VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH
CỰC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN- XÃ
HỘI LỚP 2+3
A. LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:
Tự nhiên và Xã hội là một môn học cung cấp cho học sinh những hiểu biết
cơ bản ban đầu về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội với mối quan hệ
trong đời sống thực tế của con người. Trong chương trình tiểu học cùng với các
môn học khác. Tự nhiên và Xã hội trang bị cho các em học sinh những kiến
thức cơ bản. của bậc học, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách toàn diện
của con người.
Từ thực tế giảng dạy môn Tự nhiên- xã hội ở lớp 2+ 3, đáp ứng yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học để tìm ra những biện pháp tối ưu nhất góp phần nâng
cao chất giảng dạy. Người giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp
dạy học sao cho học sinh là người chủ động nắm bắt kiến thức của môn học một
cách tích cực, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhu cẩu tự học, tự
phát hiện, tự phát hiện, tự giải quyết các tình huống có vấn đề đặt ra trong bài
học. Để đạt được mục tiêu đó, giáo viên cần vận dụng một số phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực.
Việc vận dụng các kỹ thuật dạy học trong môn Tự nhiên- xã hội không phải
là vấn đề đơn giản, nó phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố khách quan như cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học, trình độ học sinh... Với giáo viên thì các phương pháp, kỹ
thuật dạy học tích cực không phải là vấn đề quá mới mẻ nhưng cũng không phải
là ai cũng thực hiện được một cách dễ dàng bởi việc vận dụng vào thực tiễn
chưa thật thường xuyên, nhiều tiết còn mang tính hình thức... Qua việc dự giờ
cho thấy: việc ứng dụng các kỹ thuật dạy học còn khá khiêm tốn, một phần do
việc nắm bắt của giáo viên về kỹ thuật dạy học còn hạn chế, phần vì điều kiện
cơ sở vật chất, khả năng của học sinh...
Xuất phát từ thực tế đó, tổ 2+3 tiến hành nghiên cứu và thực hiện chuyên đề:
1. Thuận lợi:
- Với chương trình Tự nhiên và Xã hội, giáo viên được hướng dẫn cách xây
dựng thiết kế bài học theo hướng mới có phân chia từng hoạt động cụ thể, rõ
ràng, có chỉ dẫn các phương pháp theo từng chủ đề.
- Ngay từ đầu năm học, giáo viên được học tập, bồi dưỡng về các phương
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực của Phòng Giáo duc, nhà trường tổ chức.
- Nội dung môn học được xây dựng theo hướng tích hợp phù hợp với đặc
điểm của học sinh.
- Nhiều HS say mê học hỏi, tìm tòi để hiểu về thế giới Tự nhiên, Xã hội và
thế giới con người xung quanh các em .
2. Khó khăn:
- Giáo viên còn thiếu kinh nghiệm với cách tổ chức hoạt động tích cực cho
HS lĩnh hội kiến thức. Hoặc có tổ chức thì còn lúng túng, mất thời gian, qua loa.
- Một số giáo viên chưa coi trọng đồ dùng dạy học của bộ môn hoặc ngại
dùng, có chuẩn bị song thao tác còn vụng về, lúng túng. Do vậy khiến các em
không thích thú với môn học, hiệu quả giờ học không cao.
- Một số học sinh còn thiếu vốn hiểu biết về cuộc sống xã hội, các hiện
tượng tự nhiên. Các em diễn đạt còn kém, lúng túng khi tham gia các hoạt động
như thảo luận nhóm, trò chơi, trình bày bài làm.
- Học sinh chưa tích cực, chủ động trong việc học: mọi sự chuẩn bị cho tiết
học phụ thuộc vào thầy cô, cha mẹ.
Chính vì vậy mục tiêu phát huy tính tích cực của học sinh là vấn đề cần thiết .
mỗi GV cần vận dụng có hiệu quả các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực,
bắt nhịp với việc đổi mới chung của ngành Giáo dục và cũng chính là để học
sinh chủ động trong học tập có phương pháp tự chiếm lĩnh, tự tìm kiếm kiến
thức mới trở thành người năng động, sáng tạo.
3. Tìm hiểu nguyên nhân:
Việc dạy học Tự nhiên và Xã hội đôi khi diễn ra còn khô khan, cứng
về trình độ tư duy. Như vậy không những khắc sâu được kiến thức mà còn phát
triển tư duy cho học sinh.
