ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---***---
TRẦN MẠNH QUANG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
THẾ KỶ XV QUA ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ
<大 越 史 記 全 書>
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
2
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
7
3. Giới hạn của luận văn
9
4. Phương pháp nghiên cứu
9
5. Kết cấu của luận văn
9
B. NỘI DUNG
10
2.1.4. Thái độ ứng xử của chính quyền đối với tôn giáo, tín ngưỡng 136
2.1.5. Quan niệm về nguồn lực
152
2.1.6. Học thuyết về quân sự
162
2.1.7. Vấn đề hình luật
173
2.2. Về đối ngoại
179
2.2.1. Chính sách ứng xử đối với Bắc triều
179
2.2.2. Chính sách ứng xử đối với các nước khác
184
C. KẾT LUẬN
189
Tài liệu tham khảo
194
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ở Việt Nam hiện nay bộ môn Chính trị học còn mới, trong bộ môn
đó có một lĩnh vực về triết học chính trị, tức lý thuyết về những phạm trù,
khái niệm chung, cơ bản nhất của chính trị. Các hệ đề tài đi vào nghiên cứu
vấn đề này, đặc biệt thông qua sử sách để tìm hiểu còn ít.
Lịch sử chính trị ở Việt Nam hiện còn tranh cãi, chưa rõ ràng về
từng mốc giai đoạn. Sự chuyển hóa từ các chế độ, các phương thức quản lý,
cai trị nhà nước, các chính sách đối với từng đối tượng, thành phần giai cấp,
Tông có ý nghĩa về nhiều mặt, mà chúng tôi cụ thể ở đề tài là mặt tư tưởng
triết học chính trị.
Nền chính trị trong lịch sử Việt Nam từ trước năm 1945 (thời kỳ
trước khi nhà nước quân chủ bị xóa bỏ) không nhiều thì ít đều có gắn với
yếu tố tôn giáo, thần quyền, càng lùi dần về quá khứ thì yếu tố ấy càng
1
Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục (Viện Sử học dịch (2007), Nxb Văn hóa - Thông tin, tr.60) nhận
xét: “Nước Nam ta, triều nhà Lý có một loại chế độ, triều nhà Trần có một loại chế độ, đời Hồng Đức về
sau có một loại chế độ…đều tùy theo thời nghi, hợp với trị đạo”.
2
Cũng xin lưu ý thêm, mô hình chế độ quân chủ chuyên chế đó được lựa chọn và trải qua rất nhiều biến
cố lịch sử, xét từ hai phương diện chủ yếu: thứ nhất, khả năng kiến tạo một xã hội mạnh nhưng chấp
nhận được những sự phân tầng, giải quyết hoặc điều hòa được những mâu thuẫn xã hội. Thứ hai, tập hợp
được các lực lượng xã hội để đối phó hữu hiệu với các thế lực ngoại xâm, bất ổn hay xung đột tầm quốc
gia – dân tộc, trong đó đặc biệt là mối đe dọa thường trực từ phương Bắc, có ảnh hưởng tới sự tồn vong
của nhà nước Đại Việt.
3
đậm nét. Vậy sự kết hợp giữa hoàng quyền và thần quyền cũng là một
trong những vấn đề về tư tưởng chính trị đề tài quan tâm.
Ở Việt Nam từ xưa ít có truyền thống “Kinh học” - tức những tác
phẩm chuyên biệt về tư tưởng. Lịch sử không để lại nhiều những công
trình mang màu sắc lý luận phản ánh những phương diện, tư tưởng thượng
tầng. Trong số tư liệu mà lịch sử để lại, có lẽ một trong những loại tài liệu
quan trọng nhất khi nghiên cứu về vấn đề tư tưởng chính là các bộ sử.
Chọn 大 越 史 記 全 書/Đại Việt sử ký toàn thư làm đối tượng khảo
văn chữ Hán bản in Nội các quan bản đã được sao ra và in lại toàn văn
trong tập (IV) của công trình Đại Việt sử ký toàn thư, nhà xuất bản Khoa
học Xã hội, Hà Nội 1998. Chúng tôi mạnh dạn sử dụng bản Nội các quan
bản này để làm văn bản khảo sát trong luận văn.
