi truyền dịch, theo dõi chỉ số:
+ Số lượng hồng cầu(T/l)
+ Huyết sắc tố (g/1)
+ Hematocrit (1/1)
+ Số lượng bạch cầu (GA)
+ Số lượng tiểu cầu (x 103mm3)
* Các chỉ tiêu theo dõi về sinh hoá
+ Ure máu (mmol/1).
+ Creatinin(micromol /1).
+ Protid máu(g/l).
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu thu thập được sẽ được xử lý trên phần mềm SPSS 18.0

11


Chương 3

8.3
0
0.0
3
8.3
15-60
11
30.6
5
13.9
16
44.5
>60
2
5.6
1
2.8
3
8.3
Tổng
24
66.7
12
33.3
36
100
Nhận xét: Đối tượng bị bỏng ở nữ giới(33.3%) thấp hơn nam giới (66.7%);
trong đó lứa tuổi từ 15 – 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (nam giới là 30.6%, nữ
giới là 13.9%).
Bảng 3.2 Phân bố nguyên nhân bị bỏng theo tuổi

2

%
5.6

n
2

%
5.6

n
7

%
19.4

n
3

%
8.3

N
25

%
69.5

1


0.0

0

0.0

0

0.0

0

0.0

Điện

0

0.0

0

0.0

0

0.0

4


0.0

1

2.8

Tổng

10

27.
8

3

8.3

3

8.3

16 44.4

3

8.3

36


Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Trước 6h
31
86.1
6h - 24h
4
11.1
24 - 72h
1
2.8
Sau 72h
0
0
Tổng
36
100
Nhận xét: Qua bảng tổng hợp cho thấy có tới 31/36 trường hợp bị bỏng được đưa
đến viện trước 6 giờ (chiếm 86.1%), không có trường hợp nào đến viện sau 72 giờ.

Sơ cứu ban đầu
Đúng
Sai
Không sơ cứu
Tổng

Bảng 3.5 Sơ cứu ban đầu
Số bệnh nhân
6
2

Kích thích ,vật vã
Li bì, hôn mê
Tổng
Nhận xét: Đa số bệnh nhân nhập viện trong tình trạng tỉnh táo (75%), 8 bệnh nhân
trong tình trạng kích thích (22.2%), có 1 bệnh nhân li bì khi đến viện (2.8%)

13


Bảng 3.7 Biểu hiện da, niêm mạc khi bệnh nhân nhập viện

Da, niêm mạc

Số bệnh nhân
32
4
0
36

Bình thường
Xanh, lạnh
Nổi vân tím
Tổng

Tỷ lệ %
88.8
11.2
0.0
100



Bảng 3.9Vị trí bỏng
Số bệnh nhân
4
7
25
0
36

Tỷ lệ %
11.2
19.4
69.4
0.0
100

Nhận xét: Đa số bệnh nhân bị bỏng ở vùng chi (69.4%), không có trường hợp
nào bị bỏng ở bộ phận sinh dục.

Độ I
Độ II
Độ III
Độ IV

Bảng 3.10 Độ sâu bỏng
Số bệnh nhân
6
26
3
1

1
4.8
10-20
13
0
0.0
21-30
1
1
100
>30
1
1
100
Nhận xét: Qua bảng cho thấy có 2 bệnh nhân bị bỏng với diện tích >20% thì
đều bị shock khi đến viện, trong 21 bệnh nhân bị bỏng
Nhận xét: Không có trường hợp nào có chỉ số Hb140g/l (8.3%).
Bảng 3.14 Chỉ số Hematocrit ngày đầu sau bỏng
Hematocrit(l/l)
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Dưới 0,35
1
2.8
0,35-0,45
25
69.4
Trên 0,45
10
27.8
Tổng
36
100

15


Nhận xét: Có 10/36 bệnh nhân chỉ số Hct >0,45 l/l (chiếm 27.8%), chỉ có 1
trường hợp có chỉ số Hct
86.1
11.1
100

Nhận xét: Từ bảng tổng hợp cho thấy có 1 bệnh nhân (2.8%) có giảm số lượng
tiểu cầu, 4 bệnh nhân có biểu hiện tăng số lượng tiểu cầu (11.1%).

