1
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
THPT
Trung học phổ thông
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
DHDA
Dạy học dự án
PP
Phương pháp
KT
Kĩ thuật
CNTT
Công nghệ thông tin
Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp
Các nhóm đang tích cực làm việc
Giáo viên nhận xét hoạt động nhóm và chốt kiến thức
7
Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp
Bảng đối chiếu kết quả giảng dạy với cùng 1 lớp học trước và sau khi sử
dụng PP, KT dạy học tích cực với 2 bài học khác nhau
Lớp
12A1
12A4
11A5
11A7
10A3
10A8
Sĩ số
43
40
41
42
46
45
Trước khi áp dụng
Giỏi
Khá
Trb
10A9
44
40
44
42
45
Dạy học truyền thống
Giỏi
Khá
Trb
7 (15,9%) 19 (43,2%) 18(40,9%)
6 (15,0%) 20 (50,0%) 14(35,0%)
4 (9,0%)
21 (47,7%) 19(43,3%)
3 (7,1%)
17 (40,5%) 22(52,4%)
1 (2,2%)
18 (40,0%) 26(57,8%)
10A8
45
1 (2,2%)
Lớp
Sĩ số
3
4
5
6
7
8
9
1. Đặt vấn đề:
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
1.2. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
2. Nội dung sáng kiến:
2.1. Thực trạng tình hình vấn đề
2.2. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
3. Hiệu quả mang lại:
4. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
5. Tài liệu tham khảo
6. Phụ lục
7
9
10
17
19
41
43
44
45
Gần đây nhất việc đổi mới nền giáo dục, được thể hiện ở Nghị quyết 29NQ/TW năm 2013 đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì mới. Giáo dục đã chuyển từ việc
người thầy là trung tâm sang người học là trung tâm, chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan
tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được
cái gì qua việc học…. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết này thì cần phải làm
nhiều việc như thay đổi sách giáo khoa, chuẩn bị các đồ dùng dạy học…và 1
trong những việc quan trọng là sử dụng những phương pháp dạy học tích cực
trong các giờ dạy để thay đổi phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một
10
chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình
thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo
dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến
thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra,
đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất
lượng của hoạt động dạy học và giáo dục.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước rất quyết tâm để tiến hành đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện
nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt
được những thành công bước đầu. Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để
chúng ta áp dụng rộng rãi và phổ biến các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực vào các giờ dạy nhằm tạo được hứng thú và hiệu quả trong giảng dạy.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực và qua việc dự giờ các đồng nghiệp trong trường, trong huyện tơi thấy cịn
nhiều giáo viên chưa hiểu rõ ưu nhược điểm và cách sử dụng của từng phương
pháp, kĩ thuật một cách rõ ràng, nhuần nhuyễn và hiệu quả. Việc sử dụng còn
chưa được linh hoạt, lúng túng trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập của
sử dụng và những lưu ý khi sử dụng của từng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực; có những ví dụ cụ thể cho mỗi đơn vị kiến thức và cho toàn bộ bài giảng để
sử dụng sao cho hiệu quả.
Sáng kiến còn có những bài soạn minh họa, trong đó có ghi rõ cách thức
sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực gồm có cả thời lượng dạy, cách
thức tổ chức và áp dụng, cách xử lý những tình huống sư phạm có thể xảy ra và
cách giải quyết. Có kết quả đối chiếu giữa những khối lớp sử dụng phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và sử dụng phương pháp dạy học truyền thống để
đưa ra những kết luận chính xác nhất. Có những khái qt lại cho mỗi phương
pháp, kĩ thuật dạy học này phù hợp với đơn vị kiến thức nào (Khởi động, tìm
kiến thức mới, củng cố hay mở rộng), loại bài học nào (bài mới, bài thực hành
hay bài ơn tập). Có những lưu ý trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực cho giáo viên Địa lí nói riêng và các giáo viên khác nói chung
thực hiện giảng dạy một cách hiệu quả.