1.3. Nguyên tắc đặt câu hỏi:
Đặt câu hỏi là một trong những kỹ năng hết sức hữu ích mà giáo viên cần phát
triển. Trong một giờ dạy, người giáo viên giỏi luôn biết sử dụng nhiều câu hỏi
với nhiều mục đích khác nhau. Ở một chừng mực nhất định, việc đặt câu hỏi là
quá đơn giản bởi đó là việc mà tất cả chúng ta làm hàng ngày. Tuy nhiên, người
đặt câu hỏi cũng phải có kỹ năng, kĩ thuật và hiểu biết thì mới có thể diễn đạt
câu hỏi một cách rõ ràng, chính xác, tung ra câu hỏi đúng thời điểm để đem lại
hiệu quả tối đa, và khai thác câu trả lời để đặt câu hỏi tiếp theo. Khi đặt câu hỏi
cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Câu hỏi phải liên kết logic với bài học.
- Ngôn ngữ trình bày câu hỏi rõ vấn đề hỏi (từ nghi vấn phù hợp).
- Phù hợp với trình độ tư duy của lứa tuổi HS, kích thích HS suy nghĩ (hạn chế
câu hỏi nhắc lại thuần túy).
- Đặt câu hỏi đúng lúc và đúng chỗ (đúng lúc HS đang suy nghĩ, đúng chỗ có
vấn đề trong bài học).
1.4. Vận dụng kỹ thuật đặt câu hỏi trong giảng dạy Tự nhiên- xã hội lớp 2+ 3:
- Dùng trong hầu hết các bài học trong cả ba chủ đề: Con người và sức
khoẻ; Xã hội ; Tự nhiên
- Dùng trong tất cả các phần của quá trình học (trải nghiệm để Khởi động,
Khám phá, Luyện tập, Vận dụng, Mở rộng)
1.5. Ví dụ minh họa:
Sau đây là một ví dụ cụ thể khi dạy bài "Rễ cây" - TN& XH lớp 3.
Mục tiêu chính của bài học là: Giúp học sinh nhận biết được rễ cây được chia
làm hai loại chính là rễ cọc và rễ chùm. Để giúp học sinh đạt được mục tiêu này
tôi đã sử dụng hệ thống các câu hỏi từ khâu đầu tiên của bài học tới khâu phát
hiện tình huống có vấn đề sau đó tổ chức cho học sinh tìm ra kiến thức mới.
5. Tại sao các em biết được điều đó?
trong mạng, quan sát được khi trồng
cây...
6. Em nào có thể lấy ví dụ chứng minh
điều mình nói là đúng?
7. Bây giờ các em quan sát cây rau rền,
cây hành và trao đổi trong nhóm để trả
lời câu hỏi:
- HS tự nêu VD
- HS thích thú quan sát 2 cây rau rền,
cây hành .
- HS mạnh dạn mô tả trong nhóm đặc
điểm rễ của từng cây.
a. Rễ của cây rau rền mọc thế nào? Rễ + Cây rau rền có một rễ chính to, dài
của cây đó là loại rễ gì?
mọc từ gốc, xung quanh rễ đó có nhiều
rễ phụ nhỏ đâm ra. Rễ cây mọc như vậy
gọi là rễ cọc.
b. Rễ của cây hành mọc như thế nào?
Rễ của cây đó là loại rễ gì?
+ Cây hành có nhiều rễ con mọc đều ra
từ gốc tạo thành từng chùm. Rễ cây
mọc như vậy gọi là rễ chùm.
đó các em chủ động nắm kiến thức mới một cách tự nhiên không gò bó.-> Đó
chính là sự thành công của tiết học. Vậy khi đặt câu hỏi chúng ta cần đảm bảo
các nguyên tắc sau:
Câu hỏi phải đảm bảo tính sư phạm: dễ hiểu, rõ ràng, ngắn gọn, vừa sức đối với
học sinh (câu 1, 2, 3). Câu 1,2 các em đều có thể trả lời được dựa vào kiến thức
cũ và vốn hiểu biết thực tế.
Câu hỏi phải đảm bảo tính lô gic, tính hệ thống đảm bảo theo dụng ý sư phạm
nhất quán, phải liên quan tới việc thực hiện mục tiêu bài học. Câu 4 là câu hỏi
nêu vấn đề. Câu hỏi trọng tâm xoáy vào mục tiêu bài học (hay còn gọi "Câu hỏi
có vấn đề") và được móc xích, tiếp nối từ câu 1, 2, 3.
