Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích
Việc phát huy tính tích cực của học sinh vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ
văn là rất quan trọng vì nó giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu khi viết bài. Đặc
biệt nó giúp học sinh xoá đi mặc cảm ngại học văn, không thích học Văn. Từ đó
chất lượng môn văn được cải thiện.
.2. Đóng góp về mặt khoa học, kinh tế, xã hội... của sáng kiến kinh nghiệm
Giúp học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo khi tiếp cận tác phẩm văn học và khi
viết bài tập làm văn.
II. PHẦN NỘI DUNG
1
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
Chương 1: Cơ sở khoa học của sáng kiến kinh nghiệm
1. Cơ sở lí luận.
Hiện nay, giáo dục và đào tạo đã và đang tiếp tục coi trọng đổi mới phương
pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
trong đó môn Ngữ văn là một môn khoa học có tính đặc thù, giàu tính nhân văn sâu
sắc. Học văn không chỉ để cảm nhận cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương mà
còn học cách làm người. Vì vậy, người dạy văn, học văn giống như người lao động
nghệ thuật, không chỉ tìm hiểu, khám phá, cảm nhận, mà còn phải nhập thân, biến
kiến thức văn chương thành máu thịt, một phần đời sống không thể thiếu của mình.
Muốn vậy người giáo viên phải tổ chức cho học sinh thực sự được sống, được tham
Hiện nay, tình trạng học sinh ngại học văn, chất lượng bộ môn Ngữ văn thấp.
Nguyên nhân của thực trạng này có từ nhiều phía: gia đình, xã hội, cơ chế thi cử,
cơ hội tìm việc làm, thu nhập... Từ góc độ nhà trường, vấn đề chương trình, sách
giáo khoa, cách dạy của thầy, cách học của trò,...
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 6 năm 2006 của bộ tưởng Bộ GDĐT đã nêu:
“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điệu kiện lớp học; bồi dưỡng cho
học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú, trách nhiệm
học tập cho học sinh.”
Đổi mới PPDH không phải là nội dung mới. Thực tế ngành giáo dục đã tiến
hành đổi mới qua nhiều năm nhưng trong quá trình thực hiện nhiều giáo viên còn
lúng túng, tổ chức chưa mấy hiệu quả. Giáo viên mặc dầu đã có ý thức đổi mới
phương pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện đôi khi còn mang tính chất hình
thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Vẫn không tránh
khỏi hiện tượng một bộ phận giáo viên ngại đổi mới, vẫn giữ thói quen dạy học
3
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, học sinh lắng nghe,
ghi nhớ và nhắc lại những điều giáo viên đã truyền đạt. Từ đó vô tình biến học sinh
thành " bình chứa", thiếu sự chủ động, học theo lối "học vẹt", không phát huy vai
trò cá nhân. Giờ học tác phẩm văn chương vì thế vẫn chưa thu hút được sự chú ý
của người học.
Thực hiện chủ trương ứng dụng công nghệ thông tin, rất nhiều giáo viên đã
cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy học. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy vẫn
Để đáp ứng các phương pháp, kĩ thuật trong dạy học đạt hiệu quả, tích cực
hoá học sinh, ngoài việc tuân thủ các quy trình mang tính đặc trưng của phương
pháp, kĩ thuật dạy học còn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật sư phạm của
người giáo viên. Một phương pháp dạy học nào đó tự nó không tích cực hay tiêu
cực. Đồng thời phương pháp nào cũng gắn liền với người sử dụng nó. Cho nên, một
phương pháp dạy học có phát huy được tính tích cực học tập của học sinh hay
không còn tuỳ thuộc vào năng lực của người giáo viên sử dụng nó. Tức là, bất kì
cách thức tổ chức dạy học nào được thực hiện tạo nên những "chấn động", khiến
các em có những vận động trí tuệ, cảm xúc đều là phương pháp dạy học tích cực.