Ure huyết(mmol/l)
8,3
Tổng

Bảng 3.17 Ure huyết
Số bệnh nhân
0
35
1
36

Tỷ lệ %
0.0
97.2
2.8
100

Nhận xét: Làm xét nghiệm ure máu cho thấy chỉ có 1 trường hợp (2.8%) có
biểu hiện tăng ure máu, không có trường hợp nào có chỉ số ure máu
25
3
36

Tỷ lệ %
22.2
69.5
8.3
100

Nhận xét: Có 8 trường hợp (22.2%) có lượng Protid máu 80g/l.
Bảng 3.20 Số ngày điều trị
Ngày điều trị
Dưới 7
7-14
15-21
Trền 21
Tổng

Số bệnh nhân
9
19
5
3
36

Tỷ lệ %
25.0
52.8

biến chứng rất nguy hiểm, làm rối loạn hoạt động của các cơ quan trong
cơ thể đặc biệt là hệ tuần hoàn và hô hấp, có thể dẫn đến tử vong nếu
không được cấp cứu kịp thời.
Về vị trí bị bỏng chủ yếu gặp ở chi (69.4%), không có bệnh nhân bị
bỏng ở cơ quan sinh dục. Độ sâu của bỏng gặp nhiều nhất là bỏng độ II
(72.2%), chỉ có 1 trường hợp bỏng độ IV (2.8%). Tuy nhiên, với bỏng độ
II nhưng bỏng diện tích rộng mà không được sơ cứu và điều trị đúng vẫn
có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm như shock bỏng do đau, mất
huyết tương; nhiễm trùng, nhiễm độc vết bỏng và toàn thân; để lại sẹo
dầy dính…
Trong điều trị bệnh bỏng cần theo dõi sát các chỉ số cận lâm sàng
để phát hiện sớm các biến chứng do tiến triển của bệnh bỏng có thể gây
ra như nhiễm trùng nhiễm độc, suy thận…đặc biệt là các chỉ số về sinh
hoá máu. Qua nghiên cứu một số chỉ số cận lâm sàng trên 36 bệnh nhân
bị bỏng thấy đa số các bệnh nhân đều có chỉ số bình thường, chỉ có một
vài trường hợp có sự thay đổi như: 22.2% có tăng bạch cầu, 2.8% có tăng
ure máu, 8.3% có tăng creatinin máu. Đây chủ yếu là kết quả của những
bệnh nhân bị bỏng diện tích rộng, độ bỏng sâu.

18


19


KẾT LUẬN

- Đối tượng bị bỏng chủ yếu là nam giới (66.7%), lứa tuổi bị bỏng
chủ yếu từ 15-60 tuổi (44.5%), nguyên nhân gây bỏng chủ yếu do nhiệt ướt
(69.4%), vị trí bỏng chủ yếu gặp ở chi (69.4%), bỏng độ II chiếm tỷ lệ nhiều

7- Hồ Xuân Hương, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Ngọc Tuấn (2002): Dịch tễ
bỏng trẻ em 17 năm (1985-2001) tại Viện Bỏng Quốc gia. Tạp chí Thông tin
Y Dược, tháng 12/2002.
8- Hồ Thị Dung, Phạm Thiện Điều, Nguyễn Đăng Phương (2005): Một số
nhận xét về nhận thức của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi với bệnh bỏng tại
huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Y học thảm hoạ & bỏng. Số 2, tr 64-73.
9- Hướng dẫn sơ cứu, cấp cứu, điều trị và dự phòng bỏng cho trẻ em (2005):
Viện Bỏng Quốc gia. Dự án phòng chống tai nạn thương tích trẻ em.
10- Lê Thế Trung Bỏng (2003): Những kiến thức chuyên ngành. Nhà xuất
bản y học.
11- Nguyễn Như Lâm, Đặng.T.Bích Hoà (2006):Đánh giá thực trạng sơ cấp
cứu nạn nhân bỏng tại các cơ sở y tế. Y học thảm hoạ & bỏng. Số 1, tr. 70-77.
12- Nguyễn Ngọc Tuấn, Nguyễn Gia Tiến, Lê Năm (2007): Hoạt động tập
huấn về phòng chống bỏng cho trẻ em trong 2 năm 2005-2006. Y học thảm
hoạ & bỏng. Số 1, tr. 66-69.
13- Phạm Văn Yên, Nguyễn Trung Kỳ, Nguyễn Thanh Sơn, Lê Đình Hanh,
Nguyễn Quốc Dương (2005): Nhận xét tình hình bỏng ở trẻ em được điều trị
tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng từ 2001-2003. Y học thảm hoạ & bỏng. Số 2,
tr 78-83.
14- Thái Quang Hùng (2006): Dịch tễ học chấn thương do bỏng ở bệnh nhân
nhập viện điều trị tại tỉnh Đắc Lắc 1998-2002. Tạp chí y tế công cộng. Số 5, tr
23-26.
15- Sơ cấp cứu điều trị bỏng (2006): Viện Bỏng Quốc gia . Nhà xuất bản y
học.

21





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status