1
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
THPT
Trung học phổ thông
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
DHDA
Dạy học dự án
PP
Phương pháp
KT
Kĩ thuật
CNTT
Công nghệ thông tin
SGK
6
Học sinh trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp
Bảng đối chiếu kết quả giảng dạy với cùng 1 lớp học trước và sau khi sử
dụng PP, KT dạy học tích cực với 2 bài học khác nhau
Lớp
12A1
12A4
11A5
11A7
10A3
10A8
Sĩ số
43
40
41
42
46
45
Trước khi áp dụng
Giỏi
Khá
Trb
5 (11,6%) 28 (65,1%) 10(23,3%)
3 (7,5%)
22 (55,0%) 15(37,5%)
2 (4,9%)
23 (56,1%) 16(39,0%)
33 (78,6%) 19(21,4%)
44
42
45
45
Dạy học truyền thống
Giỏi
Khá
Trb
7 (15,9%) 19 (43,2%) 18(40,9%)
6 (15,0%) 20 (50,0%) 14(35,0%)
4 (9,0%)
21 (47,7%) 19(43,3%)
3 (7,1%)
17 (40,5%) 22(52,4%)
1 (2,2%)
18 (40,0%) 26(57,8%)
1 (2,2%)
20 (44,4%)
24(53,4%)
MỤC LỤC
Dạy học tích cực
Giỏi
Khá
Trb
18(40,9%) 23 (52,3%) 3(6,8%)
3
4
5
6
7
8
9
2.1. Thực trạng tình hình vấn đề
2.2. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
3. Hiệu quả mang lại:
4. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
5. Tài liệu tham khảo
6. Phụ lục
10
17
19
41
43
44
45
Tên sáng kiến: Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học
tích cực trong giảng dạy mơn Địa lí Trung học phổ thơng.
Tác giả: Phan Đức Tráng
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị: Trường THPT Lạng Giang số 3
cái gì qua việc học…. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết này thì cần phải làm
nhiều việc như thay đổi sách giáo khoa, chuẩn bị các đồ dùng dạy học…và 1
9
trong những việc quan trọng là sử dụng những phương pháp dạy học tích cực
trong các giờ dạy để thay đổi phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một
chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình
thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo
dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến
thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra,
đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất
lượng của hoạt động dạy học và giáo dục.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước rất quyết tâm để tiến hành đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện
nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt
được những thành công bước đầu. Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để
chúng ta áp dụng rộng rãi và phổ biến các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực vào các giờ dạy nhằm tạo được hứng thú và hiệu quả trong giảng dạy.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực và qua việc dự giờ các đồng nghiệp trong trường, trong huyện tơi thấy cịn
nhiều giáo viên chưa hiểu rõ ưu nhược điểm và cách sử dụng của từng phương
pháp, kĩ thuật một cách rõ ràng, nhuần nhuyễn và hiệu quả. Việc sử dụng còn
chưa được linh hoạt, lúng túng trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập của
học sinh. Chưa biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với mỗi
đơn vị kiến thức nên chưa đem lại hiệu quả cao nhất đối với đơn vị kiến thức đó
nếu sử dụng phương pháp và kĩ thuật khác.
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn viết sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng
hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy
mơn Địa lí THPT”. Sáng kiến này nói về ưu nhược điểm và cách thức sử dụng
pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và sử dụng phương pháp dạy học truyền thống để
đưa ra những kết luận chính xác nhất. Có những khái quát lại cho mỗi phương
pháp, kĩ thuật dạy học này phù hợp với đơn vị kiến thức nào (Khởi động, tìm
kiến thức mới, củng cố hay mở rộng), loại bài học nào (bài mới, bài thực hành
hay bài ơn tập). Có những lưu ý trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực cho giáo viên Địa lí nói riêng và các giáo viên khác nói chung
thực hiện giảng dạy một cách hiệu quả.
11
2. Nội dung sáng kiến:
2.1. Thực trạng tình hình vấn đề
Mặc dù ngành giáo dục đang tiến hành đổi mới nhưng phần đông giáo
viên vẫn ngại thay đổi, vẫn chưa tìm hiểu sâu về các phương pháp, kĩ thuật dạy
học tích cực để sử dụng, nên việc sử dụng vẫn chưa đem lại hiệu quả cao, mặc
dù các giáo viên đều biết dạy học tích cực tốt hơn dạy học truyền thống.
Bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học tích cực
DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG
DẠY HỌC TÍCH CỰC
Giáo viên là trung tâm
Định hướng học sinh/kiến tạo
Phương pháp
- Các phương pháp truyền thụ và thông Giờ học là sự phối hợp hành động của
báo chiếm ưu thế, trong đó bao gồm người dạy và người học và trong việc
định hướng mục đích học tập và kiểm lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá giờ
tra
12
tri thức từ người dạy sang người học, gợi ý, hỗ trợ và tư vấn cho người học.
cuối quá trình, người học lĩnh hội nội Tính lặp lại các phương pháp dạy học
dung học tập theo phương thức đã đã sử dụng bị hạn chế
được lập kế hoạch và xác định trước.
Q trình dạy có thể lặp lại
Đánh giá
Kết quả học tập được đo và dự báo với Quá trình học là đối tượng đánh giá
nhiều phương pháp khác nhau. Dạy nhiều hơn là kết quả học tập. Học sinh
học và đánh giá là hai thành phần khác cần được tham gia vào quá trình đánh
nhau của quá trình dạy học
giá
Chú trọng khả năng tái hiện chính xác Chú trọng việc ứng dụng tri thức trong
tri thức
các tình huống hành động
Hiện nay việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chưa
được giáo viên sử dụng rộng rãi ở hầu hết các tiết học mà cơ bản mới dừng lại ở
các giờ thao giảng hay dự thi giáo viên giỏi, tất cả giáo viên đều nỗ lực trong
việc đổi mới phương pháp dạy học, kết quả là có người thành cơng và có người
chưa thành cơng như mong muốn. Trên thực tế, khảo sát và điều tra xã hội học
cho thấy tỷ lệ giáo viên thực hiện được yêu cầu này ở các trường chưa phải là
nhiều. Vậy thực chất, họ đang gặp những khó khăn gì?
+ Khó khăn trước tiên là tâm lý ngại thay đổi các phương pháp truyền
thống đã có từ trước đối với đa số giáo viên.
+ Tâm lý bày vẽ ra thì mất thời gian, công sức trong khi dạy như cũ vẫn
Họ và tên giáo viên:……………………………………Năm sinh………………
Môn dạy……..………..Trường:…………………………………………………
Thầy/cô đã sử dụng và mức độ sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực nào trong các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực dưới đây, đánh dấu X
vào những ô tương ứng.
STT
1
2
3
Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT)
dạy học tích cực
PP gợi mở, vấn đáp
PP nêu và giải quyết vấn đề
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản
đồ, Atlat
Mức độ
Thường Thỉnh
Chưa
xuyên thoảng bao giờ
14
4
PP dạy học dự án
5
PP dạy học nhóm
6
PP dạy học đóng vai
Thầy/cơ có thấy sự cần thiết phải sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực vào bài học khơng? Vì sao?
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
Để sử dụng được các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy,
thầy/cơ cần phải làm gì?
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Sau khi tiến hành lấy phiếu điều tra từ 74 thầy cô giáo trường THPT Lạng Giang
số 3, tôi thu được kết quả như sau:
STT
1
2
3
Tên phương pháp (PP), kĩ thuật (KT)
dạy học tích cực
PP gợi mở, vấn đáp
PP nêu và giải quyết vấn đề
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ,
Thường
Mức độ
Thỉnh
xuyên
40
thoảng
2
PP dạy học đóng vai
(23,0%)
(2,7%)
(77,0%)
72
(97,3%)
(5,4%)
70
4
(94,6%)
3
71
(4,1%)
(95,9%)
71
7
PP dạy học bằng bản đồ tư duy
10
KT mảnh ghép
11
KT dạy học XYZ (635)
(13,5%)
8 (10,8%)
12
KT hỏi chuyên gia
2
(2,7%)
(89,2%)
72
13
KT 3 lần 3
11 (14,9%)
(97,3%)
63
KT ổ bi
(4,1%)
(1,4%)
(95,9%)
73
18
KT bể cá
1
2
(98,6%)
72
(97,3%)
68
19
KT tia chớp
(2,7%)
6
20
Họ và tên học sinh: ……………………………………… Lớp:………………...
Môn học:………………… Trường:……………………………………………...