Câu hỏi phải đảm bảo được tính đa dạng và tính phát triển liên tục theo mức độ
phát triển của kiến thức và trình độ học tập của học sinh. Câu 5,6 là các câu hỏi
kiểm tra vốn hiểu hiểu biết của các em. Câu 7 là câu hỏi dẫn dắt gợi mở cho HS
tìm ra kiến thức mới. Câu hỏi này định hướng cho các em tìm ra kiến thức và
giúp học sinh mạnh dạn tự tin khi cùng chia sẻ với bạn trong nhóm. Câu này
mang tính chất phát triển cho các câu hỏi trước đó. Câu hỏi 9 có tính chất nâng
cao, mở rộng kiến thức cho các em, phù hợp với mức 4 theo như đánh giá của
thông tư 22. Đây cũng chính là vấn đề cốt lõi để đảm bảo 4 mức độ kiến thức
trong một giờ học. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu kiểm tra đánh giá
theo thông tư 22 (4 mức độ kiến thức).
Đặt câu hỏi chính là trọng tâm của sự giao tiếp và trao đổi thông tin giữa giáo
viên và học sinh trong các giờ học. Để đạt được mục đích sư phạm của mình
trong các giờ học thì kĩ thuật đặt câu hỏi cần phải khéo léo, đảm bảo các nguyên
tắc như đã nêu. Có như vậy mới góp phần tạo nên thành công của một khâu học
tập hoặc một tiết học.
2. Kĩ thuật Chia nhóm và tổ chức hoạt động nhóm:
Đây là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong tiết Tự
nhiên và Xã hội . Bởi việc tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm là đặc biệt
Bước 1: Chia nhóm chuẩn bị thảo luận:
- Chia nhóm: Ở hoạt động này giáo viên chia theo cặp: 2 học sinh ngồi cạnh
nhau tạo thành 1 cặp (mỗi bàn 2 học sinh/1 cặp)
Chia nhóm theo cặp không cần thiết phải cử nhóm trưởng và thư ký nhóm.
-Nêu thời gian thảo luận: 7 phút
Bước 2:Giao nhiệm vụ rõ ràng cụ thể cho từng nhóm:
- Mỗi cặp thảo luận 2 vấn đề sau:
+ Quan sát 1, 2, 3, 4, 5 trong sách giáo khoa trang 10, 11 nói với nhau về nội
dung các hình đó (giáo viên treo tranh vẽ lên bảng để học sinh quan sát).
+ Thảo luận: "Nên và không nên làm gì để cơ và xương phát triển tốt?"
- Gọi 3 - 4 học sinh nhắc lại nhiệm vụ thảo luận ( 2 vấn đề trên)
- Hướng dẫn cách làm việc: Các em quan sát kỹ lần lượt từng hình: bạn số 1 nói
về nội dung hình 1, bạn số 2 nghe và bổ sung thêm. Bạn số 2 nói về nội dung
hình 2, bạn số 1 nghe và bổ sung … cứ như thế tiếp tục thay đổi người nói và
người nghe đến hình 5.
- Sau khi thảo luận xong vấn đề 1, chuyển sang thảo luận vấn đề 2: "Nên và
không nên làm gì để cơ và xương phát triển tốt?" Các em lần lượt đưa ra ý kiến
thảo luận một cách sôi nổi nhẹ nhàng nhưng không được cãi cọ gây mất trật tự.
Bước 3: Làm việc theo nhóm:
- Các cặp tự thảo luận, bạn số 1 nêu ý kiến, bạn số 2 nghe để cùng trao
đổi, bàn bạc phân tích …
- Trong quá trình các cặp thảo luận giáo viên theo dõi uốn nắn cho học
sinh. Có cặp chỉ nhận ra hình 2 là một bạn đang ngồi học. Giáo viên hướng dẫn
học sinh quan sát tư thế ngồi học của bạn đó như thế nào? … Hình 4 là một bạn
đang xách thùng, hình 5 là một bạn đang xách thùng nước. Giáo viên cần hướng
dẫn cho học sinh so sánh bạn ở hình 4 và bạn ở hình 5 để nhận ra bạn nào đang
Bước 2: Giao nhiệm vụ rõ ràng cụ thể cho từng nhóm :
- Nhóm 1:Quan sát biển trường, nêu tên trường ,địa chỉ nơi trường đóng.
- Nhóm 2: Quan sát các lớp học,nói tên vị trí của từng khối lớp.
