DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
2. CCKT:
Cơ cấu kinh tế
3. CNH:
Công nghiệp hóa
4. CCN:
Cụm công nghiệp
5. HĐH:
Hiện đại hóa
6. KHCN:
Khoa học công nghệ
7. KHKT:
Khoa học kỹ thuật
8. KCN:
Tư liệu sản xuất
17. XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
18. WTO:
Tổ chức Thương mại Thế giới
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như một địa phương đòi hỏi
phải có một CCKT hợp lý, xác định rõ và giải quyết đúng mối quan hệ giữa
các ngành, vùng và các thành phần kinh tế, các yếu tố, lĩnh vực của nền kinh
tế quốc dân. Xây dựng CCKT hợp lý là nội dung cơ bản của CNH, HĐH,
trong đó xây dựng CCKT công nghiệp là rất quan trọng.
Hải Phòng là thành phố Cảng lâu đời, nằm ở vị trí trung tâm vùng duyên
nào để chuyển dịch CCKT công nghiệp ở thành phố Hải Phòng với tốc độ
nhanh và chất lượng cao trong quá trình CNH, HĐH thời gian tới. Lời giải
cho vấn đề đặt ra, cần có sự nghiên cứu, phân tích kỹ trên cả 2 mặt lý luận và
thực tiễn. Để góp phần tìm ra những giải pháp cho vấn đề trên, tác giả chọn đề
tài: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp ở thành phố Hải Phòng trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận văn Thạc sĩ Kinh tế,
chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề chuyển dịch CCKT đã có nhiều công trình, đề tài và nhiều tác giả
nghiên cứu ở những khía cạnh và mức độ khác nhau như:
- Ngô Đình Giao (chủ biên), Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH nền
kinh tế quốc dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.
- Phạm Khiêm Ích - Nguyễn Đình Phan, CNH, HĐH ở Việt Nam và các
nước khu vực, NXB Thống kê, Hà Nội, 1995.
- Trần Văn Nhưng, Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ, năm 2001.
- Nguyễn Ân, Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở thành phố Hồ
3
Chí Minh trong quá trình CNH, HĐH, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, năm 2005.
Nhìn chung các đề tài đã nghiên cứu và công bố, phản ánh nhiều mặt của
chuyển dịch CCKT trong cả nước hoặc một địa phương nhất định. Song, cho
đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề : “Chuyển dịch CCKT
công nghiệp ở thành phố Hải Phòng trong quá trình CNH, HĐH” một cách
có hệ thống, cả về lý luận và thực tiễn vẫn, vì thế đề tài được chọn là vấn đề
mới và cần thiết, nhất là đối với thành phố Hải Phòng
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT công
- Luận văn nghiên cứu cơ cấu kinh tế công nghiệp được hiểu là cơ cấu
trong nội bộ ngành công nghiệp, bao gồm 3 nhóm ngành chính: công nghiệp
khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước
(không tính đến nhóm ngành xây dựng).
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
làm phương pháp luận chung, đặc biệt là phương pháp trừu tượng hoá khoa
học. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: lôgíc và lịch
sử, thống kê, phân tích và tổng hợp, định lượng so sánh, mô hình, đồ thị ...
6. Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ nội dung chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình CNH,
HĐH, những nhân tố tác động đến chuyển dịch và chứng minh sự cần thiết
khách quan phải chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH.
5
- Giới thiệu với thành phố Hải Phòng kinh nghiệm của một số quốc gia
và địa phương trong nước về chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình
CNH, HĐH.
- Đánh giá khách quan và chân thực về thực trạng chuyển dịch CCKT
công nghiệp ở thành phố Hải Phòng thời gian qua.
- Đưa ra phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục chuyển
dịch CCKT công nghiệp ở thành phố Hải Phòng trong quá trình CNH, HĐH.
7. Tên và kết cấu của luận văn
-
Luận văn có tiêu đề: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp ở
thành phố Hải Phòng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
-
+ Cơ cấu (structure) được dùng để chỉ về cách tổ chức, cấu tạo, sự điều
chỉnh các yếu tố tạo nên một hình thể, một vật, một bộ phận, sau này khái
niệm cơ cấu được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, trong đó có
các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc gia.
+ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì CCKT là tổng thể các ngành,
lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Theo K.Mark: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, quá trình phát triển nhất
định của lực lượng sản xuất vật chất của xã hội.
Như vậy, có thể hiểu: CCKT là tổng thể các mối quan hệ về chất lượng
và số lượng giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế tương ứng với
những điều kiện KT-XH trong một thời kỳ nhất định.
7
Xét về mặt chất, thì CCKT là các quan hệ gắn bó giữa các yếu tố kinh tế
trong một chỉnh thể thống nhất. Về mặt lượng, đó là quan hệ tỷ lệ giữa các
yếu tố cấu thành nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc
thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy tiềm năng, lợi
thế của vùng, quốc gia về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực...
Thuật ngữ "cơ cấu kinh tế" vận dụng không chỉ ở góc độ của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân mà còn vận dụng ở phạm vi một địa phương, một ngành,
một lĩnh vực nào đó của KT-XH.
1.1.1.2. Phân loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được nghiên cứu phân tích dưới các góc độ khác nhau như:
cơ cấu ngành kinh tế, CCKT theo vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, đây
là ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong
đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vị trí chủ yếu trong CCKT của mọi quốc gia.
Một là, Cơ cấu thành phần của nền kinh tế: gắn với chế độ sở hữu về
TLSX, sở hữu về TLSX hình thành nên cơ cấu thành phần kinh tế. Tùy theo
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, là
ngành sản xuất ra TLSX và tư liệu tiêu dùng; là ngành tạo ra sự phát triển của
lực lượng sản xuất, nhất là sự phát triển của khoa học công nghệ, nâng cao
năng suất lao động góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Công nghiệp được phân chia thành ba nhóm ngành chính là: Công nghiệp
khai thác; Công nghiệp chế biến; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước.
- Công nghiệp khai thác: nhằm khai thác những tài nguyên thiên nhiên
để tạo nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến.
- Công nghiệp chế biến: là ngành sử dụng các nguyên vật liệu để sản xuất
ra sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, trong đó các ngành công
nghiệp sản xuất ra TLSX và các ngành công nghệ cao có vai trò quyết định đối
với việc phát triển công nghiệp của mỗi nước. Công nghiệp chế biến là tiêu
thức quan trọng để đánh giá trình độ phát triển công nghiệp của một quốc gia.
9
- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước: là các ngành sản xuất
kết cấu hạ tầng phục vụ cho các ngành, lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội.
Vậy, cơ cấu kinh tế công nghiệp là một cấu trúc bao gồm tổng thể
các phân ngành của sản xuất CN và tương quan tỷ lệ giữa các phân
ngành đó
Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa các
nhóm ngành công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất
và phân phối điện nước trong tổng thể ngành công nghiệp được xác định bằng tỷ
trọng của mỗi ngành trong tổng sản phẩm của ngành công nghiệp tạo ra.
Cơ cấu của ngành công nghiệp được hình thành từ sự phát triển của phân
công lao động xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, từ cuộc cách mạng
KHKT lần thứ nhất đến lần thứ hai và hiện nay là cuộc cách mạng KHKT lần
thứ ba trên thế giới. Cơ cấu ngành công nghiệp luôn thay đổi theo từng thời
kỳ, từng giai đoạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố
khoảng cách về trình độ KT-XH giữa các vùng trong một quốc gia và với các
nước phát triển. Hiện đại hóa là mục tiêu phải đạt tới của CNH. Trong điều
kiện nhân lực dồi dào, trình độ quản lý còn hạn chế, nguồn vốn đầu tư có hạn,
muốn phát triển vững chắc thì phải có bước đi thích hợp, ưu tiên HĐH các
ngành, lĩnh vực quan trọng để thúc đẩy phát triển các ngành khác, khẳng định
vị thế quốc tế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.
- CNH là quá trình diễn ra sâu, rộng và toàn diện trên tất cả các ngành,
lĩnh vực KT-XH của quốc gia, mỗi địa phương. CNH, HĐH vừa là quá trình
kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình KT-XH. Kết quả của CNH, HĐH sẽ khắc
phục và tiến tới thủ tiêu tình trạng lạc hậu về KT-XH, nâng cao dân trí, mức
sống của dân cư, đưa xã hội đạt trình độ văn minh công nghiệp. Kinh tế - kỹ
thuật và KT-XH là hai quá trình không thể tách rời. Kinh tế - kỹ thuật tạo điều
kiện vật chất và kỹ thuật để thực hiện các nội dung KT-XH và ngược lại KTXH tạo động lực thực hiện quá trình kinh tế - kỹ thuật.
