PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀOTẠO BIÊNHÒA
TRƯỜNG TIỂU HỌC AN BÌNH
BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
NĂM HỌC 2014 – 2015
Họ và tên:
Ngày tháng năm sinh
Tổ chuyên môn:
Năm vào ngành giáo dục:
Nhiệm vụ được giao trong năm học: .
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học An Bình.
Kết quả thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của cá nhân tôi và vận
dụng những kiến thức, kĩ năng đã học tập bồi dưỡng thường xuyên vào quá trình
thực hiện năm học của tôi như sau:
I. Đối với Module TH 7: Xây dựng môi trường học tập thân thiện.
1. Xây dựng môi trường thân thiện trong nhà trường về vật chất (phòng học, cảnh
quan trường lớp, tạo khu vui chơi…)
1.1. Mục tiêu:
- Hiểu được xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất; hiểu được
ý nghĩa và biết cách tạo môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất.
- Hiểu được thế nào là xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt tinh thần;
hiểu được ý nghĩa và biết cách xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt tinh
thần.
1.2. Xây dựng môi trường thân thiện trong nhà trường về vật chất:
a. Thế nào là xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất ?
Môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất là môi trường phải đảm bảo cơ sở
vật chất đáp ứng không chỉ yêu cầu của sự nghiệp giáo dục mà còn cho cuộc sống an
toàn, văn minh, phù hợp với tâm lí của HS : trường lớp sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát;
lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp lứa tuổi HS ; có sân chơi, bãi tập, …
dụng hiệu quả đồ dùng dạy học, nhất là những giờ dạy có ứng dụng công nghệ thông tin.
- Tạo sân chơi lành mạnh cho các em: tổ chức các hội thi, các phong trào thi đua,
các hoạt động ngoại khoá,...
2. Xây dựng môi trường thân thiện trong nhà trường về tinh thần (quan hệ giáo
viên-giáo viên, giáo viên-học sinh, học sinh-học sinh, nhà trường- phụ huynh…)
“Thân thiện” là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau. Bản thân khái
niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu
mang đầy tình người về đạo lý. “Trường học thân thiện” đương nhiên phải “thân thiện”
giữa tập thể sư phạm với học sinh, thân thiện với địa phương (địa bàn hoạt động của nhà
trường); phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau;
2.1. Trước hết, trường học phải thân thiện với địa bàn hoạt động, mà nội dung chủ
yếu của sự thân thiện là:
- Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục ở địa phương.
Phải gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa
phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà
trường, xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên.
- Một nội dung trọng tâm về trường học thân thiện với địa phương: mỗi trường học
nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử ở địa phương, và tích cực chăm lo xây dựng
các công trình công cộng, trồng cây, chăm sóc cho đường phố, ngõ xóm sạch sẽ.
2.2. Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau. Điều này rất quan trọng, vì nó là
“cái lõi” để thân thiện với mọi đối tượng khác. Ở đây, vai trò của hiệu trưởng, của lãnh
đạo tổ chức Đảng và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, trong quan hệ quản
lý, phải thực thi dân chủ, phải thực hiện bằng được quy chế dân chủ ở cơ sở. Trong quan
hệ tài chính, phải trong sáng, công khai, minh bạch đối với mọi thành viên trong nhà
trường. Về mặt tâm lý, phải thực sự tôn trọng lẫn nhau. Không thể có thân thiện, nếu
trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, nếu thiếu tôn trọng lẫn nhau, hiệu trưởng hống
hách, quát nạt nhân viên dưới quyền. Cũng không thể có thân thiện, nếu mọi khoản thu
chi trong nhà trường cứ “mờ mờ ảo ảo”.
2.3. Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học sinh. Thầy
cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo phương châm: “Tất cả vì
là người học; trường học gắn bó mật thiết với địa phương, và có chất lượng giáo dục toàn
diện với hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao.
*Cụ thể: Xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” không phải là điều
quá mới mẻ. Nói như vậy là bởi vì, khoảng vài năm trở lại đây, cùng với việc đẩy mạnh
đổi mới phương pháp dạy học, Bộ GD-ĐT đã nhấn mạnh đến việc yêu cầu học sinh phát
huy tính chủ động, tham gia trong các hoạt động giảng dạy của giáo viên. Vì thế, phong
trào “trường học thân thiện, học sinh tích cực” thực ra là sự phát triển một hoạt động
đã triển khai từ trước đó ở mỗi trường học.
Trên quan điểm như vậy:
- Phải tăng cường kiểm tra, phát vấn, giao việc cho các em, qua đó góp phần giúp
các em có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói một cách có hệ thống, tự tin khi trình bày
trước tập thể.
