Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT TỐNG VĂN TRÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DỰ THI CẤP TỈNH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
Sử dụng các hiện tượng, bài tập trắc nghiệm, thảo luận chuyên
đề liên quan đến thực tiễn đời sống để nâng cao hiệu quả giảng
dạy hóa học vô cơ 10, 11.
Tác giả: Nguyễn Viết Tấn
Trình độ chuyên môn: Cử nhân sư phạm
Chức vụ: TTCM Tổ Hóa – Sinh – Kỹ.
Nơi công tác: Trường THPT Tống Văn Trân- Ý Yên- Nam Định
Nam Định, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Thông tin chung về sáng kiến
1. Tên sáng kiến:
Sử dụng các hiện tượng, bài tập trắc nghiệm, thảo luận chuyên đề liên quan
đến thực tiễn đời sống để nâng cao hiệu quả giảng dạy hóa học vô cơ 10, 11.
đời sống, phục vụ cho thực tiễn đời sống. Vì vậy khi giảng dạy kiến thức càng thiết thực, càng
hấp dẫn, càng lôi cuốn thì học sinh càng dễ dàng tiếp nhận và nhớ lâu. Để những kiến thức
khoa học khô cứng trở nên gần gũi với học sinh thì việc cung cấp các kiến thức liên quan đến
thực tiễn cuộc sống và hướng dẫn học sinh giải quyết các tình huống gắn với thực tiễn, học
sinh sẽ có cơ hội rèn luyện tư duy kích thích khả năng tìm tòi, suy luận và chủ động trong việc
tìm kiếm tri thức khoa học, phát triển năng lực giải quyết các tình huống khác nhau trong học
tập cũng như đời sống.
Từ thực tế giảng dạy ở trường THPT tôi nhận thấy: Từ năm 2011 trở về trước hóa học
có sức hút gần như tuyệt đối trong trường THPT vì khi đó đa số các học sinh đều chọn thi
khối A. Đến năm 2012 bắt đầu có khối A1 sức hút môn hóa học bắt đầu giảm. Đặc biệt từ năm
2015 với việc đổi mới chỉ thi một kỳ thi THPTQG số lượng HS quan tâm đến môn Hóa ngày
càng ít hơn nữa. Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là do kiến thức môn Hóa hiện nay
còn đang quá nặng về kiến thức lý thuyết, các bài toán với nhiều quá trình phải suy luận một
cách phức tạp và máy móc. Học chỉ để “Đi thi” vì thế khi kỳ thi thay đổi sẽ bị ảnh hưởng.
Khi tôi hỏi học sinh về những vấn đề thực tế mang tính chất toàn cầu liên quan đến
môn Hóa như: Hiệu ứng nhà kính, mưa axit, ô nhiễm môi trường… các em đều rất mơ hồ.
Hoặc khi tôi hỏi về cách sử lý khi gặp hỏa hoạn một tình huống nguy hiểm mà các em có thể
gặp bất cứ khi nào trong cuộc sống. Học sinh chỉ trả lời là “Chạy”!. Những kiến thức đó thay
vì chỉ cung cấp qua loa một chiều qua bài dạy tại sao không dành thời gian cho học sinh tự tìm
hiểu, trình bày, thảo luận để các em có sự hiểu biết toàn diện hơn và ý thức được vài trò của
mình. Tôi nghĩ những vấn đề trên có ý nghĩa hơn rất nhiều so với việc ngồi giải quá nhiều các
bài tập. Nhiều khi tôi tự đặt cho mình câu hỏi:
Xét cho cùng kiến thức môn Hóa hay bất cứ môn học nào khác dùng để làm gì ?
Nó có ý nghĩa gì cho các em trong cuộc sống sau này ?
Từ những vấn đề nêu trên; với mong muốn làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của người giáo
viên góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục nhà trường nâng nhằm nâng cao hơn
nữa chất lượng giáo dục, giúp các em tự lực tự mình tìm ra tri thức cũng như hiểu được các
em đang học cái gì và có ý nghĩa gì trong thực tiễn. Tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng
các hiện tượng, bài tập trắc nghiệm, thảo luận chuyên đề liên quan đến thực tiễn đời
sống để nâng cao hiệu quả giảng dạy hóa học vô cơ 10, 11 ” áp dụng cho chương trình hóa
cho các em có tri thức toàn diện về các vấn đề trong xã hội. Đồng thời góp phần năng cao
năng lực nhận thức, tự học, tích cực chủ động học tập của học sinh.
II.1: Cách thức tổ chức cho học sinh:
Tôi tổ chức cho học sinh học tập theo các hình thức sau:
1.Lựa chọn các kiến thức thực tế vào giảng dạy.
Với mỗi bài về chất cụ thể trong chương trình hóa học vô cơ lớp 10 , 11. Tôi tìm hiểu các
kiến thức thực tế có liên quan đến bài giảng thông qua: Sách, báo, Internet ...
