tác động của bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở việt nam giai đoạn 2002 2012 - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------

NGUYỄN NGỌC ANH TRÚC

TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG
TRONG THU NHẬP VÀ CHI TIÊU
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG THU NHẬP BÌNH QUÂN
ĐẦU NGƯỜI Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2002 - 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Chuyên ngành:

Kinh tế học

Mã số chuyên ngành: 60 03 01 01

Giảng viên hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Hồ Phong Linh

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015


TÓM TẮT
Trong giai đoạn 2002 – 2012, mặc dù Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng và có
thành tựu ấn tượng trong việc giảm nghèo, song bất bình đẳng thu nhập đang tăng lên trên cả
nước, thể hiện qua sự gia tăng chênh lệch thu nhập bình quân giữa nhóm giàu nhất và nhóm
nghèo nhất (theo ngũ phân vị) và sự gia tăng trong hệ số Gini tính theo thu nhập.
“Bất bình đẳng tác động như thế nào đến thu nhập?” là vấn đề đang được xã hội quan

Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 2

1.3

Câu hỏi nghiên cứu...................................................................................................... 2

1.4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 3

1.5

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 3

1.6

Ý nghĩa và hạn chế nghiên cứu ................................................................................... 3

1.7

Kết cấu luận văn .......................................................................................................... 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................................... 6
2.1

Cơ sở lý luận về bất bình đẳng .................................................................................... 6

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH....................................................... 48
5.1 Kết luận ......................................................................................................................... 48
5.2 Gợi ý chính sách ............................................................................................................ 48
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 53
PHỤ LỤC .............................................................................................................................ix
Phụ lục 1 – Các khái niệm ....................................................................................................ix
Phụ lục 2 – Số liệu thu nhập và chi tiêu hộ gia đình ...........................................................xii
Phụ lục 3 – Kết quả mô hình hồi quy ............................................................................. xxxii

v


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Đường cong Lorenz ............................................................................................... 6
Hình 2.2: Đường cong Kuznets dưới dạng chữ U ngược .................................................... 10
Hình 4.1: Tác động của bất bình đẳng tính theo chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân
đầu người dưới dạng chữ U ngược ...................................................................................... 48

vi


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng
trưởng ................................................................................................................................... 14
Bảng 3.1: Mô tả phương pháp đo lường các biến và nguồn dữ liệu .................................... 19
Bảng 3.2: Chuyển đổi lớp hệ thống giáo dục phổ thông ..................................................... 21
Bảng 3.3: Chuyển đổi lớp của giáo dục nghề nghiệp .......................................................... 21
Bảng 3.4: Chuyển đổi lớp của giáo dục đại học .................................................................. 22
Bảng 3.5:Thông tin các biến được trích lọc từ bộ dữ liệu VHLSS 2002, 2004, 2006, 2008,


Tổng Sản phẩm Quốc nội

GNP (Gross Nation Product)

Tổng Sản phẩm Quốc gia

GSP (Gross State Product)

Tổng Sản phẩm vùng/tỉnh

TCTK

Tổng cục Thống kê

NGTK

Niên giám Thống kê

KSMSDC

Khảo sát Mức sống Dân cư

TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

PPP (Purchasing Power Parity)

Ngang giá sức mua


Khảo sát Mức sống Hộ gia đình -

Standard Surveys)