Việc sử dụng nguyên bản chữ Hán văn bản Đại Việt sử ký toàn thư
có ý nghĩa: trước hết, đáp ứng yêu cầu của một luận văn chuyên nghành
Hán Nôm, dùng nguyên văn Hán Nôm của tác phẩm để tìm hiểu. Mặt khác,
với nội dung nghiên cứu của đề tài, việc diễn giải và phân tích ngữ nghĩa
3
Ngoài ra còn một số ký hiệu lưu trữ được chúng tôi ghi nhận trong quá trình khảo sát Di sản Hán Nôm
Việt Nam - Thư mục đề yếu ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm là Paris.SA.HM.2197, Paris.BN.A.31,
Paris.BN.A.102. Tuy nhiên đều không có văn bản thực tế tại thư viện.
4
Như Phan Huy Lê, Nguyễn Khánh Toàn, Hà Văn Tấn…
5
Bản trao tặng lưu trữ dưới dạng vi phim (MF), có ký hiệu PD.2310 tại Thư viện Hội Á châu, Paris.
5
nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư sẽ làm nổi bật lớp nghĩa triết
học chính trị có thể ẩn tàng sâu bên trong, mà nếu chỉ thông qua bản dịch
có sẵn thì không thể khai thác được. Ví dụ, câu nói của Hồ Nguyên Trừng:
臣 不 怕 戰,但 怕 民 心 之 從 違 耳 - Thần bất phạ chiến, đãn phạ dân
tâm chi tòng vi nhĩ. Trước nay thường được dịch là: “Thần không sợ đánh,
chỉ sợ lòng dân không theo!”6. Từ đó dẫn đến đánh giá chính trị nhà Hồ
quá thấp, để mất hẳn nhân tâm. Cần biết rằng chữ 違/Vi trong “民 心 之 從
違”còn có nghĩa là “lìa, lánh”, tinh ý sẽ nhận thấy ẩn ý bên trong là dân
chúng đối với nhà Hồ chưa có sự đồng nhất, có bộ phận theo, có bộ phận
Như đã biết, thế kỷ XV là thế kỷ có tính bước ngoặt trong lịch sử
Việt Nam, từ sự sụp đổ của nhà Hồ; sự áp bức đô hộ của ngoại bang (nhà
Minh - Trung Quốc); khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi dựng nên triều Lê;
Nho giáo bước lên vũ đài chính trị với vị thế cao nhất; Phật giáo sau giai
đoạn tham gia triều chính Lý - Trần cực thịnh đã lùi dần về dân gian. Bởi
thế, việc nghiên cứu thế kỷ này đã được nhiều học giả đặt ra. Với hướng
giải quyết về tư tưởng triết học chính trị trong giai đoạn này của đề tài,
chúng tôi quan tâm tới những công trình có nội dung thuộc về lĩnh vực đó.
Ngay từ thế kỷ XVIII đã có Lê Quý Đôn (1726-1784) với 見 聞 小
錄/Kiến văn tiểu lục, 雲 薹 類 語/Vân đài loại ngữ, Phan Huy Chú (17821840) với 歷 朝 憲 章 類 誌/Lịch triều hiến chương loại chí đều có đề cập
tới một số mặt tiêu biểu về chế độ, quan chức, hình luật, khoa mục, binh
7
chế, văn tịch, bang giao... của những đời vua trong giai đoạn này. Tuy vậy,
các tác phẩm chủ yếu nặng về công việc kê cứu lược thuật, có chăng thêm
đôi lời bàn luận.
Sang thời hiện đại, việc nhìn nhận và đánh giá về thế kỷ XV được đề
cao với những tác phẩm mang tính chất tư tưởng rõ rệt như Đại cương triết
học Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu8 có dành một mục để khái quát về tư
tưởng triết học giai đoạn Lê sơ. Đáng chú ý, GS.TS Lê Văn Quán9 với tác
phẩm Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam từ Bắc thuộc đến thời kỳ
Lý-Trần mặc dù chỉ đề cập tới những giai đoạn tư tưởng chính trị-xã hội
Việt Nam trước thế kỷ XV nhưng công trình này rất có ý nghĩa và giá trị
tham khảo, bởi tư tưởng là một quá trình, việc nhìn nhận các giai đoạn tư
tưởng trước sẽ góp phần nhận diện cho giai đoạn tư tưởng về sau.