Đối với từng bài dạy cụ thể tôi lựa chọn các kiến thức thực tế đó và sử dụng linh hoạt
trong quá trình giảng dạy. Cụ thể có thể dùng trong những trường hợp sau:
a. Sử dụng hiện tượng thực tiễn đời sống để bắt đầu vào bài học có thể một câu chuyện
hoặc một ứng dụng thú vị nào đó mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhằm tạo hứng thú cho học
sinh khi bắt đầu vào bài học
Ví dụ 1: Khi dạy bài N2 – Lớp 11 tôi dùng một số câu hỏi tạo hình huống vào bài:
Không khí sạch chứa thành phần như thế nào?
Nếu bầu khí quyển chỉ có khí O2 thì sự sống sẽ thế nào?
Giải thích:
Trong khí quyển thì nitơ chiếm 78,09%; oxi chiếm 20,95%; argon chiếm 0,93% về thể
tích còn lại là hơi nước, khí cacbonic .
Oxi rất cần thiết cho hô hấp của con người nhưng nếu bầu khí quyên chỉ toàn khí O 2 thì
sẽ không có sự sống. Vì khi đó chỉ cần đốt một que diêm toàn bộ trái đất sẽ cháy như một
ngọn đuốc và không thể dập được.
Ngoài ra theo nghiên cứu, nếu người thợ lặn hít thở bằng oxi thuần tuý mà không có
nitơ thì chỉ lặn sâu không quá 20m và bị trúng độc oxi.
Như vậy có thể thấy N2 trong không khí cũng rất quan trọng. N2 giống một người canh
giữ hòa bình cho cả trái đất. Nếu không có N2 cũng không có sự sống.
Ví dụ 2: Tôi thường dẫn dắt vào bài Hiđrosunfua bằng một câu chuyện.
Năm 1950 tại Mexico một nhà máy hóa chất đã thải ra ngoài môi trường một lượng lớn H 2S
trong vòng 30 phút hậu quả làm cho 22 người chết và 320 người trong thành phố Pozarica
2. Gắn giảng dạy với nội dung giáo dục môi trường, giáo dục kỹ năng sống.
Vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nóng và được sự quan tâm của toàn xã
hội. Vì thế trong quá trình giảng dạy tôi chủ động cho học sinh tìm hiểu và xây dựng 2 chuyên
đề về giáo dục môi trường, kỹ năng sống những kiến thức có thể lồng ghép vào chương trình.
Với việc các lớp học ở trường tôi đều được trang bị đầy đủ hệ thống máy tính, máy
chiếu, loa… Học sinh có thể tự tìm hiểu trên báo, tivi, internet.. Tự xây dựng bài trên phần
mềm Power point và trực tiếp lên bảng thuyết trình. Giáo viên chỉ định hướng và bổ sung
thêm thông tin.
Cụ thể:
Sau chương VI: Nhóm OXI- Lưu huỳnh (Hóa học 10). Tôi cho học sinh chuẩn bị trước
trình bầy và thảo luận về các vấn đề:
Chuyên đề 1: Giáo dục về ô môi trường.
+ Sự suy thoái của tầng Ozon.
+ Hiện tượng mưa axit.
+ Ô nhiễm không khí.
+ Ô nhiễm nguồn nước.
Sau chương III. Cacbon – Silic ( Hóa học 11). Tôi cho học sinh chuẩn bị trước sau đó
trình bầy và thảo luận về các vấn đề:
Chuyên đề 2: Kỹ năng sống – Ô nhiễm môi trường.
+ Cách sử lý khi gặp hỏa hoạn, nguyên nhân gây hỏa hoạn, cách dùng bình cứu hỏa.
+ Hiệu ứng nhà kính.
+ Sự ô nhiễm môi trường đất.
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
3. Sử dụng các bài tập trắc nghiệm về hiện tượng thực tế cuối mỗi chương.
>7
Hoa sẽ có màu
Lam
Trắng sữa
Hồng
Khi trồng loài hoa trên, nếu ta bón thêm 1 ít vôi (CaO) hoặc đạm 2 lá (NH4NO3)và chỉ tưới
nước thì khi thu hoạch hoa sẽ có màu lần lượt là
A. Hồng – Lam. B. Lam - Hồng.
C. Trắng sữa - Hồng.
D. Hồng - Trắng sữa.
Ví dụ 2: Người ta biết chất diệp lục trong cây xanh có công thức phân tử C 55H70O5N4Mg.
Cây xanh tạo chất này nhờ CO2 (trong không khí), hiđro (từ nước trong đất) và các chất vô cơ
là nitơ, magie (từ đất lên). Khi cây bị vàng lá người ta nghi là không đủ chất diệp lục. Vậy
theo em nên bón loại phân nào sau đây giúp cây tạo chất diệp lục hiệu quả nhất ?
A. NaNO3 và KCl
B. (NH4)2SO4 và MgSO4
C. Ca3(PO4)3 và MgCO3
D. Ure
4. Thay đổi cách kiểm tra đánh giá.
Ngoài việc kiểm tra những kiến thức trọng tâm của chương, thì cũng cần sử dụng thêm
những câu hỏi cả trắc nghiệm và bài tập dựa trên kiến thức đã học để giải quyết vấn đề của
thực tiễn đời sống. Việc đổi mới giảng dạy cần thực hiện một cách đồng bộ: Cùng với việc
đổi mới giảng dạy cần đổi mới cả kiểm tra đánh giá để đạt được kết quả cao nhất.