- Nhóm 3: Ngoài các lớp học trường mình còn có các phòng nào khác,
quan sát các phòng đó .
- Nhóm 4: Quan sát nhận xét sân trường, vườn trường.
+ Gọi 4 học sinh trả lời: Con ở nhóm nào?
+ Gọi 4 học sinh khác trả lời: Nhóm con có nhiệm vụ gì?
- Hướng dẫn cách lam việc: các nhóm được phân công làm nhiệm vụ gì sẽ đi tới
khu vực đó, quan sát bên ngoài và bên trong các phòng (cho học sinh vào bên
trong các phòng thư viện, hoạt động đội, y tế …để quan sát). Rồi nhận xét xem
chúng nằm ở vị trí nào hoặc có đặc điểm gì, rộng hay hẹp ?...
Các nhóm ghi lại những điều đã quan sát được. Sau 10 phút quan sát, các
con về lớp báo cóa kết quả. Chú ý khi làm việc cần thảo luận sôi nổi nhưng đảm
bảo trật tự để khỏi làm ảnh hưởng đến các lớp học khác.
Bước 3: Làm việc theo nhóm.
Các nhóm đi đến vị trí được phân công làm việc. Giáo viên đi cùng một nhóm
và bao quát các nhóm khác. Trong quá trình làm việc nếu có học sinh hỏi :"
Thưa cô phòng thư viện có nhiều sách báo như vậy có cho chúng con mượn về
nhà đọc không ạ?". Giáo viên trả lời: "Sách báo để cho mọi học sinh đọc trong
giờ nghỉ tại thư viện, hoặc có thể mượn về nhà đọc nhưng phải tuân theo nội
quy của thư viện…".
Tùy từng câu hỏi của học sinh - giáo viên có thể trả lời ngay hoặc dùng câu hỏi
gợi ý để học sinh tự tìm câu trả lời.
Bước 4:Tổng kết thảo luận chung cả lớp.
- Giáo viên yêu cầu học sinh quay về lớp học để báo cáo kết quả :
- Gọi đại diện 4 nhóm lên trình bày kết quả :
và rất sợ hãi đi về phía mình. Em sẽ làm gì nếu gặp tình huống đó?
Giáo viên theo dõi học sinh đóng vai, hướng dẫn học sinh nhận xét đánh giá
cách ứng xử của bạn để đưa ra cách làm đúng (hỏi nhanh xem em đã uống gì,
kêu cứu và nhở người lớn hoặc gọi cấp cứu, đưa ngay em và vỏ chai đến cán bộ
y tế.
4. Kỹ thuật mảnh ghép:
41..Khái niệm:
Kỹ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa
cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm mục tiêu:
Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận
thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn
thành nhiệm vụ ở Vòng 2)
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của mỗi cá nhân
4.2 Cách tiến hành
Kỹ thuật mảnh ghép được tiến hành qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”: Lớp học được chia thành các nhóm, mỗi
nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu sâu 1 vấn đề. Sau 1 thời gian nhất định thảo
luận, mỗi thành viên trong nhóm đều nắm vững và trình bày được kết quả của
nhóm.
- Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”: Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1,
mỗi học sinh ở các nhóm chuyên sâu khác nhau lại tập hợp lại thành nhóm mới
là nhóm mảnh ghép. Và nhóm “mảnh ghép” nhận được một nhiệm vụ mới,
nhiệm vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu
từ các nhóm “chuyên sâu”.
Tuy nhiên trong quá trình vận dụng GV có thể tổ chức linh hoạt hoặc kết hợp
với kĩ thuật dạy học khác để mang lại hiệu quả cao
– Làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn;
– Học sinh thấy vui, nhanh nhẹn và cởi mở hơn;
– Học sinh tiếp thu tự giác và tích cực hơn;
– Học sinh được củng cố và hệ thống hoá kiến thức.
5.3. Các yêu cầu của trò chơi học tập:
– Các trò chơi phải thú vị để học sinh thích được tham gia;
– Phải thu hút được đa số (hay tất cả) học sinh tham gia;
– Các trò chơi phải đơn giản, dễ thực hiện;
– Các trò chơi không được tốn nhiều thời gian, sức lực để không ảnh hưởng đến
các hoạt động tiếp theo của tiết học hoặc ảnh hưởng đến các tiết học khác;
– Quan trọng hơn, trò chơi phải có mục đích học tập, không đơn thuần là trò
chơi giải trí.