2. Nội dung sáng kiến:
12
2.1. Thực trạng tình hình vấn đề
Mặc dù ngành giáo dục đang tiến hành đổi mới nhưng phần đông giáo
viên vẫn ngại thay đổi, vẫn chưa tìm hiểu sâu về các phương pháp, kĩ thuật dạy
học tích cực để sử dụng, nên việc sử dụng vẫn chưa đem lại hiệu quả cao, mặc
dù các giáo viên đều biết dạy học tích cực tốt hơn dạy học truyền thống.
Bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học tích cực
DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG
DẠY HỌC TÍCH CỰC
Giáo viên là trung tâm
Định hướng học sinh/kiến tạo
Phương pháp
được lập kế hoạch và xác định trước.
Quá trình dạy có thể lặp lại
Đánh giá
Kết quả học tập được đo và dự báo với Quá trình học là đối tượng đánh giá
nhiều phương pháp khác nhau. Dạy nhiều hơn là kết quả học tập. Học sinh
học và đánh giá là hai thành phần khác cần được tham gia vào quá trình đánh
13
nhau của quá trình dạy học
giá
Chú trọng khả năng tái hiện chính xác Chú trọng việc ứng dụng tri thức trong
tri thức
các tình huống hành động
Hiện nay việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chưa
được giáo viên sử dụng rộng rãi ở hầu hết các tiết học mà cơ bản mới dừng lại ở
các giờ thao giảng hay dự thi giáo viên giỏi, tất cả giáo viên đều nỗ lực trong
việc đổi mới phương pháp dạy học, kết quả là có người thành cơng và có người
chưa thành cơng như mong muốn. Trên thực tế, khảo sát và điều tra xã hội học
cho thấy tỷ lệ giáo viên thực hiện được yêu cầu này ở các trường chưa phải là
nhiều. Vậy thực chất, họ đang gặp những khó khăn gì?
+ Khó khăn trước tiên là tâm lý ngại thay đổi các phương pháp truyền
thống đã có từ trước đối với đa số giáo viên.
+ Tâm lý bày vẽ ra thì mất thời gian, cơng sức trong khi dạy như cũ vẫn
không sao đối với 1 số lượng lớn giáo viên.
+ Chỉ có 45 phút mà làm hết phương pháp này đến phương pháp kia thì
sao đủ thời gian cộng thêm lại phải đầu tư tài liệu, phương tiện như tranh ảnh, sơ
đồ, bút dạ, giấy A0…gây tốn kém.
+ Cơ sở vật chất trường lớp chưa cho phép, sĩ số lớp đơng sẽ khó tổ chức
vào những ơ tương ứng.
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT)
dạy học tích cực
PP gợi mở, vấn đáp
PP nêu và giải quyết vấn đề
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản
đồ, Atlat
PP dạy học dự án
PP dạy học nhóm
PP dạy học đóng vai
PP dạy học bằng bản đồ tư duy
PP dạy học trực quan
…………………………………………………………………………………….
Để sử dụng được các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy,
thầy/cơ cần phải làm gì?
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Sau khi tiến hành lấy phiếu điều tra từ 74 thầy cô giáo trường THPT Lạng Giang
số 3, tôi thu được kết quả như sau:
STT
Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT)
dạy học tích cực
1
PP gợi mở, vấn đáp
2
PP nêu và giải quyết vấn đề
3
4
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ,
bản đồ, Atlat
PP dạy học dự án
5
PP dạy học nhóm
(21,6%)
Mức độ
Thỉnh
thoảng
34
(45,9%)
58
(78,4%)
17
(23,0%)
2 (2,7%)
70
(94,6%)
3
(4,1%)
3
(4,1%)
20 (27,0%)
14
(18,9%)
10
(13,5%)
8 (10,8%)
Chưa bao
giờ
57
(77,0%)
11 (14,9%)
14
KT dạy học KWL
15
KT tổ chức trò chơi
16
KT động não
17
KT ổ bi
10
(13,5%)
15
(20,3%)
3
(4,1%)
1
(1,4%)
18
(97,3%)
68
(91,9%)
51
(68,9%)
Thầy/cơ cịn sử dụng PP, KT dạy học tích cực nào khác: Kết quả là 74/74 thầy
cô không sử dụng phương pháp, kĩ thuật khác.