II. 2: Các giải pháp cụ thể cho từng chương:
Lớp 10
Ví dụ 3: Tại sao nước máy thường dùng ở các thành phố lại có mùi khí clo ?
Giải thích: Trong hệ thống nước máy ở thành phố, người ta cho vào một lượng nhỏ khí
clo vào để có tác dụng diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và một phần tác dụng với nước:
Cl2 + H2O HCl + HClO
Axit hipoclorơ HClO sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng khử trùng, sát
khuẩn nước. Phản ứng thuận nghịch nên clo rất dễ sinh ra do đó khi ta sử dụng nước ngửi
được mùi clo.
Ví dụ 4: Cloramin là chất gì mà sát trùng được nguồn nước?
Giải thích: Cloramin là chất NH2Cl và NHCl2. Khi hoà tan cloramin vào nước sẽ giải
phóng cho ra khí Clo. Clo tác dụng với nước tạo ra HClO.
Cl2 + H2O HCl + HClO
HClO có tính oxy hóa rất mạnh nên phá hoại hoạt tính một số enzim trong vi sinh vật,
làm cho vi sinh vật chết. Cloramin không gây độc hại cho người dùng nước đã được khử trùng
bằng chất này.
Áp dụng: Giáo viên dùng các câu hỏi VD3, VD4 cho học sinh về nhà tìm hiểm trước
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Bài 23: Hiđroclorua. Axit clohiđric và muối Clorua.
Ví dụ 1. Vì sao nước mắt lại mặn ?
Giải thích: Nước mắt mặn là vì trong một lít nước mắt có tới 6g muối. Nước mắt sinh
ra từ tuyến lệ nằm ở phía trên mi ngoài của nhãn cầu. Nước mắt thu nhận được muối từ máu
(trong một lít máu có 9 g muối). Nước mắt có tác dụng bôi trơn nhãn cầu, làm cho nhãn cầu
không bị khô, bị xước và vì có muối nên còn có tác dụng hạn chế bớt sự phát triển của vi
khuẩn trong mắt.
Áp dụng: Sử dụng để vào bài mới
Ví dụ 2: Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần trạng thái tự nhiên.
Cuối bài học sử dụng thêm các câu hỏi cho học sinh về nhà tìm hiểu như:
Ví dụ 5: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn (NaCl)?
Ví dụ 6: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước ?
Ví dụ 7: Biển chết nằm ở đâu ?
Ví dụ 5: Biển chết nằm ở đâu ?
Gải thích: "Biển Chết" nằm ở biên giới Palestin và Jordan, gọi là "biển" nhưng thực ra
"Biển Chết" chỉ là cái hồ khá lớn. Biển chết không hề có đường nước thông với bất kỳ đại
dương nào. Từ bao đời nay nước hồ chưa bao giờ chảy ngược về hai con sông trên. Nước
trong hồ có nồng độ muối ngày càng cao, do nằm trong khu vực có khí hậu cực nóng, nên
nước hồ bốc hơi rất nhiều mà lượng muối lại không hề giảm đi. Hiện nay hàm lượng muối của
Biển Chết đã đạt đến 23 → 25%, tức cứ 10 kg nước hồ thì có 2 kg muối. Đây cũng là nước hồ
có hàm lượng muối cao nhất thế giới. Do hàm lượng muối cao nên sức đẩy của nước khá lớn
đến mức có thể nằm vừa phơi nắng vừa đọc báo trên mặt biển. Vì hàm lượng muối quá cao
nên trừ vài loài rong tảo ra chẳng có sinh vật nào có thể tồn tại được. Cây cỏ trên bờ hồ cũng
chỉ lơ thơ, thưa thớt còn quanh hồ hiếm khi chẳng có bóng người. Vì vậy chẳng có cái tên nào
thích hợp hơn cái tên "Biển Chết".
Ví dụ 6: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước ?
Giải thích: Muối ăn có thành phần chính là natri clorua, ngoài ra còn có ít muối khác như
magie clorua …, Magie clorua rất ưa nước, nên nó hấp thụ nước trong không khí và rất dễ tan
trong nước. Muối sản xuất càng thô sơ thì càng dễ
bị chảy nước khi để ngoài không khí.
Ví dụ 7: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn (NaCl)?
Giải thích: Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100oC, nếu ta thêm NaCl thì lúc đó
làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi (dung dịch NaCl loãng) là > 100oC. Do nhiệt độ sôi của
nước muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời gian luộc rau không lâu nên rau ít mất
đèn cồn để đun nóng ở phần đáy ống nghiệm. Khi xuất hiện luồng khí màu tím bốc ra từ ống
nghiệm, bạn sẽ thấy trên phần giấy trắng( bình thường không nhận ra dấu vết gì) dần dần hiện
lên dấu vân tay màu nâu, rõ đến từng nét. Nếu bạn ấn đầu ngón tay lên một trang giấy trắng
rồi cất đi, mấy tháng sau mới đem thực nghiệm như trên thì dấu vân tay vẫn hiện ra rõ ràng.
Trên đầu ngón tay chúng ta có dầu béo, dầu khoáng và mồ hôi. Khi ấn ngón tay lên mặt giấy
thì những thứ đó sẽ lưu lại trên mặt giấy, tuy mắt thường rất khó nhận ra.