Đáng tiếc số lượng các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tư
tưởng triết học chính trị thời kỳ này còn ít, đặc biệt là nghiên cứu qua dữ
liệu nguyên bản chữ Hán của 大 越 史 記 全 書/Đại Việt sử ký toàn thư.
sử, triết học, văn bản học, thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích tư liệu…
5. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó phần
nội dung được chia làm hai chương lớn như sau:
Chương 1: Dữ liệu về tư tưởng triết học chính trị Việt Nam thế
kỷ XV trong Đại Việt sử ký toàn thư
10
Sở dĩ chúng tôi tính hết cả thời kỳ Lê Hiến Tông, có phần vượt qua mốc thế kỷ XV đôi chút, bởi trong
5 năm ngắn ngủi đó (1500 – 1504) những tư tưởng, đường lối của nhà Lê sơ thực chất vẫn là sự tiếp nối
của giai đoạn vua Lê Thánh Tông (thế kỷ XV). Sau khi Lê Hiến Tông mất, triều Lê sơ bắt đầu suy thoái.
9
Chương 2: Những nhận định và đánh giá về nội dung tư tưởng
triết học chính trị Việt Nam thế kỷ XV qua Đại Việt sử ký toàn thư
B. NỘI DUNG
Chương 1: Dữ liệu về tư tưởng triết học chính trị Việt Nam
thế kỷ XV trong Đại Việt sử ký toàn thư
1.1. Dữ liệu giai đoạn nhà Hồ (1400 – 1407)
Nhà Hồ do Hồ Quý Ly (1336 – 1407) dựng nên kế nghiệp nhà Trần
đã suy vi từ cuối thế kỷ XIV. Tuy thời gian tồn tại ngắn ngủi chưa đầy 10
năm11 nhưng nhà Hồ đã để lại một số dấu ấn đáng ghi nhận về tư tưởng
triết học chính trị trong lịch sử Việt Nam. Tiếc rằng những cải cách thời kỳ
này còn chưa phát huy được giá trị thì Đại Việt đã phải đương đầu với
cuộc xâm lăng của nhà Minh (Trung Quốc). Từ đó dẫn đến sự lụn bại và
tan rã của chế độ thống trị nhà Hồ (1407). Những dữ liệu có liên quan tới
tư tưởng triết học chính trị giai đoạn này được 大 越 史 記 全 書/Đại Việt
Quí Ly khiển tam quán thuộc quan, chi hậu nội nhân, nội tẩm học
sinh phân hành các lộ. tiềm phỏng quan lại đắc thất dân gian lợi bệnh dĩ vi
truất giáng, vĩnh vi định thức. Tự thử chuyển dịch thủ lệnh.
DN:
(Kỷ Mão, năm 1399) Quý Ly sai thuộc quan ở tam quán, chi hậu nội
nhân, nội tẩm học sinh chia nhau đi các lộ, bí mật dò hỏi kẻ hay người dở
trong quan lại, việc lợi việc hại ở dân gian để tiến hành việc giáng truất,
quy định thành thể thức lâu dài. Từ đó, các chức thú lệnh mới thay đổi
luôn. (đường lối cai trị - tuyển chọn quan lại)
12
Năm 1399 là năm Hồ Quý Ly bức vua Trần Thuận Tông xuất gia, bắt đầu cho việc phế truất nhà Trần,
lập nên nhà Hồ một năm sau (1400). Vì tính chất “bản lề”, quan trọng đó nên chúng tôi dẫn thêm một vài
tư liệu năm 1399 để có cái nhìn bao quát hơn về tư tưởng triết học chính trị nhà Hồ.