Thầy/cơ có thấy sự cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực vào bài học khơng? Vì sao?
Trả lời:
- Có 20/74 giáo viên thấy cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học
tích cực vào bài học.
- Có 54/74 giáo viên thấy khơng cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực vào bài học.
=> Điều đó cho thấy giáo viên thực sự chưa quyết tâm đổi mới mình, đổi mới
ngành và đa số vẫn giữ phương pháp dạy học truyền thống là truyền thụ kiến
thức cho người học.
Mẫu phiếu 02: Điều tra về sự hứng thú, hiệu quả bài học của học sinh khi
tham gia những giờ học có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
Họ và tên học sinh: ……………………………………… Lớp:………………...
Môn học:………………… Trường:……………………………………………...
Các em hãy đánh dấu X vào những ô tương ứng thể hiện mức độ hứng thú của
mình đối với những giờ học sau:
STT
Giờ học có sử dụng
Mức độ
Rất hứng Hứng
PP gợi mở, vấn đáp
PP nêu và giải quyết vấn đề
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản đồ,
Atlat
PP dạy học dự án
PP dạy học nhóm
PP dạy học đóng vai
PP dạy học bằng bản đồ tư duy
PP dạy học trực quan
KT “khăn trải bàn”
KT mảnh ghép
KT hỏi chuyên gia
KT 3 lần 3
KT dạy học KWL
KT tổ chức trò chơi
KT động não
KT tia chớp
Các em đánh giá như thế nào về mức độ hiểu bài của mình sau các giờ dạy có sử
dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực ở trên (Rất hiểu bài, hiểu bài,
còn mơ hồ):………………………………………………………………………..
Sau khi tiến hành lấy phiếu điều tra đối với 300/1400 em học sinh ở 3 khối lớp,
tơi thu được kết quả như sau:
STT
1
2
3
4
5
6
KT tia chớp
Rất hứng thú
215 (71,7%)
156
(52%)
101 (33,7%)
123
(41%)
Mức độ
Hứng thú
56 (18,7%)
110 (36,7%)
120
(40%)
92 (30,7%)
Không hứng thú
29
(9,6%)
34
(11,3%)
79
(26,3%)
85
(28,3%)
198
221
(1,6%)
61
(20,4%)
20
(6,6%)
14
(4,6%)
25
(8,3%)
137
(45,6%)
96
(32%)
39
(13%)
4
(1,3%)
96
(42,4%)
70
(23,3%)
(66%)
(73,7%)
(50,3%)
(59,7%)
(62,7%)
(47,7%)
(21,7%)
(33,7%)
=> Điều đó cho thấy đa số các em đều rất hứng thú và hứng thú với các bài học
có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, thích được hoạt động,
được làm việc và đa số các em đều rất hiểu bài do trong quá trình học tập, các
em được làm việc, được tìm ra kiến thức, được trao đổi thảo luận với nhau nên
ghi nhớ được nhanh hơn, nhiều hơn.
2.2. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Để lựa chọn được chủ đề của sáng kiến kinh nghiệm này, trước tiên tôi
phải xác định những nội dung, cơng việc chính của Ngành trong giai đoạn hiện
nay để sáng kiến có tính mới và tính sáng tạo. Việc này là quan trọng vì khi lựa
chọn được chủ đề của sáng kiến hợp lý sẽ mang tính thời sự và được nhiều thầy
cơ giáo cùng quan tâm đóng góp ý kiến cũng như chia sẻ giúp sáng kiến có sức
sống lâu dài hơn.