Việt Nam

BHYT

Bảo hiểm y tế

viii


CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng.
Trong đó quan điểm phổ biến nhất cho rằng bất bình đẳng tăng trong giai đoạn đầu của quá
trình phát triển sau đó ổn định và giảm dần khi thu nhập tăng lên (Kuznets, 1955). Những
người theo quan điểm này cho rằng việc tăng tích lũy giúp người giàu có điều kiện tăng đầu
tư, tỷ lệ đầu tư cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy quan điểm này không hoàn toàn đúng. Một quốc
gia có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong khi vẫn duy trì được mức bất bình đẳng
thấp (Deininger và Squire, 1996). Trong khi đó, một số quốc gia có mức tăng trưởng thấp
hoặc không tăng trưởng nhưng bất bình đẳng lại tăng mạnh. Theo Todaro và Smith (2012),
bất bình đẳng cao làm giảm hiệu quả kinh tế và làm gia tăng bất ổn xã hội.
Mỗi quan điểm nói trên xuất phát từ sự phân tích quá trình tăng trưởng và công bằng xã
hội đã diễn ra ở một số nước nhất định, ở những thời kỳ khác nhau mà khái quát lên. Mối
quan hệ giữa tăng trưởng thu nhập và bất bình đẳng hiện vẫn là vấn đề tranh cãi. Có ý kiến
cho rằng, tại mỗi quốc gia, ở những thời điểm khác nhau, mối tương quan giữa tăng trưởng

Kiểm định và phân tích tác động của bất bình đẳng trong thu nhập, chi tiêu đến tăng

trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam.
-

Cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng thu nhập

bình quân đầu người ở Việt Nam.
-

Trên cơ sở đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của

bất bình đẳng thu nhập và chi tiêu trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
-

Xu hướng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 như

thế nào?
-

Bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 có đặc

điểm gì?
-

Bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu tác động như thế nào đến thu nhập bình quân

đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012?


Ý nghĩa: Dù đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bất bình đẳng trong chi tiêu thể hiện tốt
hơn sự khác biệt trong mức sống của hộ gia đình nhưng cho đến nay vẫn có rất ít nghiên cứu
về tác động của bất bình đẳng trong chi tiêu đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở
Việt Nam. Do đó, việc lượng hóa tác động của cả bất bình đẳng trong thu nhập và chi tiêu
đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2012 sẽ
cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ này. Nghiên cứu cũng góp phần cung
cấp cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách đề ra những chính sách hợp lý để đảm
bảo sự hài hòa giữa hai mục tiêu tăng trưởng và ổn định xã hội.

3


Hạn chế: VHLSS là bộ dữ liệu duy nhất hiện nay cho phép tính toán bất bình đẳng theo
thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình ở các tỉnh thành trên cả nước trong giai đoạn 2002-2012
nhưng quy mô mẫu của của bộ dữ liệu này không mang tính đại diện ở cấp tỉnh thành. Bên
cạnh đó, một số yếu tố quan trọng khác cũng tác động đến thu nhập bình quân đầu người
nhưng không được đưa vào mô hình như: vốn đầu tư, lạm phát… nên có thể ảnh hưởng đến
mức độ phù hợp của mô hình.
1.7 Kết cấu luận văn
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên
cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa, hạn chế và kết cấu bài nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, tác giả phân tích các khái niệm, lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu
như: bất bình đẳng, tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người … Tác giả cũng tổng hợp một
số nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng thu nhập
bình quân đầu người, trong nước và quốc tế.
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này tác giả trình bày những nội dung liên quan đến dữ liệu, mô hình và phương
pháp nghiên cứu.

yếu tố: Tỷ lệ thu nhập/chi tiêu của dân cư cộng dồn và tỷ lệ dân số tương ứng cộng dồn.
Hình 2.1: Đường cong Lorenz
Phần
trăm
thu
nhập/
chi
tiêu
cộng
dồn

Đường bình đẳng tuyệt đối

Đường cong Lorenz
A

B
Phần trăm dân số cộng dồn

Nguồn:Nguyễn Trọng Hoài, 2007
Hệ số Gini là giá trị của diện tích A (được tạo bởi đường cong Lorenz và đường thẳng
0

45 từ gốc tọa độ) chia cho diện tính A+B (là diện tích tam giác vuông nằm dưới đường

6


0


nhóm hộ có thu nhập cao nhất

nhóm hộ có thu nhập cao nhất

so với nhóm hộ có thu nhập
thấp nhất (lần)

1

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của
nhóm hộ có thu nhập thấp nhất

Áp dụng tương tự cho việc tính toán chênh lệch trong mức chi tiêu giữa hai nhóm hộ

7


Các nhóm thu nhập/chi tiêu được xác định bằng cách sắp xếp các hộ theo mức thu nhập
bình/chi tiêu quân đầu người 1 tháng từ thấp đến cao, sau đó chia các hộ thành các nhóm hộ
có số hộ bằng nhau, thường là 5 nhóm, mỗi nhóm chiếm 20% tổng số hộ.