11
3)辛 巳 (...) 夏 ,四 月,漢 蒼 攢 造 天 下 户 籍 ,許 註 胡 氏 族 演 州 清
化 二 派 . 籍 人 口 二 歲 以 上 並 以 現 在 為 實 ,不 許 流 亡 而 猶 有
籍 者 .[VIII-39a]
PA:
Tân Tỵ (...) Hạ, tứ nguyệt, Hán Thương toàn tạo thiên hạ hộ tịch,
hứa chú Hồ thị tộc Diễn Châu Thanh Hóa nhị phái. Tịch nhân khẩu nhị tuế
dĩ thượng tịnh dĩ hiện tại vi thực, bất hứa lưu vong nhi do hữu tịch giả.
DN:
Tân Tỵ, (1401), (Hồ Hán Thương Thiệu Thành năm thứ 1, Minh
Kiến Văn năm thứ 3) (…) Mùa hạ, tháng 4, Hán Thương sai làm sổ hộ tịch
trong cả nước, cho ghi họ Hồ có hai phái ở Diễn Châu và Thanh Hóa.
thổ nhân dĩ độc chi.
DN:
Ất Dậu, (1405), (Hán Thương Khai Đại năm thứ 3). Mùa xuân,
tháng 2 (…) Nhà Minh sai sứ sang đòi cắt đất Lộc Châu ở Lạng Sơn. Quý
Ly sai hành khiển Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ. Hối Khanh đem các
thôn như Cổ Lâu, gồm cả thảy 59 thôn trả cho nhà Minh. Quý Ly trách
mắng, lăng nhục Hối Khanh vì trả lại đất nhiều quá. Những thổ quan do
bên kia đặt, (Quý Ly) đều bí mật sai thổ nhân ở đó đánh thuốc độc giết đi.
(quan hệ bang giao)
7)九 月,漢 蒼 命 試 吏 員. 漢 蒼 定 南 北 班 軍 分 為 十 二 衛. [VIII48b]
PA:
Cửu nguyệt, Hán Thương mệnh thí lại viên. Hán Thương định Nam
Bắc ban quân phân vi thập nhị vệ.
DN:
(Ất Dậu, năm 1405) Tháng 9, Hán Thương lệnh thi xét lại viên. Hán
Thương định quân Nam ban và Bắc ban chia thành 12 vệ. (khảo xét quan
lại - quân sự)
8)左 相 國 澄 曰 : 臣 不 怕 戰 , 但 怕 民 心 之 從 違 耳. [VIII-49b]
PA:
13
Tả tướng quốc Trừng viết: Thần bất phạ chiến, đãn phạ dân tâm chi
tòng vi nhĩ.
DN:
(Ất Dậu, năm 1405) Tả tướng quốc Trừng nói: "Thần không sợ đánh,
chỉ sợ lòng dân ly tán mà thôi!". (biện chính)
9)史 臣 吳 士 連 曰: 天 命 在 乎 民 心. 澄 之 言 深 得 [VIII-50a] 其 要.
不 可 以 胡 氏 故 廢 澄 之 言.
Nhà Minh (Trung Quốc) sau khi tiêu diệt triều Hồ đã từng bước thiết
lập nền đô hộ Đại Việt. Dưới chính sách cai trị hà khắc cả về kinh tế, chính
trị, văn hóa của chúng, nhân dân Đại Việt phải chịu cảnh lầm than, cơ cực.
Trong bài 告平吳/Cáo bình Ngô Nguyễn Trãi đã vạch rõ:
狂 明 伺 隙 ,因 以 毒 我 民
焮 蒼 生 於 虐 焰 ,陷 赤 子 於 禍 坑
Cuồng Minh tứ khích
(Quân Minh cuồng bạo gây oán
Nhân dĩ độc ngã dân
Thừa cơ hãm hại dân ta
Hân thương sinh ư ngược diệm
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Hãm xích tử ư họa khanh
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai họa)
Trước tình cảnh đó, người dân Đại Việt đã không chịu khuất phục,
vùng lên đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược. Nổi bật có sự quật khởi của
tôn thất nhà Trần do Trần Ngỗi, con Trần Nghệ Tông, tự xưng là Giản
Định Đế và Trần Quý Khoáng, cháu nội Nghệ Tông, tự xưng là Trùng
Quang Đế, được sử sách gọi là nhà Hậu Trần. Kế đến là cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn vĩ đại của người anh hùng áo vải Lê Lợi. Khi tìm hiểu về tư
tưởng triết học chính trị Việt Nam thế kỷ XV không thể bỏ qua những tư
tưởng manh nha giai đoạn này. Đây có thể coi là bước đệm chuyển tiếp
16
kì phủ nhi dụng chi, vô cảm ân hồ? Nãi đa sát lục, hà dĩ vi nhân nghĩa chi
sư tai?