" Không nên đặt đối lập những nguyên tắc dạy học cổ điển với những
nguyên tắc, lí luận dạy hoc gọi là mới. Mỗi nhóm nguyên tắc đó có một ý nghĩa,
bản chất, và nếu suy nghĩ sâu sắc về từng hệ thống những nguyên tắc đó thì sẽ thấy
chúng đều nhấn mạnh từ những khía cạnh khác nhau sự cần thiết phát huy tính tích
cực của học sinh trong quá trình học tập. Vì thế không thể coi những nguyên tắc
dạy học cổ điển hình như đã lỗi thời cũng như không nên tưởng rằng chỉ dựa vào
những nguyên tắc lí luận dạy học "mới" mới có thể giải quyết được mọi vấn đề và
mọi khó khăn của dạy học". Vận dụng các phương pháp dạy học thế nào, phát huy
được tính tích cực của học sinh hay không và phát huy đến mức độ nào là tuỳ thuộc
rất lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, vào khả năng tổ chức học sinh hoạt
động học tập của giáo viên.
5
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
II. Yêu cầu vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học bám sát chuẩn kiến thức,
kĩ năng.
- Để dạy học đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng, giáo viên cần bám sát vào tài
Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời,
qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Đây là phương pháp dạy học phổ
biến thông dụng nhất. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt
các loại phương pháp vấn đáp là vấn đáp tái hiện, vấn đáp tìm tòi, vấn đáp giải
thích minh hoạ.
- Vấn đáp tái hiện: Yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết hoặc tái hiện
nội dung miêu tả, nội dung sự kiện...trong bài học. Vấn đáp tái hiện không được
xem là phương pháp có giá trị sư phạm cao bởi nó chỉ hướng người học tới tư duy
bậc thấp. Tuy nhiên riêng với phân môn tiếng Việt lớp 6 thì phương pháp này lại có
thể được sử dụng thường xuyên vì hầu hết các kiến thức Tiếng việt trong chương
trình lớp 6 là các em đã được tìm hiểu ở tiểu học. Vì vậy để học sinh nhớ lại kiến
thức buộc giáo viên phải sử dụng phương pháp này. Phương pháp này đắc dụng khi
giúp học sinh tái hiện tri thức tạo cơ sở cho các hoạt động tư duy cấp cao sẽ diễn ra
tiếp theo.
Ví dụ: Khi dạy bài " Tính từ và cụm tính từ"- Ngữ văn 6, câu hỏi tái hiện đầu
tiên giáo viên có thể sử dụng là: Dựa vào kiến thức đã học về tính từ ở tiểu học em
hãy cho biết tính từ là gì?
Để có câu trả lời buộc học sinh phải nhớ lại kiến thức về tính từ đã được học ở lớp
dưới. Sự tái hiện ở phần này sẽ giúp học sinh có những kiến thức đầu tiên về tính
từ. Qua đó, học sinh có thể tiếp tục trả lời câu hỏi tiếp theo của giáo viên ở mức độ
cao hơn, đó là câu hỏi nhận biết về tính từ.
- Vấn đáp giải thích- minh hoạ: Giáo viên đưa ra những câu hỏi hướng dẫn
học sinh giải thích chứng minh làm sáng rõ nội dung nào đó.
7
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
Vẫn tiếp tục với ví dụ trên, giáo viên nêu câu hỏi yêu cầu học sinh giải
Trong phương pháp vấn đáp giáo viên (GV) chú ý kĩ thuật đặt các loại câu hỏi theo
các cấp độ nhận thức:
+ Câu hỏi biết
+ Câu hỏi hiểu
+ Câu hỏi phân tích
+ Câu hỏi đánh giá
+ Câu hỏi áp dụng
+ Câu hỏi sáng tạo
2. Phương pháp trò chơi
Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn
đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một
trò chơi nào đó.
Quy trình thực hiện:
- GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS.
- Chơi thử ( nếu cần thiết).
- HS tiến hành chơi.
- Đánh giá sau trò chơi.
- Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi.
