ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ NGỌC ÁNH
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ NGỌC ÁNH
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. TRẦN PHÚC THĂNG
Hà Nội - 2013
LỜI CAM ĐOAN
NXB
:
Nhà xuất bản
THPT
:
Trung học phổ thông
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
XH
:
Xã hội
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT ở Hà Nội hiện nay........................................................................... 29
1.2.1. Tình hình kinh tế- chính trị quốc tế và trong nước..................... 29
1.2.1.1. Tác động của kinh tế thị trường............................................... 29
1.2.1.2. Tác động của điều kiện quốc tế ............................................... 31
1
1.2.2. Đặc điểm tình hình của địa phương. ........................................... 31
1.2.3. Đặc điểm của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội. .............. 35
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN
NAY VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ............................. 39
2.1. Thực trạng về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh ở một số
trường THPT tại Hà Nội hiện nay. .......................................................... 39
2.1.1. Thực trạng về đạo đức học sinh THPT ở Hà Nội hiện nay. ....... 39
2.1.2. Thực trạng về nhận thức vai trò của giáo dục đạo đức đối với học
sinh. .......................................................................................................... 42
2.1.3. Thực trạng về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh ở các
trường THPT ở Hà Nội hiện nay ........................................................... 44
2.1.4. Thực trạng về phương pháp giáo dục đạo đức học sinh ở các
trường THPT tại Hà Nội hiện nay ......................................................... 48
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế. ..................................................... 50
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY ............................................. 54
3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục đạo đức trong nhà
trường trung học phổ thông hiện nay. ..................................................... 54
3.2. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức ......................... 57
3.2.1. Đổi mới nội dung giáo dục phải lấy giáo dục định hướng làm trung
giữa con người với nhau trong một cộng đồng, một xã hội nói chung. Cho dù
ở giai đoạn nào của lịch sử thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng thiện,
chống lại cái ác, hướng tới quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người, với
tự nhiên và với xã hội. Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW Đảng khóa
VIII chỉ rõ: “ Thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí tuệ, thể dục, mỹ dục ở
tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách,
khả năng tư duy sáng tạo, năng lực thực hành” [11, tr .33]. Điều 2, Luật giáo
dục nước CHXHCN Việt Nam năm 2005 cũng quy định “ Mục tiêu giáo dục
là đào tạo người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe
thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” [28, tr.3].
Điều lệ trường trung học ban hành theo quyết định số 07/2007/QĐ - Bộ GD
&ĐT ngày 2/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cũng ghi rõ “ Học sinh được
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo Quy chế đánh giá và xếp
loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo” [5, tr.7]. Trong Chương V Điều 38
của điều lệ quy định “ Nhiệm vụ của học sinh phải rèn luyện về đạo đức nhằm
cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng ” [5, tr.14].
4
Do vậy, quá trình giáo dục trong nhà trường thì nhiệm vụ giáo dục tri
thức luôn luôn phải gắn liền với nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thông qua “dạy
chữ” để “dạy người”, giáo dục đạo đức là một khâu then chốt để giáo dục
nhân cách con người.
Một con người có nhân cách là con người vừa có “ tài ” lại vừa có “
đức ”, đức là nền tảng, là gốc của mọi việc. Đúng như Bác Hồ đã từng nói: “
Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm
việc gì cũng khó”. Bởi vậy, từ xưa đến nay, ông cha ta đã khẳng định mục
lý tưởng, không mục đích, không niềm tin, ngại khó khăn, ngại cống hiến...
Cũng chưa bao giờ truyền thống “ tôn sư trọng đạo ” lại bị xúc phạm và xoi
mói đến thế. Nhiều thầy cô giáo không chịu nổi trước những hành vi bất kính,
thô tục, vô lễ của học sinh. Xưa hiếm có chuyện trò đánh chửi lại thầy nhưng
nay cũng chưa thể thống kê được số vụ học trò hành hung đánh chửi, gây
thương tích cho thầy cô giáo của mình, lại càng không thể thống kê được số
vụ học trò vô lễ, bất kính với thầy là bao nhiêu.
Nhận định về tình hình trên, Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII,
khóa 10 (năm 2008) chỉ rõ “ Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng,
giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành
pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyến thống văn hóa dân tộc ” [13,tr 27].
Cũng nói về thực trạng này, báo cáo của Bộ Giáo dục trình Chính phủ
tháng 10/2004 nêu rõ: “ Điều đáng lo ngại nhất ở một bộ phận học sinh, đặc
biệt bậc trung học là những biểu hiện của lối sống thực dụng, từ đó dẫn đến
tình trạng đối phó, gian lận, thiếu trung thực, trước hết là trong học tập, mức
độ phổ biến của hiện tượng này cao hơn nhiều so với những năm trước đây.