DN:
(Hưng Khánh năm thứ 1 (1407). Tháng 12. Giết bọn nguỵ quan
Trần Thúc Giao, Trần Nhật Chiêu và thuộc hạ hơn 500 người. Trước đây,
người Minh lấy tôn thất họ Trần là Trần Thúc Giao (là con Trần Nguyên
Đán) giữ đất Diễn Châu, cựu tướng quân Trần Nhật Chiêu giữ đất Nghệ
An. Đến đây, vua lên ngôi, vì họ không đón rước trước nên bị giết. Sử thần
Ngô Sĩ Liên nói: Thiên hạ đại loạn, nhân dân Nghệ An, Diễn Châu biết ai
là chân chúa. Thúc Giao là con người tôn thất, Nhật Chiêu là tướng quân
cũ, nhận quan tước của nhà Minh, giữ đất, trị dân, dân không theo có
được không? Giết Thúc Giao và Nhật Chiêu là phải, còn bọn thuộc hạ nên
vỗ về mà dùng, thì chúng không cảm kích ơn đức đó hay sao? Thế là lại
giết nhiều như vậy, sao gọi là quân nhân nghĩa được? (biện chính – đường
lối cai trị)
12)帝 謂 諸 軍 曰: 乘 破 竹 之 勢 ,席 卷 長 驅, 疾 雷 不 及 掩 耳, 進
攻 東 関 城 破 之 必 矣 . [IX-11a]
PA:
Đế vị chư quân viết: Thừa phá trúc chi thế, tịch quyển trường khu,
tật lôi bất cập yểm nhĩ, tiến công Đông Quan thành phá chi tất hĩ.
DN:
(Hưng Khánh năm thứ 2 (1408). Tháng 12) Vua bảo các quân rằng:
"Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch, như sét đánh
không kịp bịt tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc chắn phá được
chúng". (quân sự)
13)潘 孚 先 曰: 鄧 悉 但 知 行 軍 之 爲 急 而 不 知 救 [IX-11b] 東 都
之 尤 急 . 東 都 國 之 形 勢. 據 東 都 則 諸 路 無 不 應, 而 中 州 豪
DN:
(Hưng Khánh năm thứ 3 (1409), (từ tháng 3 trở đi là Trùng Quang
Đế năm thứ nhất, Minh Vĩnh Lạc năm thứ 7). Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vua
may thoát khỏi vòng vây hãm nguy hiểm, cầu người cứu giúp nạn nước,
được cha con Đặng Tất có tài làm tướng, cha con Cảnh Chân giỏi tài mưu
lược, đủ để lập được công khôi phục, dựng được nghiệp trung hưng. Với
trận thắng Bô Cô, thế nước lại nổi. Thế mà nghe lời gièm pha ly gián của
bọn hoạn quan, một sớm giết hại hai người bề tôi phò tá mình, thì làm sao
nên việc được! Cho nên đức của người làm vua quý ở chỗ cương quyết,
18
sáng suốt. Cương quyết thì có thể xử đoán được, sáng suốt thì có thể xét rõ
được. (đường lối cai trị)
15)三 月,十 七 日,帝 御 位 於 支 羅, 改 元 重 光.[IX-13a]
PA:
Tam nguyệt, thập thất nhật, đế ngự vị ư Chi La, cải nguyên Trùng
Quang.