5.4.Cách xây dựng một trò chơi học tập:
Giáo viên có thể lựa chọn bất kì một hoạt động nào để tổ chức thành trò chơi
bằng cách vận dụng các nhân tố cơ bản của trò chơi:
- Phải có tính thi đua giữa các cá nhân và các nhóm;
- Có quy định về sự “thưởng”, “phạt”
- Có cách chơi rõ ràng (bao gồm cả thời gian)
- Có cách tính điểm.
5.5.Cách tổ chức một trò chơi:
- Giới thiệu tên trò chơi, hướng dẫn cách chơi, thời gian chơi và phổ biến luật
chơi.
- Cho học sinh chơi thử (nếu cần).
- Chơi thật.
- Nhận xét kết quả của trò chơi (có thể “thưởng” hoặc “phạt” người thắng
hoặc người thua), nhận xét thái độ của người tham dự và rút kinh nghiệm.
Mục tiêu của phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” là tạo nên tính tò mò,
ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú
trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp dạy này còn chú ý nhiều đến việc
rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
6.2.Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Có thể tiến hành dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” qua các bước:
– Bước 1: Đưa tình huống xuất phát.
– Bước 2: Làm bộc lộ những hiểu biết ban đầu của học sinh.
– Bước 3: Đề xuất các câu hỏi hay giả thiết, phương án tìm tòi.
– Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi khám phá.
– Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
6.3.Ví dụ minh họa:
Bài 33: Mặt Trăng và các vì sao- Lớp 3:
* Bước 1: .Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề:
GV nêu: Các em biết gì về Mặt Trăng trong tự nhiên?
* Bước 2: Làm bộc lộ những hiểu biết ban đầu của học sinh.
- Yêu cầu học sinh hãy tưởng tượng về Mặt Trăng sau đó, vẽ, viết vào vở
thí nghiệm.
- Gọi HS giới thiệu với các bạn về bài làm của mình. Gắn các bài làm của cả
lớp để học sinh quan sát.
* Bước 3: Đề xuất các câu hỏi hay giả thiết, phương án tìm tòi.
- Qua phần trình bày của các bạn, lớp mình rất ham hiểu biết, biết tự tìm hiểu
về Mặt Trăng. Vậy các bạn có băn khoăn, muốn hỏi gì về Mặt Trăng không?
+ Mặt Trăng có hình gì?
+ Vì sao Mặt Trăng có hình lưỡi liềm?
+ Ánh sáng Mặt Trăng có giống ánh sáng Mặt Trời không?
+ Có phải Mặt Trăng có ánh sáng màu vàng không?
+ Mặt Trăng có chiếu sáng không?
- Yêu cầu học sinh cùng lắng nghe kết quả quan sát của các nhóm
- Giáo viên chốt kiến thức:
+ Mặt Trăng tròn giống như quả bóng lớn (đôi lúc có hình dạng khác)
+ Mặt Trăng ở rất xa Trái đất
+ Mặt Trăng không thể tự phát ra được ánh sáng (Mặt Trăng tỏa sáng do phản
chiếu ánh sáng của mặt trời)
+ Mặt Trăng không sưởi ấm chúng ta.
- So sánh lại biểu tượng ban đầu của các em về Mặt Trăng để khắc sâu kiến
thức.
- Mặt Trăng và Mặt Trời có điểm gì giống nhau?
Như vậy, qua quá trình học tập theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” các em đã
tự khám phá, ghi nhớ kiến thức về Mặt Trăng.
6.4. Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy học
- Liệt kê các bài học có thể áp dụng Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”.
- Giáo viên cần chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết quả như mong
muốn.
- Vận dụng tối đa những nguyên vật liệu sẵn có, dễ kiếm.
- Sử dụng công nghệ thông tin cho bài dạy áp dụng phương pháp bàn tay nặn
bột đúng lúc, đúng chỗ, hợp lí.
- Với một số thí nghiệm đơn giản, giáo viên có thể giao việc cho học sinh bằng
những phiếu giao việc, tự học sinh chuẩn bị các vật liệu cho nhóm của mình.
7. Một số lưu ý khi vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực:
- Giáo viên cần nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình môn Tự nhiên và
Xã hội cũng như các môn học khác.
- Các phương pháp dạy học rất đa dạng bao gồm cả phương pháp truyền
thống và phương pháp mới. Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm riêng nên giáo
viên cần sử dụng phối hợp các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung bài,
đặc điểm học sinh.