Một tỉ lệ nhỏ học sinh bậc trung học có những thiếu hụt khá rõ rệt về nhận
thức, thái độ và hành vi về đạo đức, trong đó có một số rơi vào tệ nạn xã hội,
vi phạm pháp luật như nghiện ma túy, gây rối trật tự công cộng, đặc biệt
6
nghiêm trọng và đáng báo động là những trường hợp cá biệt trở thành tội
phạm hình sự với các tội danh hiếp dâm, giết người, cướp của, hành hung
thầy cô giáo” [4].
Như vậy, có thể nói tình trạng đạo đức của học sinh đang ở trong tình
trạng đáng báo động. Những hiện tượng tiêu cực trên cho thấy công tác giáo
dục đạo đức, lối sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh bậc trung học chưa
thực sự được coi trọng và cần có sự đổi mới cho phù hợp với tình hình xã hội
cách mạng. Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và
phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người
viết: “ Cũng như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng thì
phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo
được nhân dân” [40,tr5]. Theo Người, đạo đức cách mạng giúp con người
vững vàng trong mọi thử thách, không lùi bước khi gặp khó khăn gian khổ,
thất bại, mới giữ vững tinh thần để lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ…
Người còn dạy: “ Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong ” và
trên tất cả là cuộc đời vì nước, vì dân của Người, đó là tấm gương đạo đức
cao cả nhất, sáng nhất để mọi thế hệ sau noi theo.
Đảng và Nhà nước ta cũng đã nhận thức sâu sắc về vai trò, động lực to
lớn của đạo đức cách mạng đối với sự tiến bộ xã hội. Chính vì vậy, năm 1979,
khi Bộ Chính trị ra nghị quyết về đổi mới cải cách giáo dục, Ủy ban cải cách
giáo dục đã có quyết định số 01 mở cuộc vận động “ Tăng cường giáo dục
đạo đức cách mạng trong các trường học ”. Trong lời khai mạc Hội nghi khoa
học về giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học (Tổ chức tại Nha Trang
từ 17/4 đến 18/4/1980) cho các tỉnh phía Nam và từ (28/4 đến 5/5/1980 ) cho
các tỉnh phía Bắc tại Hà Nội, Thứ trưởng Võ Thuần Nho đã cung cấp một số
lý luận và tư tưởng về giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học, kinh
nghiệm giáo dục đạo đức của những trường làm tốt.
8
Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở đầy năng động hiện nay
đã tạo ra những định hướng xã hội mới, bên cạnh những giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp, những giá trị của con người mới cũng hình thành. Tuy vậy, bên
cạnh những mặt tích cực cũng xuất hiện một số nét tiêu cực có ảnh hưởng đến
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu
sinh, trong đó đề xuất biện pháp là nhằm nâng cao vị trí, cải tiến phương pháp
giảng dạy môn giáo dục công dân, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội
ngũ giáo viên chủ nhiệm; hoặc như đề tài: “ Một số biện pháp tăng cường
giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông ngoài công lập
của tỉnh Hải Dương” của tác giả Đỗ Văn Thược, trên cơ sở nghiên cứu lý
luận, xuất phát từ thực trạng tỉnh Hải Dương, tác giả đã đề xuất những biện
pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh như: Kế
hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, làm tốt công tác thi đua,
khen thưởng kịp thời…
Ngoài các đề tài nghiên cứu về các biện pháp giáo dục đạo đức học
sinh các trường từ bậc tiểu học đến THPT, một số đề tài còn nghiên cứu biện
pháp giáo dục đạo đức học sinh các trung tâm giáo dục thường xuyên, sinh
viên các trường cao đẳng, đại học.
Đặc biệt gần đây nhất, trước tình trạng báo động về sự suy thoái đạo
đức của học sinh, sinh viên, hội khoa học Tâm lý - Giáo dục đã tổ chức một
hội thảo về khoa học về “ Giáo dục đạo đức học sinh - sinh viên ở nước ta Thực trạng và giải pháp ”. Hội thảo đã thu hút nhiều nhà khoa học, nhà giáo
dục tham gia với hàng trăm báo cáo. Tất cả đều xoay quanh vấn đề làm thế
nào để giáo dục đạo đức cho học sinh - sinh viên có hiệu quả.
Có thể nói, giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường THPT đang
là vấn đề hết sức gian nan, là mối quan tâm hàng đầu của những người làm
công tác giáo dục hiện nay. Việc đi tìm những biện pháp hữu hiệu mang tính
khả thi đang là những bước thử nghiệm, vừa làm vừa đúc rút kinh nghiệm.
10
Những đề tài nghiên cứu trên tuy giải quyết các khía cạnh khác nhau về giáo
dục đạo đức cho học sinh, song đã đặt nền tảng, tạo điều kiện cho chúng tôi
tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
nay, luận văn đề xuất một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
mang tính đồng bộ và khả thi nhằm khắc phục tình trạng suy thoái đạo đức
của học sinh THPT ở Hà Nội hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Giáo dục đạo đức và những nhân tố đặc thù ảnh hưởng đến việc
giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông ở Hà Nội hiện
nay.