Ví dụ: Khi dạy bài Câu ghép – Ngữ văn 8, GV có thể tổ chức cho HS chơi
trò chơi “Thi đặt câu ghép có sử dụng quan hệ từ”.
Chuẩn bị: GV chuẩn bị 1 bảng phụ ghi các cặp quan hệ từ dùng để đặt câu:
a. vì.....nên
b. nếu ....thì
9
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
c. tuy....nhưng
Khi sử dụng phương pháp dạy học nhóm cần chú ý các kĩ thuật:
*. Kĩ thuật chia nhóm
Có nhiều cách chia nhóm khác nhau:
- Theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong
năm…
- Theo biểu tượng
- Theo hình ghép
- Theo sở thích
- Theo tháng sinh
- Theo trình độ
- Theo giới tính
- Ngẫu nhiên
....
*. Kĩ thuật giao nhiệm vụ
Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
- Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
- Nhiệm vụ là gì?
- Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
- Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
- Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
11
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
- Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
- Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
Nhiệm vụ phải phù hợp với:
+ Mục tiêu hoạt động
- HS được lựa chọn góc theo sở thích
- HS được học luân phiên tại các góc theo thời gian quy định (ví dụ 10’ - 15’
tại mỗi góc) để đảm bảo học sâu
Bước 5: Tổ chức trao đổi/chia sẻ (thực hiện linh hoạt)
Trong giờ tiếng Việt giáo viên cũng có thể vận dụng kĩ thuật học theo góc ở
một số bài về từ loại hoặc các phép tu từ. Giáo viên có thể cho các em lựa chọn góc
học theo sở thích.
Ví dụ: Hoạt động tìm hiểu về Cụm danh từ – Ngữ văn 6, giáo viên tổ chức ba góc:
góc quan sát, góc phân tích và góc trải nghiệm.
Góc quan sát: Giáo viên cho HS xem một số bức tranh, hình ảnh và có cụm
danh từ đi kèm để rút ra đặc điểm của cụm danh từ.
Góc trải nghiệm: Trên cơ sở hiểu biết về cụm danh từ, giáo viên cho học rút
ra khái niệm về cụm danh từ.
Góc phân tích: Cho học sinh lấy ví dụ về cụm danh từ rồi phân tích đặc điểm
cấu tạo.
Để hoạt động học theo góc có kết quả, trên cơ sở bài học đã thiết kế, giáo viên bố
trí không gian lớp học theo số góc phù hợp. Tốt nhất những giờ học sử dụng kĩ
thuật học theo góc giáo viên có thể tổ chức cho các em học ở phòng nghe nhìn.
13
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
Phòng học này bàn ghế dược kê sẵn theo số góc quy định. Mỗi góc có đủ tài liệu đồ
dùng, phương tiện học tập phù hợp với nhiệm vụ học của góc đó.
Trước khi HS chọn góc, giáo viên giới thiệu bài học, phương pháp học theo
góc, nhiệm vụ tại mỗi góc, thời gian tối đa để thực hiện nhiệm vụ tại các góc và
cho phép học sinh chọn góc xuất phát. HS lắng nghe, tìm hiểu, quyết định chọn góc
phải lựa chọn hoạt động cho phù hợp.
Kĩ thuật học theo góc phù hợp với hoạt động tìm hiểu kiến thức mới trong
bài học. Giáo viên không nên sử dụng kĩ thuật này trong các tiết ôn tập, hệ thống
hoá kiến thức.
5. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”.
- Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt
động cá nhân và nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường
tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS, phát triển mô hình có sự tương tác giữa
các HS.
- Tác dụng đối với HS: HS được học cách tiếp cận với nhiều giải pháp và
chiến lược khác nhau. Rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề; HS
đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như hợp tác; sự phối hợp làm việc cá nhân
và làm việc nhóm tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hoá. Nâng cao mối
quan hệ giữa HS, tăng cường sự hợp tác giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và
tôn trọng lẫn nhau; nâng cao hiệu quả học tập.