11
- CNH còn là quá trình mở rộng quan hệ quốc tế, nhất là trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng, mở rộng phân công lao động
quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế là xu thế phát triển tất yếu khách
quan. Mỗi nước trở thành một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, tác động
và chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau.
- Về nguyên tắc thực hiện, CNH phải phát huy nội lực là yếu tố quyết
định, phát huy lợi thế so sánh của đất nước để tham gia tích cực vào quan hệ
kinh tế quốc tế. Song trong bối cảnh quốc tế ngày nay, việc tranh thủ sự trợ
giúp về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý... của quốc tế là
yếu tố rất quan trọng để CNH, HĐH. Tuy vậy, đây là yếu tố hỗ trợ, chứ không
phải là yếu tố thay thế, yếu tố quyết định.
- CNH là phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi
quốc gia. Song nghiên cứu thực tiễn CNH, HĐH ở các nước trên thế giới đều
có những mục tiêu tương đồng. Đó là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đầu rất cần quy mô nguồn nhân lực, sau đó cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực
đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch CCKT và quá trình CNH, HĐH.
- Chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH gắn liền với vốn và
công nghệ, đòi hỏi lượng vốn lớn để bảo đảm tính vượt trội, hơn hẳn công
nghệ truyền thống. Trên cơ sở phát huy nội lực để HĐH sản xuất, tiếp thu
công nghệ mới, mở rộng và phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh; đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế quốc tế để
thu hút các dòng vốn và công nghệ trên thế giới để đẩy nhanh chuyển dịch
CCKT và quá trình CNH, HĐH.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu,
đang trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề chuyển dịch CCKT
phải được đặc biệt coi trọng trong quá trình CNH, HĐH, coi đây là nhiệm vụ
trọng tâm của thời kỳ quá độ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
13
1.1.3. Chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH.
Quá trình CNH là một quá trình toàn diện và đồng bộ, bao trùm tất cả
các ngành, lĩnh vực hoạt động của một quốc gia. Vì nền kinh tế là một hệ
thống thống nhất các ngành, lĩnh vực liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, quá
trình CNH, HĐH luôn gắn liền với quá trình chuyển dịch CCKT.
Chính vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình biến đổi cả về số lượng và
chất lượng các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế, gắn liền với đó là sự thay đổi
về mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Xét về bản chất, chuyển dịch CCKT chính
là sự chuyển dịch về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành
CCKT, là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác phù
hợp với môi trường phát triển của nền kinh tế.
Chuyển dịch CCKT chính là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt: CCKT
ngành, CCKT vùng, cơ cấu thành phần kinh tế hướng sự phát triển nền kinh
tế theo các mục tiêu KT-XH đã được xác định trong từng thời kỳ phát triển
bản, tạo ra hàng hóa tiêu dùng thiết yếu và bảo đảm điều kiện cho phát triển
công nghiệp. Khi đạt tới trình độ phát triển nhất định, nhu cầu cơ bản của dân
cư về lương thực, thực phẩm được bảo đảm thì vị trí ngành nông nghiệp, tỷ
trọng lao động và giá trị sản lượng nông nghiệp trong tổng giá trị sẽ giảm dần.
- Công nghiệp là ngành quan trọng nhưng ở giai đoạn đầu của CNH, chủ
yếu công nghiệp nhỏ bé, sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu. Trong quá trình
CNH, công nghiệp được ưu tiên phát triển, dần dần chiếm lĩnh vị trí hàng đầu
trong CCKT quốc dân.
- Các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống là điều kiện để phát
triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống của dân cư. CNH cần tập trung
phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng để phát triển sản xuất và thu hút đầu tư.
Sự chuyển dịch CCKT của mỗi quốc gia trong quá trình CNH trải qua các
giai đoạn: Từ cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ chuyển sang cơ cấu công nông nghiệp - dịch vụ; tiến tới cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.