Chương 2: Thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung
học phổ thông ở Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của những hạn chế.
Chương 3: Một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường
THPT ở Hà Nội hiện nay.
12
Chương 1
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ĐẶC THÙ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
1.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1. Khái niệm đạo đức và giáo dục đạo đức.
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “ Đạo đức là những nguyên tắc được dư luận
xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối
với xã hội”, “ Là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những
chuẩn mực đạo đức mà có”.
Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt của hoạt động xã
mọi lĩnh vực ý thức xã hội, trong mọi hoạt động xã hội và mọi quan hệ xã
hội. Lao động, đấu tranh, học tập, rèn luyện đều là những hoạt động mang ý
nghĩa đạo đức . Các quan hệ kinh tế, chính trị, tinh thần, gia đình và những
quan hệ xã hội nói chung đều bao hàm quan hệ đạo đức nảy sinh trên cơ sở
của tồn tại xã hội và từ đời sống xã hội. Khoa học, nghệ thuật, tôn giáo đều
chứa đựng những yếu tố đạo đức nhất định.
Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu,
trong toàn bộ hoạt động đời sống của con người, trong suốt thời gian tồn tại
và phát triển của họ, dù diễn ra trong điều kiện và hoàn cảnh nào. Mọi hình
thái ý thức, hoạt động và giao lưu, nếu được ý thức đầy đủ và định hướng rõ
rệt về tính chất và nội dung của quan hệ đạo đức, đều có khả năng ảnh hưởng
đến sự hình thành mặt đạo đức của nhân cách.
Với tư cách một hình thái ý thức xã hội, đạo đức cũng phụ thuộc vào tồn
tại xã hội. Vì vậy, ở những thời đại khác nhau, quan niệm về đạo đức cũng có
những điểm khác nhau. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội hay mỗi giai đoạn lịch
sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng. Mặt khác,
14
đạo đức còn gắn liền với hành vi, thói quen, tập quán sống của mỗi dân tộc và
thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại. Do đó, những
giai cấp, những thời đại có những quan niệm đạo đức khác nhau.
Trong xã hội phong kiến, chuẩn mực đạo đức chính là: “ Nhân - Lễ Nghĩa - Trí – Tín ”, riêng người phụ nữ còn có: “ Tam tòng, tứ đức ”. Đến
thời đại Hồ Chí Minh, Người quan niệm đạo đức là “ Nhân - Nghĩa - Trí Dũng – Liêm ”. Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích
chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.
Tuy vậy, ngoài những tính riêng biệt, đạo đức của mọi thời đại cũng đều
có những nét chung là hướng vào việc xây dựng nề nếp, kỷ cương trong một
xã hội cụ thể. Chính vì thế, đạo đức đã phát triển cùng với sự phát triển của
các điều kiện kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội nói chung. Xã
đầu. Thậm chí giáo dục “ theo nghĩa hẹp” ( quá trình bộ phận của giáo dục
theo nghĩa rộng) là công tác giáo dục chuyên biệt do nhà giáo dục tiến hành
nhằm hình thành một cách có hệ thống các phẩm chất nhất định như đạo đức,
phẩm chất, thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, quan điểm, thẩm mỹ, động cơ,
thái độ và những nét tính cách của nhân cách” ( xem Giáo trình giáo dục đại
cương Đại học Tổng hợp, Hà nội, 1995). Như vậy, giáo dục đạo đức là cốt
lõi, là hạt nhân của giáo dục. Trong đời sống hàng ngày, một người có đạo
đức kém thường bị xem là người “ thiếu giáo dục”. Vậy giáo dục đạo đức là
gì?
Trong nền giáo dục Xô viết trước đây, MaKarenko định nghĩa: “ Giáo
dục đạo đức có nghĩa là rèn luyện những phẩm chất tốt cho học sinh ( tính
trung thực, thật thà, thái độ tận tâm , tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật,
lòng yêu thích học tập, thái độ XHCN đối với người lao động, chủ nghĩa yêu
nước ) và trên cơ sở đó uốn nắn những sai sót của chúng” [30, tr.18].
Dưới góc độ của giáo dục học, chúng ta có thể hiểu giáo dục đạo đức là
hoạt động của chủ thể giáo dục tác động có hệ thống, có kế hoạch lên người
16
được giáo dục nhằm mục đích hình thành, bồi dưỡng những phẩm chất đạo
đức và mà chủ thể giáo dục đặt ra.