- Cách tiến hành: Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ
giấy A0. Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính và các phần xung
quanh. Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm. Mỗi người ngồi
vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh.
- Thực hiện kĩ thuật "khăn phủ bàn" qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn HS hoạt động độc lập: Các thành viên trong nhóm ngồi vào vị
trí hoạt động tư duy tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,...), mỗi cá nhân làm việc
15
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi theo cách nghĩ,
cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của mình được quy định
bàn, có thể phát cho HS những mảnh giấy nhỏ để HS ghi ý kiến cá nhân, sau đó
đính vào phần xung quanh khăn phủ bàn.
Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, ghi những ý kiến thống nhất vào
giữa khăn phủ bàn, những ý kiến trùng nhau có thể đính chồng lên nhau. Những ý
kiến không thống nhất, cá nhân có quyền bảo lưu và được giữ lại ở phần xung
quanh khăn phủ bàn.
Kĩ thuật khăn phủ bàn là một kĩ thuật dạy học đơn giản, dễ thực hiện, có thể
tổ chức trong tất cả các bài học giống như học theo nhóm. Tuy nhiên kĩ thuật khăn
phủ bàn khắc phục được những hạn chế của học theo nhóm. Trong học theo nhóm,
nếu tổ chức không tốt đôi khi chỉ có thành viên tích cực làm việc, các thành viên
khác thường hay ỷ lại trông chờ hoặc không hoạt động. Do đó mất nhiều thời gian
và hiệu quả học tập không cao.
Trong kĩ thuật khăn phủ bàn đòi hỏi tất cả các thành viên làm việc cá nhân,
suy nghĩ, viết ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm. Như vậy có sự kết hợp
hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. Các cuộc thảo luận thường có sự tham gia
của tất cả các thành viên, các thành viên có cơ hội chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm, tự
đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực. Nhờ vậy hiệu quả
học tập bảo đảm và không mất thời gian cũng như giữ được trật tự trong lớp học.
Kĩ thuật khăn phủ bàn là một trong những kĩ thuật thông dụng, tích cực.
Trong giờ đọc văn giáo viên có thể sử dụng kĩ thuật này ở phần luyện tập, củng cố
và khắc sâu kiến thức của bài học. Phần luyện tập cuối giờ giáo viên đưa ra một số
bài tập, câu hỏi mở nhằm kiểm tra sự thông hiểu và khả năng vận dụng kiến thức
17
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
bài học trong thực tế của HS. Từ bài tập khăn phủ bàn giáo viên có thể kiểm tra
được việc lĩnh hội kiến thức của từng HS, đánh giá mức độ dưới chuẩn, đạt chuẩn
W
L
Những điều đã biết Những điều muốn biết
Những điều đã học được
sau bài học
- ....
- ....
- ....
- ....
- ....
- ....
- ...
- ...
- ...
HS điền vào cột K những gì đã biết liên quan đến nội dung bài học hoặc chủ đề,
viết vào cột W những gì các em muốn biết về nội dung bài học. Sau khi kết thúc
bài học, HS điền vào cột L của phiếu những gì vừa học được.
Trong giờ tiếng Việt giáo viên có thể vận dụng kĩ thuật này để kiểm tra việc
chuẩn bị bài của HS, để giới thiệu bài ở đầu tiết học và để chốt kiến thức ở cuối bài
học dựa trên chủ thể HS. Sơ đồ KWL có thể sử dụng trong tất cả các bài học với
các mức độ và nội dung khác nhau.
Sử dụng sơ đồ này sẽ phát huy được tác dụng là giúp cho HS xác định nhiệm
vụ, động cơ, ý thức học tập tự giác, biết đánh giá nhìn lại quá trình học tập của
mình và tự điều chỉnh cách học. Ví dụ sau bài học, HS thấy khó khăn khi điền kết
quả thu được vào cột L có nghĩa là HS chưa hiểu bài. Việc chưa hiểu bài có thể do
HS chưa tập trung chú ý hoặc chưa tham gia tích cực vào hoạt động học tập. Điều
đó sẽ giúp cho HS tự điều chỉnh hoặc cần nghiên cứu lại tài liệu, cần đề nghị giáo
viên hỗ trợ để bổ sung những kiến thức còn thiếu, chưa hiểu hoặc chưa rõ.