15
1.2. CHUYỂN DỊCH CCKT CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CNH
1.2.1. Quan niệm về chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình
CNH, HĐH.
Chuyển dịch CCKT công nghiệp: là sự thay đổi về số lượng, sự thay đổi
về quan hệ tỷ lệ giữa các phân ngành sản xuất trong ngành công nghiệp, thay
đổi cơ cấu ngành công nghiệp từ chỗ chưa phù hợp sang một cơ cấu ngành
công nghiệp tiên tiến, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của đất
nước. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp chính là tăng tỷ trọng ngành
sản xuất có thiết bị và công nghệ hiện đại, ứng dụng nhiều thành tựu KHKT
vào sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm dần những ngành sản xuất sử
dụng nhiều lao động, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.
Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp đạt hiệu quả, đòi hỏi nhà
nước phải xác định xu hướng vận động, định hướng sự chuyển dịch, có bước
nên giá trị sản xuất công nghiệp thấp.
Vì vậy, chuyển dịch CCKT công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH phải
phát huy nội lực, đồng thời triệt để tận dụng thời cơ, phát huy cao nhất thành
quả của cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là thành quả của công nghệ thông
tin. Trong thời đại ngày nay, cách mạng khoa học kỹ thuật và thông tin bùng
nổ, phải biết tranh thủ kinh nghiệm, tiếp thu thành quả của khoa học - công
nghệ của các nước phát triển, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện
đại với sự phát triển của cơ khí hóa, tự động hóa, hóa học hóa, số hóa... để đi
tắt, đón đầu, phát triển theo chiều sâu, tập trung phát triển các ngành công
nghiệp mũi nhọn tạo ra sản phẩm có lợi thế so sánh, chất lượng đạt trình độ
khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới, tức là thực hiện chuyển dịch CCKT
công nghiệp bảo đảm chuyển nền công nghiệp từ chỗ còn mang nặng tính thủ
công, nửa cơ khí sang nền công nghiệp hiện đại, cơ khí hóa, tự động hóa gắn
với điện tử hóa, tin học hóa, số hóa để đạt mục tiêu CNH, HĐH.
17
Hai là, Chuyển nền công nghiệp sử dụng nhiều lao động sống sang nền
công nghiệp có hàm lượng khoa học và công nghệ cao
Lực lượng lao động là một nguồn lực quan trọng đối với phát triển
KTXH và phát triển công nghiệp, ở các nước đang phát triển, đây là một lợi
thế lớn vì cơ sở vật chất kỹ thuật của công nghiệp lạc hậu do đó phải sử dụng
lao động sống là chủ yếu, nhất là đối với công nghiệp khai thác và công
nghiệp chế biến. Ví dụ như ngành công nghiệp khai thác than trước đây chủ
yếu là sử dụng sức lao động của công nhân, hiện nay công nghiệp dệt may, da
giày... chủ yếu sử dụng lao động sống, lao động trực tiếp, giản đơn, hàm
lượng khoa học công nghệ kết tinh trong sản phẩm ít, giá trị sản xuất công
nghiệp thấp, đặc biệt là đối với một số ngành công nghiệp làm gia công cho
nước ngoài, thu nhập của người lao động thấp, không bảo đảm cuộc sống là
một trong những nguyên nhân dẫn đến ngừng việc tập thể, đình công... Vì
trọng phát triển công nghiệp phần mền, tin học, có tốc độ tăng trưởng vượt
trội; phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế
xuất, hình thành các khu kinh tế, khắc phục tình trạng nền công nghiệp chủ
yếu là sản xuất nhỏ và vừa, chất lượng sản phẩm và giá trị sản phẩm thấp.
Qua trình CNH, HĐH phải đi vào công nghiệp hiện đại, đầu tư hiện đại hóa
cơ sở vật chất của ngành công nghiệp, chuyển công nghiệp từ gia công cho
nước ngoài sang sản xuất, chế biến từ nguyên liệu trong nước. Phát triển các
ngành có yêu cầu công nghệ cao, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước, chấm
dứt tình trạng khai thác với hệ số hữu ích thấp, sản xuất, xuất khẩu khoáng
sản dạng thô. Cần tập trung phát triển các ngành điện, hóa dầu, các ngành chế
tạo máy, điện tử, công nghệ thông tin ( sản xuất phần mền ) công nghệ sinh
học và tự động hóa, đẩy mạnh xuất khẩu; tin học hóa các ngành công
nghiệp... sản xuất ra các sản phẩm có giá trị cao.