- Phát động trong học sinh tham gia dự thi làm ĐDDH sau các tiết học. Đây là cách
để kiểm tra mức độ vận dụng của học sinh đồng thời cũng là cơ hội để các em tham gia
cải tiến giờ dạy có chất lượng cao hơn.
- Thầy, cô giáo phải có phương pháp giảng dạy tích cực để cho HS tích cực. Bởi vì
trong một lớp học, số “HS tích cực” rất là ít, thường là những em có học lực và hạnh kiểm
khá - giỏi, còn đa số là thụ động.
- Đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho có thể lôi cuốn tất cả học sinh tham gia.
- Tổ chức một số hoạt động sáng tạo, phát huy trí tuệ và năng lực hoạt động của học
sinh như thuyết trình, lập báo cáo, làm mô hình kỹ thuật, viết phần mềm tin học, sáng tác
thơ văn…
- Các tổ bộ môn cũng sẽ giao một số đề tài nghiên cứu nhỏ cho học sinh thực hiện
như: sưu tầm tranh ảnh, tài liệu theo chủ đề…
- Để tạo thêm sân chơi cho học sinh, tuỳ vào sở trường của mình, các em có thể
tham gia các CLB như CLB Tin học, CLB Thơ văn,...
- Trong những buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần… nhà trường tổ chức lồng ghép
kể chuyện về tấm gương các danh nhân, anh hùng liệt sĩ tiêu biểu của quê hương; giới
thiệu các hình thức diễn xướng đặc trưng của quê hương…
- Hoàn thiện nhân cách cho học sinh bằng cách phát động các phong trào “Không
phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa
các kiến thức vừa mới học.
* Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,
giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ
hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện
nghe - nhìn.
* Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để
hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng
đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể
cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề
xác định.
b. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì
phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực
đảm bảo sự thành công trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt
ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương
pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. Cấu trúc một bài
học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:
* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức - Tạo tình huống có vấn đề;
- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
- Phát hiện vấn đề cần giải quyết
* Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất cách giải quyết;
- Lập kế hoạch giải quyết;
- Thực hiện kế hoạch giải quyết.
* Kết luận: - Thảo luận kết quả và đánh giá;
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
- Phát biểu kết luận;
- Đề xuất vấn đề mới.
* Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
• Tổng kết trước lớp: - Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
- Thảo luận chung.
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn
khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra
những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu
ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ
không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào
sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương
pháp cùng tham gia.
d. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào
đó trong một tình huống giả định.
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi
trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
Cách tiến hành có thể như sau:
- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ
thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai.
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.
- Các nhóm lên đóng vai.
- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai.
- Vì sao em lại ứng xử như vậy?
- Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử?
đặc biệt là những ngày đầu tuần.
- Tổ chức 10 phút “ Ôn bài” đầu giờ học mỗi ngày. Ôn bài là biện pháp giúp nhau
ôn tập nhanh, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày học mới. Truy bài đầu giờ còn là biện pháp
khắc phục tình trạng đi học muộn, cho nên cần được tổ chức tốt và duy trì lâu dài.
- Thành lập đội “Sao đỏ” của lớp để theo dõi thi đua giữa các tổ và tham gia trực
tuần với các lớp trong trường.
Rèn cho học sinh thói quen tích cực tham gia học tập bằng các biện pháp sau:
- Tổ chức thi đua giữa các tổ trong lớp, ghi lại số lần tham gia phát biểu ý kiến trong
các giờ học.
- Tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước các bài học trong ngày.
- Tổ chức cho học sinh trao đổi về phương pháp đọc sách, ghi chép và sử dụng tài
liệu và thảo luận trên lớp.
- Nêu gương những học sinh có phương pháp học tập tốt, đặc biệt những học sinh
nghèo học giỏi.
- Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ nhau học tập.
2. Giáo viên chủ nhiệm với các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tiết cháo cờ, hoạt động
của sao nhi đồng và Đội TNTPHCM
2.1. Với Tiết chào cờ đầu tuần:
Sau tiết sinh hoạt dưới cờ (tiết đầu tuần), các giáo viên chủ nhiệm (GVCN) nắm
danh sách các học sinh (HS) vắng có phép, không phép, đi trễ, hoặc vi phạm nội quy như
mang dép lê, áo không có phù hiệu, tóc tai xịt keo hay nhuộm màu… để GVCN làm việc
với các em, quán triệt nội quy hoath động của lớp…. Bởi vì trong giờ này, ngoài những
vấn đề “thời sự” liên quan đến nhà trường và học sinh, thầy cô còn cung cấp cho học sinh
những bài học đạo đức . Khi trong lớp có học sinh nào gặp hoàn cảnh khó khăn là thầy cô
gợi ý cho lớp thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp một bạn vượt khó, với tinh thần
“lá lành đùm lá rách”, chuyện kỷ luật trong lớp, việc thi đua nội bộ lớp, việc đánh giá học
sinh cũng được giáo viên hướng dẫn thực hiện một cách nhẹ nhàng và chân tình.
+ Học sinh có những năng lực đặc biệt.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp giỏi quản lý, tổ chức, kiểm tra.
- Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh.
- Đầu tư, tổ chức các phong trào trong nhà trường.
- Nêu gương và khen thưởng.
4. Vấn đề phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với Ban đại diện cha mẹ học sinh
- Giáo viên chủ nhiệm là người nắm rõ mọi chủ trương, nhiệm vụ giáo dục của nhà
trường, do đó trở thành “nhịp cầu” trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường với Ban
đại diện cha mẹ học sinh. Mặt khác, thu nhận thông tin, ý kiến, nguyện vọng của cha mẹ
học sinh để báo lại với lãnh đạo nhà trường. Từ đó gắn kết được trách nhiệm giữa nhà
trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh. Sự phối hợp giữa Ban đại diện cha mẹ
học sinh với giáo viên chủ nhiệm được thực hiện có tổ chức theo kế hoạch chung của nhà
trường bằng những cuộc họp định kỳ. Thông qua những cuộc họp này, giáo viên chủ
nhiệm ngoài việc truyền đạt chủ trương, thông báo của nhà trường, còn trực tiếp báo cáo
với cha mẹ học sinh về thực trạng của lớp, tình hình học tập, tư cách đạo đức của từng
học sinh. Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải bám sát, gần gũi, có trách nhiệm và
tình thương để có những nhận xét, đánh giá phân minh nhất đối với từng đối tượng - điều
này sẽ giúp phụ huynh học sinh tin tưởng đối với việc giáo dục của nhà trường và kịp thời
chấn chỉnh việc học và tác phong đạo đức học sinh.
- Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm còn chủ động liên hệ mời phụ huynh đến trường
hoặc giáo viên chủ nhiệm đến nhà trao đổi riêng, bàn bạc giải pháp giáo dục và khắc phục
những sai phạm của học sinh.
- Mỗi lớp đều có ban chấp hành chi hội, giáo viên chủ nhiệm tham vấn với ban chấp
hành chi hội nhằm có những hành động thiết thực để động viên, quan tâm đúng mức với
mọi hoạt động của lớp, của trường. Mặt khác, để nắm bắt những hành động sát thực của
học sinh ở trường, lớp, giáo viên chủ nhiệm mời đại diện chi hội cùng tham gia sinh hoạt
lớp, tiếng nói động viên, căn dặn của phụ huynh học sinh cũng có tác dụng tích cực trong
việc giáo dục đạo đức học sinh, đây cũng là cơ hội gặp gỡ để phụ huynh học sinh trao đổi
- Cho nhiều điểm kém.
- So sánh giữa học sinh này với học sinh khác.
- Hâm dọa sẽ ở lại lớp… làm cho HS mất đi niềm tin dẫn đến bi oan, chán chường,
không muốn học những môn đó…
* Đối với giáo viên chủ nhiệm:
-Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt còn sử dụng tùy tiện các phương pháp
không phù hợp và chưa khoa học.
- Xử lý học sinh trong lớp không công bằng
- Không xây dựng được quy định riêng cho lớp.
- Xử lý không đến nơi, đến chốn.
- Chỉ nhắc nhỡ mà không có biện pháp cưỡng chế.
- Học sinh vi phạm lỗi nhẹ cũng mời phụ huynh.
- Chưa kết hợp với phụ huynh, chưa thông báo kịp thời với phụ huynh.
- Có thái độ kỳ thị đối với học sinh yếu, kém (cá biệt).
- Không thường xuyên theo dõi lớp mà chỉ giao cho lớp trưởng quản lý.
- Bầu Ban cán sự lớp không đủ năng lực.
- Phạt học sinh vi phạm quá nặng.
- Chỉ nói mà không thực hiện…
* Đối với học sinh cá biệt thường có các biểu hiện sau:
- Bỏ học, cúp tiết, thường đi học trễ.
- Không đồng phục, phù hiệu.
- Đầu tóc, tác phong.
- Mất trật tự trong giờ học.
- Không chú ý nghe thầy cô giảng dạy.
- Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề).
- Đùa giỡn, chọc gẹo người khác quá mức.
- Sách vỡ không đầy đủ, thường xuyên không chép bài.
- Mê chơi game, lôi kéo, rủ rê bè bạn.
thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái
độ tự tin trong học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý, hiệu quả,
linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học,
đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường,
địa phương.