Giáo dục đạo đức có thể do các chủ thể khác nhau thực hiện. Chủ thể
giáo dục có thể là gia đình, nhà trường hoặc xã hội. Tuy nhiên, trong các chủ
thể nói trên, nhà trường giữ vai trò quan trọng hơn cả vì giáo dục nhà trường
có vai trò hình thành những phẩm chất đạo đức cơ bản cho con người từ tuổi
thiếu niên đến tuổi trưởng thành. Việc giáo dục đạo đức của nhà trường dựa
trên những chuẩn mực đạo đức đã được xã hội quy định hoặc thừa nhận. Giáo
dục đạo đức chính là làm cho những nhu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức của
xã hội thành những nhu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức của cá nhân, thành
năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
+ Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn,
trình độ thẩm mỹ và thể lực.
Như vậy, hình mẫu con người mới trong tương lai mà nhà trường phải
hướng tới chính là con người phát triển toàn diện, hài hòa về nhân cách, giỏi
về trí tuệ, khỏe về thể chất, phong phú về tâm hồn và trong sáng về đạo đức…
Đây chính là mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước ta.
Riêng đối với giáo dục đạo đức, các nhà trường ở Việt Nam có nhiệm
vụ là cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức
và các chuẩn mực đạo đức, những vấn đề cơ bản trong đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học, ý thức
thực hiện nghĩa vụ của người công dân trong xã hội.
Không những thế còn phải khơi dậy ở học sinh những rung động,
những xúc cảm đối với hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng và có thái
độ đúng đắn đối với các hiện tượng phi đạo đức trong đời sống xã hội. Và dẫn
dắt học sinh, giúp học sinh biết rèn luyện thông qua các hoạt động giáo dục
lặp đi lặp lại để hình thành hành vi, thói quen đạo đức đúng đắn.
18
Từ mục tiêu đó, nội dung giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay
bao gồm những vấn đề cơ bản như: giáo dục thế giới quan khoa học, nhân
sinh quan cách mạng, giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam, tư cách đạo đức, lối sống lành mạnh, giáo dục ý thức lao
động và giáo dục pháp luật, ý thức công dân nói chung, giáo dục ý thức tiết
kiệm và bảo vệ của công nhằm hình thành ở người học lý tưởng sống cao đẹp,
chống lại chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, hưởng thụ, chạy theo lợi ích
vật chất thuần túy… Đồng thời, giúp người học biết tự hào, tin tưởng vào
tương lai tươi sáng của dân tộc, ngăn ngừa và chống lại các biểu hiện của tâm
quen sống và làm việc theo pháp luật, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng tự
do vô kỷ luật, phạm pháp dưới những hình thức khác nhau, thờ ơ hoặc không
dám đấu tranh với những hành vi phạm pháp, hoặc a dua làm theo kẻ xấu.
Thứ ba là giáo dục lòng yêu thương con người và cách ứng xử có văn hóa:
Biết yêu quý và kính trọng ông bà, cha mẹ, những người thân trong gia
đình và những người xung quanh. Biết thông cảm và quan tâm giúp đỡ người
khác, biết hy sinh quyền lợi cá nhân. Mặt khác, các em cũng biết ngăn ngừa
và khắc phục những biểu hiện sai lầm như ích kỷ, thờ ơ, lạnh lùng với xung
quanh, bắt nạt bạn bè, em nhỏ, thiếu lễ độ, thiếu tôn trọng người khác.
Thứ tư là giáo dục đạo đức gia đình với những nguyên tắc trong ứng xử:
Với người trên phải tôn kính, lễ độ, khiêm tốn, quan tâm chăm sóc; với
người dưới phải thông cảm, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha, với người cùng thế
hệ phải tôn trọng, khiêm nhường, chân thành giúp đỡ học tập lẫn nhau. Trong
hôn nhân là tự nguyện, tự giác, thủy chung.
Thứ năm là giáo dục tình bạn:
Tình bạn là nhu cầu của con người trong giao tiếp, chính trong nhóm
bạn mà mỗi người có thể bộc lộ những phẩm chất, tính cách của mình, giúp
họ hình thành, củng cố thuộc tính tâm lý bền vững của mỗi cá nhân. Mỗi cá
20
nhân chịu ảnh hưởng của nhóm bạn bè một cách chủ động hoặc bị động một
cách khác nhau. Trong cuộc sống xã hội, không chỉ có toàn người tốt, không
có người xấu trong nhóm bạn bè. Vấn đề là tiếp thu cái tốt của bạn, cải tạo cái
xấu ở bản thân, ở bạn làm cho mỗi người ngày càng đẹp hơn. Tình bạn chân
chính phải được xây dựng trên nền đạo đức chân chính. Đặc biệt nhà trường
phải giúp các em tránh ngộ nhận tình bạn, biến thành bè phái, nhóm bạn xấu
bao che khuyết điểm cho nhau.
So với quá trình dạy học thì quá trình giáo dục đạo đức có những đặc