Khi lựa chọn được nội dung của sáng kiến tôi đi tiến hành điều tra khảo
sát từ giáo viên bằng mẫu phiếu 01 và học sinh bằng mẫu phiếu 02 để thấy được
những khó khăn, vướng mắc, mâu thuẫn, bất hợp lý, bất cập... trong quá trình sử
dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. Việc này rất quan trọng vì từ
kết quả thu được và từ thực tiễn giảng dạy ở trường THPT Lạng Giang số 3 sẽ
đưa ra những thay đổi, những cải tiến trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực sao cho hiệu quả hơn vào thực tế nhà trường. Điều đó
cũng sẽ giúp cho sáng kiến kinh nghiệm của tơi có ý nghĩa, có tác dụng và có
giá trị sử dụng cao hơn trong thực tiễn, sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với
các thầy cơ giáo muốn làm mới mình, muốn đổi mới phương pháp giảng dạy
theo hướng tích cực. Việc điều tra khảo sát này có ý nghĩa rất quan trọng, nó
giúp tơi có cái nhìn tổng quan nhất và thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực trong nhà trường, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của
19
người dạy và người học, tìm ra những vướng mắc của cả người dạy và người
20
đến sự thành công hay thất bại của sáng kiến vì nó là q trình thử nghiệm thực
tế để đưa ra những kết luận mang tính khái quát cao, làm cơ sở vững chắc để áp
dụng sáng kiến vào thực tiễn và phổ biến được rộng rãi.
Ngoài ra trong suốt q trình làm sáng kiến kinh nghiệm này tơi cịn sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích tổng
hợp lý thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp toán
học, phương pháp hỏi chuyên gia… Những phương pháp này kết hợp với những
phương pháp tơi đã trình bày ở trên đã hỗ trợ cho nhau và cho tôi làm bản sáng
kiến kinh nghiệm một cách hoàn thiện nhất.
2.3. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
2.3.1. Các phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực, hay phương pháp giáo dục chủ động,
phương pháp sư phạm hiện đại … là những cách gọi để chỉ những phương pháp,
cách thức đề cao chủ thể nhận thức, chủ yếu phát huy tính tự giác, nhiệt tình chủ
động của người học, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, người học
được tham gia làm việc, được sáng tạo … giải quyết các vấn đề phù hợp với khả
năng hiểu biết của mình, đề xuất ý kiến, tự nguyện trình bày hay tham gia tranh
luận trước tập thể và người dạy. Thực chất phương pháp dạy học tích cực là
hướng tới khả năng chủ động, sáng tạo của người học chứ khơng phải hướng tới
việc phát huy tính tích cực của người dạy. Người thầy đóng vai trị là người
hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, độc lập suy nghĩ thơng
qua việc thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập thực tế theo mục tiêu, nội
dung của bài học, người thầy là người tổng hợp hoạt động, ý kiến của người học
để xây dựng nội dung bài học.
a. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
* Đặc trưng của phương pháp
Là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt
hiện tượng, động cơ sâu xa của một hành vi. Ví dụ: “Vì sao Đồng bằng sơng
Hồng có năng suất lúa lớn nhất nước ta?”
* Tiến trình sử dụng phương pháp
Việc tổ chức cho học sinh nhận thức và giải quyết vấn đề bao gồm các bước
cơ bản sau đây:
Bước 1. Đặt vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề
22
Bước 2. Giải quyết vấn đề
+ Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra
+ Thu thập và xử lí thơng tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuất
Bước 3. Kết luận
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết
+ Phát biểu kết luận
+ Đề xuất vấn đề mới
Phương pháp này được dùng cho tất cả các bài học, từ dạy bài mới cho
đến ôn tập, củng cố và được sử dụng rất linh hoạt từ nêu và giải quyết các vấn
đề lớn đến nêu và giải quyết các vấn đề nhỏ hơn trong đó.
b. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác bản đồ, lược đồ, Atlat Địa lí
Bản đồ là một phương tiện dạy học đặc trưng của mơn Địa lí. Bản đồ với
ngơn ngữ đặc biệt của mình được coi như một hệ thống truyền đạt thơng tin
bằng cách mã hố những thơng tin cần truyền tải trong các hệ thống kí hiệu, màu
sắc, chữ viết, con số. Với dạng mã hóa thơng tin này, bản đồ có rất nhiều khả
năng trong dạy học và được coi là cuốn sách giáo khoa thứ 2, được dùng để dạy
và để học, để trả lời hầu hết các câu hỏi Địa lí.