19
Đây là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đạt được mục tiêu,
tạo tiền đề cho nền kinh tế cất cánh và đẩy mạnh CNH, HĐH để đến năm
2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp.
Bốn là, Chuyển dịch các ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài nguyên
thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường sang nền công nghiệp sử dụng các vật
liệu nhẹ và thân thiện với môi trường
Thực tế quá trình CNH, HĐH ở các nước trên thế giới và những năm đầu
của thời kỳ CNH ở Việt Nam cho thấy: Khi công nghiệp phát triển tất yếu dẫn
đến tiêu hao nhanh nguồn tài nguyên thiên nhiên, lãng phí tài nguyên thiên
nhiên, trong khi đó nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, nhiều
nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, sản xuất công nghiệp tiềm ẩn
hiểm họa ô nhiễm môi trường sinh thái (rác thải, khí thải, nước thải...). Vấn
đề này đang diễn ra rất phức tạp, là thách thức to lớn đối với quá trình phát
là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu
ngành công nghiệp của một nước, địa phương ở các khía cạnh sau:
- Tạo ra quá trình mở rộng và khai thác những tiềm năng phát triển của
ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
- Thúc đẩy phân công LĐXH, đa dạng hóa ngành nghề, khuyến khích mở
rộng đầu tư trong và ngoài nước tạo ra tăng trưởng nhanh ngành công nghiệp.
- Sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trên thị trường kích
thích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ ở trong ngành
công nghiệp và trong nội bộ từng ngành công nghiệp.
- Kích thích lợi ích kinh tế và tạo ra động lực mới phát triển ngành công
nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện có một số loại thị trường: thị trường
hàng hóa dịch vụ, khoa học - công nghệ, thông tin, vốn, bất động sản, lao
động và thị trường chứng khoán. Nhà nước quản lý thị trường bằng các công
21
cụ quản lý gián tiếp, đó là thể chế, chính sách kinh tế tạo điều kiện để thị
trường hoạt động, tác động các doanh nghiệp chuyển dịch cơ cấu theo hướng
sản xuất ra hàng hóa phù hợp với nhu cầu của xã hội. Vì vậy, thị trường tác
động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp. Khi nhu cầu tiêu dùng
tăng làm cho SXCN phát triển, đáp ứng sản phẩm tiêu dùng xã hội; thu nhập
bình quân đầu người tăng, kéo theo sự dịch chuyển lao động từ nông thôn vào
thành thị, cơ cấu SXCN tăng lên, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành
CN nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng cao và đa dạng.
b) Nhân tố các nguồn lực.
Nguồn lực của một quốc gia, địa phương có vai trò quan trọng hình
thành và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp. Nguồn lực tác động
đến chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp gồm:
- Vị trí địa lý của một quốc gia, địa phương góp phần hình thành và
làm tăng trưởng kinh tế. Việt Nam đang tiến hành CNH, HĐH cần một khối
lượng vốn lớn, cần huy động từ trong nước và nước ngoài. Vốn trong nước có
tính quyết định để đầu tư vào sản xuất, thúc đẩy nhanh, bền vững quá trình
chuyển dịch CCKT và cơ cấu ngành công nghiệp. Nguồn vốn nước ngoài
gồm: vốn viện trợ phát triển chính thức ODA, vốn FDI, vốn viện trợ của các
tổ chức phi chính phủ, vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài. Các nguồn vốn
này bù đắp những thiếu hụt của vốn trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
qua đó có thể tiếp nhận chuyển giao công nghệ, mô hình quản lý tiên tiến, tiếp
cận thị trường tiêu thụ, thực hiện chuyển dịch CCKT và hội nhập kinh tế quốc
tế. Nhà nước phải có chiến lược đầu tư hợp lý, phân bổ và sử dụng vốn có
hiệu quả để nền kinh tế phát triển và chuyển dịch CCKT đúng hướng.
- Nhân tố tiềm năng khoa học kỹ thuật công nghệ
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang phát
triển như vũ bão trên thế giới, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch CCKT của