Các em hãy đánh dấu X vào những ô tương ứng thể hiện mức độ hứng thú của
mình đối với những giờ học sau:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
Giờ học có sử dụng
Bài giảng điện tử
PP gợi mở, vấn đáp
PP nêu và giải quyết vấn đề
PP hướng dẫn học khai thác lược đồ, bản đồ,
Atlat
PP dạy học dự án
1
2
3
4
Bài giảng điện tử
PP gợi mở, vấn đáp
PP nêu và giải quyết vấn đề
PP hướng dẫn học khai thác lược
Rất hứng thú
215 (71,7%)
156
(52%)
101 (33,7%)
123
(41%)
Mức độ
Hứng thú
56 (18,7%)
110 (36,7%)
120
(40%)
92 (30,7%)
5
6
7
8
143
65
101
146
236
76
98
15
71
74
88
101
98
132
98
103
115
60
128
132
STT
Giờ học có sử dụng
(66%)
(73,7%)
(50,3%)
(59,7%)
85
(28,3%)
285
31
5
61
20
14
25
137
96
39
4
96
70
(95%)
(10,3%)
(1,6%)
(20,4%)
(6,6%)
(4,6%)
(8,3%)
(45,6%)
(32%)
(13%)
(1,3%)
(42,4%)
(23,3%)
cũng sẽ giúp cho sáng kiến kinh nghiệm của tơi có ý nghĩa, có tác dụng và có
giá trị sử dụng cao hơn trong thực tiễn, sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với
các thầy cơ giáo muốn làm mới mình, muốn đổi mới phương pháp giảng dạy
theo hướng tích cực. Việc điều tra khảo sát này có ý nghĩa rất quan trọng, nó
giúp tơi có cái nhìn tổng quan nhất và thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực trong nhà trường, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của
người dạy và người học, tìm ra những vướng mắc của cả người dạy và người
học từ đó đưa ra những cách giải quyết hoặc những cải tiến giúp người dạy và
người học xích gần lại nhau hơn.
Khi đã biết được thực trạng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học
tích cực trong đại đa số giáo viên trong nhà trường, tôi đã tiến hành hội thảo với
giáo viên tổ Sử - Địa – GDCD, tổ Ngữ Văn để có cái nhìn chính xác hơn, nghe
được những tâm sự, chia sẻ thật lòng hơn từ những đồng nghiệp của mình đối
với việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. Tơi đánh giá việc
này rất quan trọng vì khi trao đổi trực tiếp cùng các đồng nghiệp tơi nhận thấy
được những khó khăn họ đang mắc phải, những trở ngại họ đang gặp và cũng
được nhận được những kinh nghiệm rút ra từ chính những giáo viên này sau khi
sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong mỗi giờ dạy để những
lần sử dụng sau hiệu quả hơn. Từ đó tơi đã tổng hợp được những trở ngại, khó
19
khăn chính mà giáo viên mắc phải trong khi sử dụng các phương pháp, kĩ thuật
dạy học tích cực và những giải pháp cơ bản để khắc phục những khó khăn mà
giáo viên đang mắc phải.
Sau khi hội thảo với giáo viên của 2 tổ Sử - Địa – GDCD và Ngữ văn, tôi
đã tiến hành cùng soạn bài và dạy thử nghiệm với cô giáo Phan Thị Thanh Hà
(môn Địa lí), cơ Ngơ Quỳnh Trang (mơn Địa lí) và cơ Nguyễn Thị Vân (mơn
Địa lí). Sau giờ dạy, chúng tôi lại cùng nhau đánh giá, rút kinh nghiệm xem giáo
án soạn đã hợp lý chưa, phương pháp, kĩ thuật dạy học đã phù hợp chưa, trong
hướng tới khả năng chủ động, sáng tạo của người học chứ không phải hướng tới
việc phát huy tính tích cực của người dạy. Người thầy đóng vai trị là người
hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, độc lập suy nghĩ thơng
qua việc thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập thực tế theo mục tiêu, nội
dung của bài học, người thầy là người tổng hợp hoạt động, ý kiến của người học
để xây dựng nội dung bài học.
a. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
* Đặc trưng của phương pháp
Là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt
động, đặt ra và giải quyết các vấn đề. Hạt nhân của phương pháp này là một
(hoặc một chuỗi) bài toán nhận thức, chứa đựng mâu thuẫn giữa cái cho và cái
tìm. Khi mâu thuẫn của bài toán nêu vấn đề được học sinh tự giác chấp nhận
như một nhu cầu bên trong, bức thiết phải giải quyết bằng được thì lúc đó học
sinh được đặt trong tình huống có vấn đề. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh
(hướng dẫn và điều khiển) học sinh tích cực, tự lực giải quyết vấn đề, đi đến
những kết luận cần thiết. Phương pháp này có hiệu quả hay khơng trước hết phụ
thuộc chủ yếu vào việc liệu giáo viên có cấu tạo thành cơng các bài tốn nêu vấn
đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề hay khơng.