Khi đem tờ giấy có vân tay đặt đối diện với mặt miệng ống nghiệm chứa cồn iôt thì do bị đun
nóng iôt “thăng hoa” bốc lên thành khí màu tím ( chú ý là khí iôt rất độc), mà dầu béo, dầu
khoáng và mồ hôi là các dung môi hữu cơ mà khí iôt dễ tan vào chúng, tạo thành màu nâu trên
các vân tay lưu lại. Thế là vân tay hiện ra.
Áp dụng: Dùng để tạo hình huống bắt đầu vào bài học.
Ví dụ 2 . Mặt trong của chảo chống dính chứa chất gì ?
Giải thích: Măt trong của chảo chống dính chứa (-CF2-CF2-)n được tôn vinh là “vua
chất dẻo” thường gọi là “teflon”. Politetra floetilen chỉ chứa 2 nguyên tố C và F nên liên kết
với nhau rất bền chắc. Khi cho teflon vào axit vô cơ hay axit H 2SO4 đậm đặc, nước cường
thủy( hỗn hợp HCl và HNO 3 đặc), vào dung dịch kiềm đun sôi thì teflon không hề biến chất.
Dùng teflon tráng lên đáy chảo khi đun với nước sôi không hề xảy ra bất kì tác dụng nào. Các
loại dầu ăn, muối, dấm,… cũng xảy ra hiện tượng gì. Cho dù không cho dầu mỡ mà trực tiếp
rán cá, trứng trong chảo thì cũng không xảy ra hiện tượng gì.
Một điều chú ý là không nên đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon ở nhiệt độ trên 250 oC
là bắt đầu phân hủy và thoát ra chất độc. Khi rửa chảo không nên chà xát bằng các đồ vật cứng
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
vì có thể gây tổn hại cho lớp chống dính. “chảo không dính” khi chiên rán thức ăn lại không bị
dính chảo?
Áp dụng: Khi giới thiệu về ứng dụng của flo.
Ví dụ 3. Đối với cơ thể muối iot có vai trò như thế nào ?
Giải thích: Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố
NaI (nhằm cung cấp iod cho cơ thể). Để phân biệt muối thường và muối iod ta vắt nước chanh
vào muối, sau đó thêm vào một ít nước cơm. Nếu thấy màu xanh đậm xuất hiện chứng tỏ
muối đó là muối iod.
Do Nước chanh có môi trường axit. Trong môi trường axit, NaI không bền bị phân hủy
một phần thành I2. I2 mới tạo thành tác dụng với hồ tinh bột có trong nước cơm tạo thành phức
chất có màu xanh đậm
Áp dụng: Giáo viên đặt câu hỏi về nhà cho học sinh tìm hiểu.
2. Sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá.
Trắc nghiệm chương Halogen.
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Câu 1: Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể người cần được cung cấp
1,5.10-4 g nguyên tố iot. Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì khối lượng KI cần dùng cho một
người trong một ngày là bao nhiêu?
A. 0,01 (g)
B. 0,02 (g)
C. 1,96 .10 -4 (g)
D. 10-4(g)
Câu 2: Na được thu nhận vào cơ thể chủ yếu dưới dạng ion Na+ (muối NaCl). Thường mỗi
ngày mỗi người trưởng thành thì cần khoảng 4-5 gam Na+ . Vậy nếu muốn cung cấp 4,6 (g)
Na+ cho cở thể thì cần dùng lượng muối ăn NaCl tương ứng là bao nhiêu ?
A. 10,1 (g)
B. 11,7 (g)
C. 5,85 (g)
D. 15 (g)
Câu 3: Có hai nguyên tố halogen khi ở dạng đơn chất đều độc hại với cơ thể người nhưng ở
dạng hợp chất muối natri lại cần thiết cho cơ thể người. Hãy cho biết tên hai nguyên tố đó ?
A. dd NH3
B. dd NaCl
C. dd NaOH
D. dd Đường
Câu 9: Brom là một chất lỏng rất độc và dễ bay hơi nên rất nguy hiểm. Trong phòng thí
nghiệm chẳng may đánh đổ một ít brom lỏng ra nền nhà. Người ta khử độc Br 2 bằng cách nảo
sau đây
A. Đổ vào đó một ít nước
B. Dùng chổi quyét
C. Nhỏ dd NH3 đặc vào đó.
D. Nhỏ dd NaOH vào đó.
Câu 10: Clo sử dụng để sát trùng nước sinh hoạt không được vượt quá 0,5ppm (phần triệu) vì
lý do chủ yếu nào sau đây?
A. An toàn cho người dùng.
B. Giảm ăn mòn ống dẫn.
C. Bảo vệ môi trường.
D. Giảm giá thành.
Câu 11: Muối thô để một thời gian trong không khí thường bị chảy nước, đó là do:
A. Có lẫn MgCl2, là chất dễ hấp thụ nước trong không khí.
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
B. NaCl hấp thụ nước trong không khí.
C.Để bảo vệ đường ống dẫn nước.
D.Để giữ cho ống dẫn nước luôn sạch.