* Một số lưu ý khi tổ chức dạy học sử dụng kĩ thuật KWL: Giáo viên có
thể vận dụng sơ đồ với cá nhân HS hay với nhóm HS. Nếu sử dụng với nhóm HS
thì trước khi HS điền thông tin vào cột K, yêu cầu các em trao đổi thống nhất ý
kiến trong nhóm. Khi mới áp dụng kĩ thuật này, giáo viên có thể dùng những câu
hỏi gợi ý để HS có thể viết những điều đã biết, muốn biết và đã được học vào các
cột tương ứng. Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động, sau khi HS điền những điều đã
được học, giáo viên nên tổ chức cho HS nhận xét chéo kết quả của nhau, cá nhân
hoặc nhóm. Sau đó giáo viên kết luận về kết quả học tập của HS. Đồng thời qua đó
giáo viên cũng đánh giá được kết quả giờ dạy của mình để điều chỉnh cách dạy.
Như vậy kiến thức được hình thành ở HS chắc chắn, bền vững.
Chương 4: Kiểm chứng các giải pháp đã triển khai của sáng kiến
20
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
Kết quả thực nghiệm việc vận dụng một số phương pháp kĩ thuật dạy học tích
cực vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
Trường từ vựng
0.0
23.7
55.2
21.1
8.1
37,8
46.0
21.6
27.0
46.0
5.4
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của sáng kiến kinh nghiệm
- Những giải pháp mang tính khả thi của phương pháp dạy học tích cực vào giờ
dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn:
1. Phân tích ngữ liệu, hình thành khái niệm một cách tích cực, sáng tạo thông qua
phương pháp vấn đáp.
2. Phương pháp trò chơi
21
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
3. Phương pháp dạy học nhóm.
4. Kĩ thuật học theo góc
5. Kĩ thuật “khăn phủ bàn”.
6. Sơ đồ KWL
2. Hiệu quả thiết thực của sáng kiến kinh nghiệm nếu được triển khai, áp
dụng.
Quá trình thực hiện kinh nghiệm của tôi qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy
rằng với sáu phương pháp như vừa nêu trên đã mang lại hiểu quả đáng kể chí ít nó
giúp học sinh chủ động, tích cực trong các giờ học văn, không ngại học và làm văn.
học và người dạy chưa khai thác hết. Chính vì thế mà không có một phương pháp
giảng dạy nào được cho là lý tưởng. Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm của nó
do vậy người thầy nên xây dựng cho mình một phương pháp riêng phù hợp với
mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành phần nhóm lớp học,
các nguồn lực, công cụ dạy-học sẵn có và cuối cùng là phù hợp với sở thích của
mình.
Vì điều kiện thời gian tôi mới dừng lại ở đề tài "Vận dụng một số phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào giờ dạy tiếng Việt môn Ngữ văn ". Trong
kinh nghiệm tôi cũng mạnh dạn vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học
góp phần phát huy tính tích cực của HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học Ngữ
văn nói chung và dạy Tiếng việt nói riêng, giúp cho những giờ dạy tiếng Việt trở
thành sự quan tâm, hứng thú của mỗi HS. Tuy nhiên đây là năm đầu tiên thực hiện
dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, vì vậy việc vận dụng một số phương pháp,
kĩ thuật mới là bước đầu nên không tránh khỏi những hạn chế, bất cập. Bởi vậy tôi
rất mong được sự đóng góp của các bạn đồng nghiệp để kinh nghiệm này thêm
hoàn chỉnh và góp phần nâng cao chất lượng Ngữ văn trong nhà trường.
23
Sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
vào giờ dạy Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
IV. Phụ lục
- Tài liệu tham khảo:
Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Ngữ Văn
24