Nhóm 1: Nhóm thu nhập/chi tiêu thấp nhất (nhóm nghèo nhất);



Nhóm 2: Nhóm thu nhập/chi tiêu dưới trung bình;




Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh đã loại trừ biến động của yếu tố giá qua các
năm, dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng
hàng hóa và dịch vụ sản xuất.
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người. Chỉ tiêu kinh tế phản ánh một cách
tổng quan mức sống dân cư và được tính bằng tỷ lệ giữa tổng sản phẩm trong nước với tổng
dân số trung bình trong năm. Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người có thể tính
theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo nội tệ hoặc theo ngoại tệ.
GDP bình quân đầu người còn là chỉ tiêu được dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế
theo thời gian và so sánh quốc tế.
2.2.3 Đo lường
Tốc độ tăng sản lượng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người là các
chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng thu nhập. Các chỉ tiêu này được tính theo công thức:
( )

(
(

)

)

Trong đó: gx là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t; X có thể là GDP thực, GNP thực, GDP
thực tế bình quân đầu người, hoặc GNP thực tế bình quân đầu người.
2.3 Lý thuyết về tăng trưởng
Mankiw, Romer và Weil (1992) đề xuất mô hình “Solow tăng cường” nhấn mạnh sự
đóng góp của giáo dục và kỹ năng. Họ cho rằng nguyên nhân của sự khác biệt về thu nhập là
do các nước nghèo đầu tư ít vào giáo dục và kỹ năng.
Schultz (1961) và Becker (1962) cũng cho thấy vai trò của đầu tư cho giáo dục, của vốn
con người đối với phát triển kinh tế. Schultz (1961) đã chỉ ra ưu thế nhờ lợi suất cao hơn hẳn
của vốn con người ở các nước giàu so với các nước nghèo, ông cho rằng vốn nhân lực gia

Thu nhập

Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài, 2007

Ông cho rằng, bất bình đẳng tăng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sau đó ổn
định và giảm dần khi thu nhập tăng lên. Ông giải thích rằng ban đầu bất bình đẳng có thể
tăng khi một quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang nền kinh tế
công nghiệp. Khi mọi người làm việc trong nền kinh tế nông nghiệp, thu nhập được phân

10


phối tương đối đồng đều, nhưng khi có tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa thì bất bình
đẳng tăng lên.
Giả thuyết Kuznets trong nhiều trường hợp được ủng hộ khi so sánh nhiều quốc gia ở
nhiều trình độ phát triển khác nhau, nhưng không rõ ràng khi kiểm chứng cho từng quốc gia
riêng biệt. Tuy nhiên, giả thuyết này đưa ra một gợi ý đáng để các quốc gia tham khảo rằng
sự gia tăng bất bình đẳng trong quá trình phát triển là điều khó tránh khỏi.
Luận điểm của Kuznets được củng cố bởi mô hình thặng dư lao động của Lewis. Trong
mô hình thặng dư lao động của Lewis, bất bình đẳng không chỉ là một kết quả cần thiết của
tăng trưởng, nó còn là nguyên nhân của tăng trưởng. Lewis (1954) cho rằng lúc đầu lao động
dư thừa trong khu vực nông nghiệp được thu hút vào công nghiệp nhưng chỉ được trả lương
ở mức tối thiểu. Nhờ đó, nhà tư bản có điều kiện tích lũy và tái đầu tư. Thu nhập tăng lên
được tái đầu tư mở rộng qui mô sản xuất và lao động của công nhân đem lại ngày càng nhiều
giá trị thặng dư. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhờ sự tích lũy, đầu tư của khu vực công
nghiệp, và hiện tượng bất bình đẳng giữa hai khu vực cũng tăng. Tư bản nếu được tích lũy
liên tục trong khu vực công nghiệp sẽ thu hút dần lao động dư thừa trong khu vực nông
nghiệp; Giai đoạn sau khi lao động được thu hút hết và trở nên khan hiếm hơn, cùng với nhu
cầu sử dụng ngày càng nhiều lao động, dẫn đến việc tiền công tăng lên, lợi nhuận của nhà tư
bản giảm đi. Khi đó cần phải có sự đầu tư lại cho khu vực nông nghiệp để giảm bất lợi trong

thất cho xã hội. Nếu chính phủ lấy đi phần thu nhập tăng thêm mà một cá nhân nào đó có thể
kiếm được thông qua tăng thuế để trợ cấp, thì cả người giàu và người nghèo sẽ có ít động lực
lao động chăm chỉ hơn, người giàu sẽ không tích cực làm việc, còn người nghèo dễ có tâm
lý ỷ lại. Khi họ lao động ít hơn, tổng thu nhập của toàn xã hội sẽ giảm, và phần thu nhập
dành cho mỗi người cũng giảm.
Perotti (1996) cũng cho rằng bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng
trưởng thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh sản. Bố mẹ phải tối ưu
việc sử dụng những nguồn lực của gia đình bằng cách cải thiện về chất lượng hoặc tăng quy
mô gia đình. Các gia đình nghèo sẽ không đầu tư vào giáo dục mà đầu tư vào quy mô hộ gia
đình. Trong khi đó, tăng trưởng thu nhập được thúc đẩy bởi sự đầu tư vào chất lượng nguồn
nhân lực hơn là số lượng lao động. Do vậy một xã hội có những gia đình nghèo đầu tư vào

12


số lượng hơn là chất lượng thì bất bình đẳng sẽ cao hơn. Bùng nổ dân số sẽ dẫn đến thu nhập
bình quân đầu người thấp hơn.
Trong khi đó, Deininger và Squire (1996) cho rằng không có bằng chứng chứng minh
mối quan hệ theo mô hình “chữ U ngược” trong quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng
về thu nhập khi xem xét các nước riêng lẻ, nghĩa là tăng trưởng không làm bất bình đẳng gia
tăng ngay cả trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển ở các nghèo. Cùng quan điểm này,
Barro và Sala-i-Martin (1999) cho rằng bất bình đẳng tăng lên chỉ làm giảm tốc độ tăng
trưởng của các nước nghèo có mức GDP bình quân đầu người thấp hơn 2.000 đô la Mỹ. Trái
lại, các nước có mức GDP bình quân đầu người cao hơn mức này, mối quan hệ này trở nên
không rõ ràng.
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về tác động của bất bình đẳng đối với tăng
trưởng. Dù vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng đa số các nhà kinh tế học cho rằng mối quan hệ
giữa bất bình đẳng và tăng trưởng ở các quốc gia khác nhau thường không giống nhau. Ở
một mức độ nhất định bất bình đẳng có thể thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, bất bình đẳng
cao sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.

(2006)
bình đẳng
thu nhập
đến tăng
trưởng
thu nhập
ở Kê-ni-a
Digdowiseiso Bất bình
đẳng giáo
(2009)
dục, tăng
trưởng
thu nhập
và bất
bình đẳng
thu nhập
ở In-đônê-xi-a
Tác động
Pede &
của bất
Cộng sự
bình đẳng
(2012)
thu nhập
đối với
tăng
trưởng
thu nhập
Ortega-Díaz
(2003)

Tỷ lệ dân số nam 10 tuổi trở
lên biết đọc biết viết
Tỷ lệ dân số nữ 10 tuổi trở lên
biết đọc biết viết

(+)
(+)
(-)

Dữ liệu
chuỗi thời
gian, giai
đoạn 1950 –
2006, OLS

Logarit
GDP
bình
quân
đầu
người

Logarit Gini thu nhập
Logarit chi tiêu cho giáo dục
Logarit chi tiêu cho sức khỏe
Logarit tăng trưởng dân số

(-)
(+)
(-)


Logarit
Thu
nhập
bình
quân

Thu nhập bình quân đầu
người năm gốc 1991
Chỉ số Thiel về bất bình đẳng
thu nhập
Tỷ lệ nghèo
Trình độ giáo dục
Thành thị-nông thôn

(-)

(+)

(+)
(-)
(+)
(+)

14


Oyama
(2014)


Nam
Mối quan
Phạm Ngọc
hệ giữa
Toàn &
tăng
Hoàng
Thanh Nghị trưởng,
nghèo đói
(2012)
và bất
bình đẳng

Giai đoạn
2000 – 2005

Giai đoạn
1996-2004,
OLS, 61
tỉnh thành

2006-2010,
63 tỉnh
thành, FEM

Tốc độ
tăng
trưởng
bình
quân

GDP
Tỷ lệ đầu tư trên GDP
Logarit tỷ lệ sinh
Logarit GDP bình quân đầu
người
Số năm đi học trung bình
Vai trò của luật pháp
Biến giả Vùng:
Bắc
Trung
Đông Nam
Hệ số Gini chi tiêu
Tỷ lệ hộ nghèo
Số năm đi học trung bình của
dân số trưởng thành
GDP bình quân đầu người
Tỷ lệ trung bình của đầu tư
trên GDP
Logarit tỷ lệ đầu tư/GDP,
Logarit dân số trong độ tuổi
lao động,
Hệ số Gini thu nhập,
Hệ số Gini thu nhập bình
phương
Tương tác Gini và đầu tư

(-)
(+)
Không
Không

Yến (2015)

ở Việt
Nam
Tác động
của bất
bình đẳng
thu nhập
đến tăng
trưởng
thu nhập
ở Việt
Nam

Tương tác Gini và giáo dục
2004-2010,
dữ liệu bảng
63
tỉnh/thành,
FEM

Logarit
GDP

Hệ số Gini thu nhập,
Hệ số Gini thu nhập bình
phương,
Logarit tỷ lệ đầu tư trong
GDP,
Logarit tỷ lệ lao động trong

Hoàng Thủy Yến cao hơn nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thanh Nghị.
16


Kết luận chương 2:
Trong chương 2 tác giả nêu một số lý thuyết liên quan đến thu nhập bình quân đầu người và
bất bình đẳng, mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng. Đồng thời tác giả cũng đưa ra
một số các nghiên cứu trước liên quan mối quan hệ này.

17


CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu và phương pháp thu thập
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ TCTK, NGTK các tỉnh/thành, VHLSS và Kết quả
VHLSS các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012.
Trong quá trình xử lý dữ liệu, do hai tỉnh Hà Tây và Thành phố Hà Nội (cũ) được sát
nhập vào năm 2007, nên tác giả hợp nhất số liệu hai địa phương này thành một địa phương
là Hà Nội (mới) cho cả giai đoạn 2002 – 2012. Ngoài ra, số liệu năm 2002 của ba địa
phương Điện Biên, Đắc Nông và Hậu Giang bị thiếu do việc tách tỉnh, cụ thể tỉnh Điện Biên
được tách từ tỉnh Lai Châu (cũ) vào năm 2003, tỉnh Đắc Nông được tách ra từ tỉnh Đắc Lắc
(cũ) vào năm 2004, tỉnh Hậu Giang được thành lập từ năm 2004 do tách ra từ tỉnh Cần Thơ
(cũ), nên tác giả thay thế bằng các giá trị trung bình giai đoạn 2004 – 2012 để xử lý giá trị
thiếu trong mô hình.
Đến nay, Tổng cục Thống kê đã tổ chức các cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình năm
2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014. Riêng cơ sở dữ liệu và kết quả cuộc khảo sát
năm 2014 hiện chưa được công bố chính thức, nên đề tài sử dụng cơ sở dữ liệu các cuộc
khảo sát năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 và 2012.
Như vậy, dữ liệu bảng trong mô hình có thời gian T = 6 (năm) và N = 63 (tỉnh/thành),
tổng cộng có 378 quan sát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status