Câu 16: Iod là nguyên tố vi lượng rất cần thiết đối với con người. Mỗi ngày cơ thể con người
cần đượccung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 g iod. Thiếu iod làm não bị hư hại nên người ta trở nên
đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iod còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng
loạt rối loạn khác. Để khắc phục sự thiếu hụt iod, người ta phải cho thêm hợp chất của iod vào
thực phẩm như: muối ăn, sữa, kẹo,… Muối iod là muối ăn có trộn thêm một lượng nhỏ:
A. KI hoặc KIO3
B.NaI
C. NaIO3
D.NaI và KIO3
Câu 17: Đầu que diêm ngoài S, C, P còn chứa 50% KClO3. Vai trò của KClO3 là:
A. Chất cung cấp oxi để đốt cháy C, S, P.
B. Làm chất kết dính.
C. Làm tăng ma sát giữa đầu que diêm và vỏ bao diêm.
D. Làm chất phát hỏa.
Câu 18: Ứng dụng nào sau đây không phải của clorua vôi ?
A. Tiêu diệt vi khuẩn cúm gà.
B. Tẩy trắng vải sợi.
C. Tẩy uế các hố rác, cống rãnh.
D. Dùng trong việc tinh chế dầu mỏ.
Câu 19: Để diệt chuột ngoài đồng, người ta có thể cho khí clo qua những ống mềm vào hang
chuột. Hai tính chất nào của clo cho phép sử dụng clo như vậy?
A. Clo độc và nặng hơn không khí.
B. Clo độc và có mùi xốc.
C. Clo độc và tan được trong nước.
D. Clo có mùi xốc và nặng hơn không khí.
Câu 20: Thiếu muối iot gây ra bệnh bướu cổ. Khối lượng KI cần lấy để trộn với muối ăn để
sản xuất 10 tấn muối iot chứa 1,9% iot là
A. 0,19 tấn
B. 13,422 tấn
C. 16,422 tấn
D. 27,422 tấn.
3. Để kiểm tra đánh giá cuối chương.
Cùng với việc kiểm tra đánh giá các kiến thức trọng tâm của chương cần sử dụng cả
các bài tập thực tiễn vào bài kiểm tra. Có kiểm tra đánh giá học sinh sẽ càng quan tâm và chú
ý hơn vì tâm lý của học sinh vẫn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng học để lấy điểm.
Ví dụ:
Sở GD – ĐT Nam Định
Trường THPT Tống Văn Trân
ĐỀ KIỂM TRA CHƯƠNG HALOGEN.
Môn: Hóa Học 10 ( 45 phút )
I. Trắc nghiệm (2 đ)
Câu 1: Nguời ta có thể sát trùng bằng dung dịch muối ăn NaCl nồng độ khoảng 0,9%, chẳng hạn như
hoa quả tươi, rau sống được ngâm trong dung dịch NaCl từ 10 – 15 phút. Khả năng diệt trùng của
dung dịch NaCl là do
A. dung dịch NaCl có thể tạo ra ion Na+ độc.
B. dung dịch NaCl có thể tạo ra ion Cl+ khử.
C. vi khuẩn chết vì bị mất nước do thẩm thấu
D. dung dịch NaCl độc.
Câu 2: Brom là một chất lỏng rất độc và dễ bay hơi nên rất nguy hiểm. Trong phòng thí nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
C. Flo có tính oxi hóa mạnh hơn clo.
D. Dung dịch HF hòa tan được SiO2
Câu 7: Dung dịch axit nào dưới không được chứa trong bình thuỷ tinh:
A. HF.
B. HCl.
C. H2SO4.
HNO3
Câu 8: Khí nào sau đây không bị oxi hoá bởi nước Gia-ven?
A. SO2.
B. CO2.
C. HCHO.
H2S.
D.
D.
II. Tự luận (8 đ)
Bài 1. Có hai nguyên tố halogen khi ở dạng đơn chất đều độc hại với cơ thể người nhưng ở dạng hợp
chất muối natri lại cần thiết cho cơ thể người.
a.Hãy cho biết tên hai nguyên tố đó, tên hợp chất muối natri của chúng. Đồng thời cho biết vai
trò của 2 nguyên tố đó đối với cơ thể người.
b. Hãy phân biệt 2 muối trên bằng phương pháp hóa học ?
c. Nếu dùng nước chanh và nước cơm có nhận biết được hai muối trên không? Giải thích?
Bài 2: Cho 17,4 gam MnO2 tác dụng hết với dung dịch HClđặc lấy dư. Toàn bộ khí sinh ra được hấp
thụ hết vào 145,8 gam dung dịch NaOH 20% (ở nhiệt độ thường) tạo ra dung dịch A. Hỏi dung dịch A
có những chất tan nào ? Tính nồng độ phần trăm của từng chất tan đó.
Bài 3. Trong phòng thí nghiệm người ta điều chế hidroclorua theo sơ đồ thí nghiệm dưới đây
Do ban đêm không có ánh sáng cây không quang hợp, chỉ hô hấp nên hấp thụ khí O 2 và
thải ra khí CO2 làm trong phòng thiếu O2 và quá nhiều CO2.
Áp dụng: Trong quá trình giảng dạy về trạng thái tự nhiên cua O2.