DN:
(Kỷ Sửu, năm 1409) Tháng 3, ngày 17, vua lên ngôi ở Chi La, đổi
niên hiệu là Trùng Quang. (biện chính)
Trùng Quang Đế (1409 – 1414)
16)諱 季 曠,愍 王 锷 之 庶 子,藝 宗 之 孫,簡 定 帝 之 姪 也 ,在 位 五
年. 帝 遭 時 板 蕩,勵 志 圖 回,天 不 佑 陳,飲 恨 以 死,悲 夫! [IX-15a]
PA:
Húy Quý Khoáng, Mẫn Vương Ngạc chi thứ tử, Nghệ Tông chi tôn,
Giản Định Đế chi điệt dã, tại vị ngũ niên. Đế tao thời bản đãng, lệ chí đồ
hồi, thiên bất hữu Trần, ẩm hận dĩ tử, bi phù!
DN:
thì không hay coi đó là lợi mà cứ muốn hại người ta. (đường lối cai trị)
19)壬 辰,四 年 (…) 史 臣 吳 士 連 曰: 臨 兵 制 勝 之 道 在 乎 協 同 心
力.向 使 帥 等 與 容 同 心 力 戰 容 輔 未 知 誰 勝 負.盖 天 不 佑 陳
也! [IX-20a]
PA:
Nhâm Thìn, tứ niên (…) Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: Lâm binh chế
thắng chi đạo tại hồ hiệp đồng tâm lực. Hướng sử Súy đẳng dữ Dung đồng
tâm lực chiến Dung Phụ vị tri thùy thắng phụ. Cái thiên bất hữu Trần dã!
DN:
Nhâm Thìn, (Trùng Quang) năm thứ 4 (1412), (Minh Vĩnh Lạc năm
thứ 19) (…) Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Đạo cầm quân chế thắng cốt ở đồng
tâm hiệp lực. Giả sử bọn Súy và Dị một lòng quyết đánh thì Dung và Phụ
cũng chưa biết ai được ai thua. Đó là vì trời không giúp họ Trần vậy!
(quân sự - biện chính)
1.2.2. Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)
20
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh
nhiều cuộc khởi nghĩa chống quân Minh bị đàn áp một cách dã man, đặc
biệt khi nhà Hậu Trần vừa quật khởi cũng bị chúng dìm trong biển máu,
khủng bố rất tàn khốc. Tinh thần người dân Đại Việt lúc này vừa căm phẫn
vừa sợ hãi trước sự độc ác của kẻ thù. Nguyễn Trãi đã thốt lên hoàn cảnh
khó khăn buổi ban đầu của nghĩa quân rằng: 人才 秋 葉,俊 傑 晨 星 Nhân tài thu diệp, tuấn kiệt thần tinh - Nghĩa là: “Nhân tài như lá mùa thu,
tuấn kiệt như sao buổi sớm”. Suốt 10 năm kháng chiến, với những kinh
nghiệm đúc rút trong quá trình chiến đấu, trưởng thành, cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm về tư tưởng triết học chính trị,
nhất là ứng xử về đường lối binh pháp, quân kỷ, ngoại giao. 大 越 史 記
全 書/Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép về những dữ liệu đó như sau:
trúc lãnh thổ)
28)十 二 月, 禁 剪 花 果, 木 樹, 刧 掠 財 産 者. [X-24b]
PA:
Thập nhị nguyệt, cấm tiễn hoa quả, mộc thụ, kiếp lược tài sản giả.
DN:
(Ất Tỵ, năm 1425) Tháng 12, cấm chặt phá hoa quả, cây cối và cướp
bóc của dân. (đường lối cai trị - thân dân)
29)帝 曰: 此 言 固 合 我 意. 且 兵 所 謂 不 戦 而 屈 人 兵 計 之 善 者
也. [X-25a]
PA:
Đế viết: Thử ngôn cố hợp ngã ý. Thả binh sở vị bất chiến nhi khuất
nhân binh kế chi thiện giả dã.
DN:
(Ất Tỵ, năm 1425. Tháng 12. Bọn Vương Thông, Sơn Thọ nhà Minh
sai người đưa thư xin hòa) Vua nói: "Câu đó đúng hợp ý ta. Vả lại, binh
pháp không đánh mà khuất phục được quân của người là kế hay hơn cả."
(quân sự - quân nhân nghĩa)
24