Sau đây là một số cách thức cơ bản thiết kế mâu thuẫn của bài tốn nêu vấn đề:
+ Tình huống nghịch lí: Nghịch lí là cái gì vơ lí, trái với lẽ thơng thường được
mọi người cơng nhận, một điều gì khơng bình thường so với cách hiểu cũ của học
sinh và đôi khi ban đầu thoạt nghe, tưởng chừng như vô lí làm học sinh ngạc nhiên.
21
Ví dụ: “Vì sao Đồng bằng sơng Cửu Long có nhiều ưu thế hơn Đồng bằng sông
Hồng về sản xuất lúa nhưng năng suất lúa lại đứng sau Đồng bằng sơng Hồng”
+ Tình huống khó khăn, bế tắc: Giữa cái đã biết và cái chưa biết cần phải
khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học đã có và vốn kiến thức thực
tiễn đa dạng. Ví dụ: "Khoảng cách về phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các
23
thực hành, phải tạo ra các sản phẩm để thể giới thiệu, trình bày. Nhiệm vụ này
được người học thực hiện với tính tự lực cao trong tồn bộ q trình học tập, từ
việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều
chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ
bản của dạy học dự án.
* Công việc của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong tiến trình thực
hiện một dự án
Giáo viên
Học sinh
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
(Trước khi thực hiện dự án. Thời gian chuẩn bị có thể từ 1 - 2 tuần)
- Xác định đối tượng tiến hành dự án
- Học sinh tìm hiểu cách thức và phương pháp
+ Số lượng, năng lực HS
học theo dự án.
+ Điều kiện CSVC tại trường
+ Biết được DHDA là gì?
+ Nội dung bài học sẽ tiến hành DA
+ Em sẽ làm những cơng việc gì khi học
- Xác định mục tiêu học tập
+ Câu hỏi khái quát
đến nội dung bài học.
+ Câu hỏi bài học
- Xây dựng nhóm học tập
+ Câu hỏi nội dung
- Xây dựng lịch trình đánh giá
+ Đánh giá thành phần, xuyên suốt dự án
+ Đánh giá tổng thể cuối dự án
- Xây dựng kế hoạch triển khai dự án (thời
+ Cùng sở thích, cùng mối quan tâm, có
thể hỗ trợ nhau…
+ Phải có nhóm trưởng, người có khả
năng trình bày tốt, thư ký…
+ Tham khảo ý kiến và tiêu chí lập nhóm
gian, cơng việc của GV, HS, phối hợp với ai, của GV
những công cụ hỗ trợ,..)
+ Cung cấp thơng tin nhóm và thơng tin
+ Trước khi bắt đầu dự án
cá nhân cho GV
+ Trong quá trình thực hiện dự án
- Đưa ra ý tưởng cho dự án
+ HS có ý tưởng gì cho dự án?
- Triển khai dự án đến học sinh
+ Giới thiệu dự án: kịch, bài trình chiếu,
- Tham gia vào các vai diễn nếu GV yêu cầu
để giới thiệu dự án
một đoạn phim… nhằm kích thích các em qua
một tình huống có vấn đề.
+ Phân vai và giao nhiệm vụ cho HS (HS
- Nhận nhiệm vụ và hình thành ý tưởng cho
xung phong hoặc chỉ định dựa trên năng lực
sản phẩm.
mỗi nhóm)
- Xây dựng kế hoạch làm sản phẩm, phân
- Ra các bài tập nhỏ nhằm hỗ trợ cho việc công nhiệm vụ cho từng thành viên trong
thực hiện dự án.
nhóm.
- Giải quyết từ từ bộ câu hỏi định hướng.
Giai đoạn 3: Đánh giá
(Tiết 2-3. Thời gian có thể linh động tùy vào số lượng sản phẩm của học sinh)
- Tổ chức báo cáo sản phẩm HS
- Từng nhóm trình bày SP (5-7’)
+ Điều hành thứ tự và thời gian báo cáo
của các nhóm
- Các nhóm cịn lại đặt câu hỏi và nêu ý kiến
góp ý cho SP. (3-5’)
+ Đặt câu hỏi cho nhóm báo cáo
- Tổ chức đánh giá sản phẩm
+ Phát phiếu đánh giá, bảng kiểm mục
- Các nhóm cho điểm vào bảng kiểm mục và
bảng tiêu chí đánh giá.
cho HS
+ Đánh giá sản phẩm từng nhóm
- Làm bài kiểm tra
- Tổ chức kiểm tra kiến thức
+ Phát bài kiểm tra trắc nghiệm đã chuẩn
bị trước
+ Thu bài đúng thời gian quy định
- Khảo sát ý kiến HS
- Làm phiếu khảo sát ý kiến