Ví dụ 3: Máy khử độc O 3 dùng để khử trùng thức ăn, rau quả…Hoạt động dựa
trên cơ chế tính chất nào ?
Giải thích: Máy tạo Ozon khử độc lấy không khí từ bên ngoài, không khí được đưa
vào một điện trường và tia lửa điện với hiệu điện thế trên 4000V (nằm trong máy) khí ozon
được tạo ra và đẩy lên qua một đầu lọc rồi hoà tan trong nước bằng lực quay ly tâm. Rau, quả,
thịt cá được khử độc ngay trong máy, hết thời gian khử độc, xả nước ra bên ngoài, vặn đồng
hồ một phút để máy vắt khô, mở nắp ra chờ trong vòng ba phút, khí ozon sẽ được phân ly
thành một phân tử (O2) và một nguyên tử oxi [O] rất có lợi cho sức khoẻ: O3 O2 + [O]
Áp dụng: Dùng trong khi dạy về tính chất hóa học của O3.
Ví dụ 4. Vì sao sau những cơn giông, không khí trở nên trong lành, mát mẻ hơn ?
Giải thích: Sau những cơn mưa, không khí trong lành, sạch sẽ. Sở dĩ như vậy là có hai
nguyên nhân:
Nước mưa đã gột sạch bụi bẩn làm bầu không khí được trong sạch.
Trong cơn giông đã xảy ra phản ứng tạo thành ozon từ oxi: 3O2 UV
→ 2O3
Khi nồng độ ozon nhỏ, người ta cảm giác trong sạch, tươi mát.Do vậy sau cơn mưa giông
trong không khí có lẫn ít ozon làm cho không khí trong sạch, tươi mát.
Áp dụng: Vấn đề này được dùng để củng cố bài Oxi – Ozon giúp học sinh
kiểm nghiệm trong cuộc sống.
Ví dụ 5. Oxi có vai trò như thế nào đối với sự hô hấp ? Nếu thở bằng khí O 2 tinh khiết có
tốt không?
Giải thích: Không khí là hỗn hợp gồm 78% nitơ; 21% oxi và một lượng nhỏ khoảng 1
% gồm các khí cacbonic, agon, xenon, heli...
Sáng kiến kinh nghiệm
(2)
Trong tàu ngầm người ta dùng natripeoxit để cung cấp O 2 (theo 2) và hấp thụ khí CO2 do
thủy thủ đoàn hô hấp thải ra bằng dung dịch NaOH tạo ra từ (1)
Áp dụng: Khi giới thiệu về ứng dụng của H2O2 và hợp chất
Ví dụ 2. Hãy giải thích tại sao những bức tranh cổ ( vẽ bằng bột chì, thành phần chính là
muối bazơ 2PbCO3.Pb(OH)2) thường có màu đen? Tại sao có thể dùng H 2O2 để phục hồi bức
tranh cổ này?
Giải thích: Những bức tranh cổ vẽ bằng bột chì (thành phần chính là muối bazơ
2PbCO3.Pb(OH)2) . Khi để lâu bột chì tác dụng với H2S trong không khí tạo thành PbS màu
đen.
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
2PbCO3.Pb(OH)2
+
3H2S
3PbS +
2CO2 +
4H2O
Có thể dùng H2O2 để phục hồi những bức tranh này, vì PbS (màu đen) biến thành PbSO4
màu trắng theo phản ứng :
PbS
+
4H2O2
PbSO4
+
4H2O
Áp dụng: Khi giới thiệu về ứng dụng của H2O2 và hợp chất
C
36
13,33%
Hỗn hợp thuốc nổ
270
100%
Khối lượng gam
%
Phản ứng chủ yếu:
2KNO3 + S + 3C → K2S + N2↑ + 3CO2 ↑
Kết quả là thuốc nổ đen cháy tạo ra một thể tích khí lớn gấp khoảng 2000 lần thể tích thuốc
nổ ban đầu. Nó sẽ cháy yên lặng trong bình hở và sẽ nổ tung trong bình kín.Công thức kinh
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
nghiệm thuốc nổ đen: nhất đồng thán (một phần than), bán đồng sinh (nửa phần lưu huỳnh),
lục đồng diêm (sáu phần diêm) gần đúng với công thức thuốc nổ đen hiện dùng:
15% C + 10% S + 75% KNO3
Áp dụng:Đặt câu hỏi về nhà cho học sinh tìm hiểu.
Bài 32: Hiđro sunfua
Ví dụ 1: Năm 1950 tại Mexico một nhà máy hóa chất đã thải ra ngoài môi trường một lượng
lớn H2S trong vòng 30 phút hậu quả làm cho 22 người chết và 320 người trong thành phố
Pozarica phải nhập viện vì nhiễm độc. Vậy Hidrosufua có tính chất vật lý và hóa học như thế
nào và nó ảnh hương như thế nào đến cuộc sống của chúng ta ?
Áp dụng: Dùng để bắt đầu vào bài học.
khuẩn. Không cho vi khuẩn phát triển nên giữ cho thức ăn không bị ôi thiu.
Áp dụng: Đặt câu hỏi về nhà cho học sinh tìm hiểu.