Kĩ năng khai thác bản đồ nói chung và Atlat Địa lí Việt Nam nói riêng là
kĩ năng cơ bản của mơn Địa lí. Nếu khơng nắm vững kĩ năng này thì khó có thể
hiểu và giải thích được các sự vật, hiện tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự
* Công việc của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong tiến trình thực
hiện một dự án
Giáo viên
Học sinh
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
(Trước khi thực hiện dự án. Thời gian chuẩn bị có thể từ 1 - 2 tuần)
- Xác định đối tượng tiến hành dự án
- Học sinh tìm hiểu cách thức và phương pháp
+ Số lượng, năng lực HS
học theo dự án.
+ Điều kiện CSVC tại trường
+ Biết được DHDA là gì?
+ Nội dung bài học sẽ tiến hành DA
+ Em sẽ làm những cơng việc gì khi học
- Xác định mục tiêu học tập
tập theo Phương pháp này?
+ DA cần đạt chuẩn nội dung nào?
- Tự xác định nhu cầu, khả năng và sở thích
đến nội dung bài học.
+ Câu hỏi bài học
- Xây dựng nhóm học tập
+ Câu hỏi nội dung
+ Cùng sở thích, cùng mối quan tâm, có
- Xây dựng lịch trình đánh giá
thể hỗ trợ nhau…
+ Đánh giá thành phần, xuyên suốt dự án
+ Đánh giá tổng thể cuối dự án
+ Phải có nhóm trưởng, người có khả
năng trình bày tốt, thư ký…
- Xây dựng kế hoạch triển khai dự án (thời
+ Tham khảo ý kiến và tiêu chí lập nhóm
gian, cơng việc của GV, HS, phối hợp với ai, của GV
những công cụ hỗ trợ,..)
+ Cung cấp thơng tin nhóm và thơng tin
đến vấn đề bài học sẽ làm dự án?
+ HS có những kỹ năng gì về làm việc
nhóm và CNTT?
- Đưa ra ý tưởng cho dự án
+ HS có ý tưởng gì cho dự án?
- Triển khai dự án đến học sinh
+ Giới thiệu dự án: kịch, bài trình chiếu,
- Tham gia vào các vai diễn nếu GV yêu cầu
để giới thiệu dự án
một đoạn phim… nhằm kích thích các em qua
một tình huống có vấn đề.
+ Phân vai và giao nhiệm vụ cho HS (HS
xung phong hoặc chỉ định dựa trên năng lực
- Nhận nhiệm vụ và hình thành ý tưởng cho
sản phẩm.
25
mỗi nhóm)
- Xây dựng kế hoạch làm sản phẩm, phân
- Ra các bài tập nhỏ nhằm hỗ trợ cho việc công nhiệm vụ cho từng thành viên trong
thực hiện dự án.
cho buổi báo cáo sản phẩm.
Giai đoạn 3: Đánh giá
(Tiết 2-3. Thời gian có thể linh động tùy vào số lượng sản phẩm của học sinh)
- Tổ chức báo cáo sản phẩm HS
- Từng nhóm trình bày SP (5-7’)
+ Điều hành thứ tự và thời gian báo cáo
của các nhóm
- Các nhóm cịn lại đặt câu hỏi và nêu ý kiến
góp ý cho SP. (3-5’)
+ Đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo
- Tổ chức đánh giá sản phẩm
+ Phát phiếu đánh giá, bảng kiểm mục
- Các nhóm cho điểm vào bảng kiểm mục và
bảng tiêu chí đánh giá.
cho HS
+ Đánh giá sản phẩm từng nhóm
- Làm bài kiểm tra
- Tổ chức kiểm tra kiến thức
+ Phát bài kiểm tra trắc nghiệm đã chuẩn
bị trước
+ Thu bài đúng thời gian quy định
- Khảo sát ý kiến HS
- Làm phiếu khảo sát ý kiến