2.2. Loại bài thực hành:
- GV nghiên cứu để nắm được mục tiêu, ý đồ của từng bài thực hành, từ đó có kế
hoạch tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện bài thực hành có hiệu quả, giáo dục, rèn kĩ
năng phù hợp cho HS.
- Có biện pháp để HS tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập
nhằm rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn; cho HS sử dụng thiết bị,
đồ dùng học tập; thực hành thí nghiệm; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích,
đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Khuyến khích HS
xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện của bản
thân.
2.3. Loại bài ôn tập, kiểm tra:
- Thiết kế, tổ chức bài ôn tập, kiểm tra với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp
dẫn với HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
- Nội dung bài kiểm tra phù hợp với đặc điểm, trình độ HS; thời gian, thời lượng kiểm tra
cần bám sát với nội dung, chương trình, quy định của Bộ GD & ĐT.
3. Các bước, yêu cầu thiết kế kế hoạch bài học theo hướng dạy học phát huy
tính tích cực của người học:
3.1. Tìm hiểu tiêu chí của một “giờ dạy tích cực”
“Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)”, “tích cực hóa” hoạt động của học sinh,
“dạy học tích cực”… là những cụm từ đã quá quen thuộc với tất cả các giáo viên. Ở nhà
trường tiểu học, việc đổi mới PPDH đã được triển khai thực hiện từ khá lâu và hầu hết
giáo viên tiểu học đều có ý thức phải đổi mới PPDH, nhưng trong quá trình thực hiện, do
GV ra lệnh: Giơ bút chì! (Cả lớp giơ bút chì). Gạch dưới câu hỏi của bài toán! (Cả
lớp, nghĩa là mỗi HS, đều phải chú ý đọc đề toán trong SGK để xác định câu hỏi rồi gạch
dưới). Trong lúc này, GV đi xuống cạnh các HS để đôn đốc các em làm việc, giúp đỡ các
em kém. GV có thể đưa mắt nhìn bao quát cả lớp, hễ thấy HS nào không cầm bút chì gạch
một cái gì đó thì nhắc nhở em ấy làm việc. Nhờ có những lệnh làm việc bằng tay này mà
những HS không chịu làm việc sẽ bị lộ ra do đó GV có thể kiểm soát được hoạt động của
cả lớp.
Sau khi quan sát thấy đa số HS đã gạch xong thì GV có thể cho một em đọc xem
mình đã gạch dưới câu nào để cả lớp nhận xét. Như vậy, trong dạy học tích cực, việc tổ
chức các hoạt động dạy học phù hợp sao cho từng cá nhân trong lớp học đều được tham
gia là hết sức quan trọng. Công việc này đòi hỏi người GV phải có sự đầu tư đúng mức
trong quá trình soạn giáo án lên lớp.
* Tiêu chí 2: Tự học sinh sản sinh ra tri thức
Trước đây, trong quá trình dạy học nói chung, dạy học tiểu học nói riêng có sự mất
cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. GV thường chỉ
truyền đạt, giảng giải các tri thức có sẵn cho HS, còn HS học tập một cách thụ động: nghe
giảng, ghi nhớ và làm theo mẫu.
Song trong xu hướng đổi mới hiện nay, GV không còn đóng vai trò truyền thụ như
trước đây nữa, mà trở thành người tổ chức, điều khiển quá trình dạy học để HS tích cực,
chủ động, sáng tạo và tự chiếm lĩnh tri thức. Chính vì vậy, một trong những tiêu chí quan
trọng để đánh giá sự thành công của một giờ dạy, một tiết dạy chính là khả năng tự sản
sinh ra tri thức mới của HS.
Do vậy, các hoạt động dạy học trong một tiết dạy học ở Tiểu học phải được thiết kế
sao cho phải khơi gợi được nơi HS sự tìm tòi khám phá nhằm dẫn dắt các em tiến dần đến
tri thức cần chiếm lĩnh.
* Tiêu chí 3: Tạo bầu không khí lớp học vui vẻ, thoải mái
Một trong ba tiêu chí quan trọng của một giờ dạy tích cực chính là bầu không khí
lớp học. Để có thể tự do hoạt động, khám phá tri thức, HS tiểu học cần một môi trường
vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy học của GV
và hoạt động học tập của HS
Trên đây là những vấn đề cơ bản mà tôi đã tìm hiểu về các “Module”. Rất mong được
sự góp ý, xây dựng của các đồng nghiệp và đặc biệt hơn là những góp ý chân thành của
Ban giám hiệu nhà trường để bản báo cáo của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
, ngày 22 tháng 3 năm 2015
Người báo cáo