Bài 32: Lưu huỳnh đioxit và lưu huỳnh trioxit
Ví dụ 1. Màn khói giết người đã xảy ra ở đâu ?
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Ngày 5 tháng 12 năm 1952, nước Anh (nước được mệnh danh là xứ sở của sương mù)
tại Luân Đôn đã xẩy ra sự kiện “màn khói giết người” làm chấn động thế giới. Việc giám sát
môi trường cho thấy hàm lượng khí SO2 cao tới 3,8mg/m3, gấp 6 lần và nồng độ bụi khói lên
tới 4,5mg/m3 gấp 10 lần so với ngày thường. Dân trong thành phố thấy tức ngực, khó thở và
ho liên tục. Chỉ trong vòng 4, 5 ngày đã có hơn 4000 người chết trong đó phần lớn là trẻ em
và người già, hai tháng sau lại có trên 8000 người nữa chết.
Nguyên nhân của “màn khói giết người” ở thành phố Luân Đôn là do khói than của các
nhà máy quyện vào với sương mù buổi sớm mùa đông gây ra.
Áp dụng: Để tạo tình huống vào bài mới.
Ví dụ 2: SO2 độc hại như thế nào với con người và ảnh hưởng gì đến môi trường?
Giải thích: Ðioxit sunfua (SO2) là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ thấp trong
khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu. Đioxit sunfua sinh ra do núi lửa phun, do đốt
nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua,.v.v... SO 2 rất độc hại đối với
sức khoẻ của người và sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí phế quản. SO 2 trong không khí
khi gặp oxy và nước tạo thành axit, tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng mưa axit.
Áp dụng: khi giới về tính chất vật lý của SO2.
Bài 33: Axit sunfuric và muối sunfat
Ví dụ 1: Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót từ từ
axit sunfuric đậm đặc vào nước ?
Giải thích: Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn. Axit sunfuric đặc
Nguyên do là thầy thuốc chẩn đoán bệnh đau dạ dày cho người bệnh thường phải
chụp X quang. Chụp X quang đối với dạ dày không dễ như với các bộ phận xương cốt, bởi vì
tỷ trọng của xương lớn, tia X khó xuyên qua, trên phim chụp có thể lưu lại những hình ảnh
đậm còn tỷ trọng của dạ dày và các tổ chức xung quanh tương đối mềm nên ảnh chụp không
rõ nét.
Khi bệnh nhân ăn xong, BaSO 4 đã vào tới dạ dày thì tiến hành chụp X quang bởi vì BaSO 4
ngăn cản tia X rất tốt. Từ đó Thầy thuốc có thể chẩn đoán chính xác tình trạng dạ dày.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi khi dạy về muối sunfat.
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
2. Cho học sinh xây dựng chuyên đề 1 về môi trương.
Chuyên đề 1: Sự ô nhiễm môi trường.
Cuối chương 6: Tôi giao nhiệm vụ trước 1 tuần cho học sinh về trao đổi, tìm hiểu, thiết kế và
trình bầy trên phần mềm Power point. Sau đó dành 1 hoặc 2 tiết để cho học trình bầy thảo
luận về các vấn đề:
+ Sự suy thoái của tầng Ozon.
+ Hiện tượng mưa axit.
+ Ô nhiễm không khí.
+ Ô nhiễm nguồn nước.
Cách tiến hành: Chia lớp thành 4 nhóm và giao câu hỏi cho các em về nhà chuẩn bị trước
trên phần mềm Power point và trực tiếp lên bảng thuyết trình. Giáo viên chỉ định hướng về
nội dung chuẩn bị và cung cấp thêm thông tin còn thiếu khi các em thuyết trình. Sau đó có
đánh giá kết quả từng nhóm và cho điểm.
Định hướng nội dung chuẩn bị của từng nhóm như sau:
Nhóm 1: Tìm hiểu về Tầng Ozon
+ Biện pháp khắc phục?
+ Biện pháp khắc phục?
Tôi thấy học sinh rất hào hứng chuẩn bị và lên bảng trình bày rất sôi nổi. Cụ thể bài làm của
các nhóm học sinh trên phần mền Power point như sau:
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
3. Các câu hỏi trắc nghiệm liên hệ thực tế cuối chương.
Trắc nghiệm chương: Oxi – Lưu huỳnh.
Câu 1: Khí SO2 do các nhà máy thải ra là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường.
Tiêu chuẩn quốc tế quy định: nếu lượng khí SO2 vượt quá 30.10-6 mol/m3 thì coi là không khí
bị ô nhiễm. Nếu người ta lấy 50 lit không khí ở khu vực có nhiều nhà máy và phân tích thấy
có 0,012 mg SO2 thì không khí ở đó như thế nào ?
A. chưa bị ô nhiễm
B. bị ô nhiễm ít
C. bị ô nhiễm nặng
D. chưa đủ dữ kiện để đánh giá
Câu 2: Trước khi chụp X-quang dạ dày cho bệnh nhân, bác sĩ thường cho họ ăn một thứ hồ
bột màu trắng. Lớp hồ bột này có tác dụng giúp cho dạ dày ngăn tia X tốt hơn so với các nội
tạng chung quanh. Phim chụp X-quang trở nên rõ ràng và thuận lợi hơn cho việc chẩn đoán
bệnh.
Vậy thứ hồ bột màu trắng ấy là gì ?
A. BaSO4
B.CaSO4
D. Để bột giặt trong hộp không có nắp đậy nơi cao ráo.
Câu 7: Ứng dụng nào sau đây không phải của lưu huỳnh dioxit ?
A. Lưu hóa cao su.
B. Sản xuất axit sunfuric.
C. Tẩy trắng giấy.
D. Chống nấm mốc cho lương thực, thực phẩm.
Câu 8: Khí nào sau đây được coi là nguyên nhân làm cho máu bị đen khi bị ngộ độc ?
A. H2S
B. SO2
C. N2
D. CO2
Câu 9: Chất nào dưới đây góp phần nhiều nhất vào sự hình thành mưa axit ?
A. SO2
B. CO2
C. CH4
D. Cl2
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Câu 10: Đồ dùng, đồ trang sức bằng bạc lâu ngày bị biến đổi sang màu đen, đó là do :
A. Bạc tiếp xúc với không khí có H2S bị biến đổi thành Ag2S màu đen.
B. Bạc bị oxi không khí oxi hóa thành Ag2O có màu đen.
C. Bạc có lẫn tạp chất nên dễ bị oxi hóa thành Ag2O có màu đen.
D. Bạc bị phủ một lớp bụi bẩn trong không khí nên có màu đen.
Câu 11: Muối gì được dùng làm thuốc ảnh, tráng lên mặt cuộn phim ?
A. AgBr
B. NaBr
C. PbBr2
D. AgNO3
Câu 17: Hidro sunfua nặng hơn không khí và trong tự nhiên có nhiều nguồn phát sinh ra nó
như núi lửa, xác động vật bị phân hủy, nhưng tại sao trên mặt đất khí này không tích tụ lại?
A. H2S bị oxi hóa không hoàn toàn tạo ra S không tan.
B. H2S bị phân hủy thành H2 và S ở nhiệt độ thường.
C. H2S tác dụng với H2O trong không khí tạo thành dung dịch H2S.
D. H2S bị oxi hóa hoàn toàn thành SO2
Câu 18: Các nguyên tắc vận tải axit sunfuric đậm đặc đựng trong các toa thùng bằng Fe yêu
cầu một cách nghiêm ngặt phải đóng kín ngay tức khắc vòi thoát sau khi tháo axit ra khỏi toa
thùng. Tại sao sau khi tháo axit rồi mà khoá chặt ngay vòi lại thì toa thùng không bị hư hỏng,
còn nếu cứ để mở thì thùng không dùng được tiếp nữa?
A. Vì nếu mở thì O2 sẽ phản ứng các chất trong toa thùng.
B. Vì Axit đặc còn lại trong bình sẽ hút nước thành axit loãng phản ứng với toa thùng.
C. Vì CO2 trong không khí làm hỏng các hóa chất.
D. Để an toàn cho người vận chuyển.
Câu 19: Sự suy giảm tầng ozon của khí quyển có nguyên nhân chính là do
A. nạn cháy rừng trên thế giới.
B. chất CFC mà ngành công nghiệp lạnh thải vào khí quyển.
C. Trái Đất nóng lên.
D. khí CO2 do các nhà máy thải vào khí quyển.
Sáng kiến kinh nghiệm
GV: Nguyễn Viết Tấn
Câu 20: Từ năm 2003, nhờ bảo quản bằng nước ozon, mận Bắc Hà - Lào Cai đã có thể
chuyên chở vào thị trường thành phố Hồ Chí Minh, nhờ đó bà con nông dân đã có thu nhập
cao hơn. Nguyên nhân nào sau đây làm cho nước ozon có thể bảo quản hoa quả tươi lâu ngày:
Chọn câu trả lời đúng.
A. Ozon dễ tan trong nước hơn oxi.
B. Ozon hút nước mạnh làm hoa quả tươi lâu
C. Ozon không độc, có tính OXH mạnh và có tính sát trùng cao.
chất này thải vào không khí một chất rất độc là PbO. Khối lượng PbO đã thải vào khí quyển
hằng năm khi đốt xăng gần với giá trị nào sau đây nhất?
A. 165 tấn. B. 157 tấn.
C. 185 tấn.
D. 145 tấn.
Câu 26 Trong khí thải công nghiệp thường chứa các khí SO2, NO2, HF. Có thể dùng chất nào
(rẻ tiền) sau đây để loại bỏ các khí đó?
A. Ca(OH)2
B. NaOH
C. NH3
D. HCl
Câu 27. Dẫn không khí bị ô nhiễm đi qua giấy lọc tẩm dung dịch Pb(NO 3)2 thấy dung dịch
xuất hiện vết màu đen. Không khí đó đã bị nhiễm bẩn khí nào sau đây:
A. SO2
C. NO2
C. Cl2
D. H2S
4. Để kiểm tra đánh giá cuối chương.
Ví dụ:
Sở GD – ĐT Nam Định
Trường THPT Tống Văn Trân
Ề KIỂM TRA CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH.
Môn: Hóa Học 10 ( 45 phút )
I. Trắc nghiệm (2 đ)
Câu 1: Khí SO2 do các nhà máy thải ra là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường.