TRƯỜNG :THPT VỌNG THÊ
TỔ:TOÁN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH BDTX GIÁO VIÊN
( NỘI DUNG: 2)
I. Họ và tên:
Họ và tên giáo viên: PHẠM ANH DŨNG
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Toán
Chức vụ, tổ chuyên môn: Tổ viên, Tổ chuyên môn: Toán
Công việc chuyên môn và kiêm nhiệm được giao: Giảng dạy lớp 10 và 12
II. Nội dung bồi dưỡng 2:
1. Bồi dưỡng năng lực làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
a) Phụ huynh HS hiện nay không chỉ chọn trường cho con mà còn chọn cả giáo
viên chủ nhiệm lớp. Để thấy rằng vai trò của GV chủ nhiệm rất quan trọng với sự phát
triển, tiến bộ của HS cũng như tâm lý của cha mẹ HS. Vấn đề đảm bảo mục tiêu GD
toàn diện bằng việc tăng cường chất lượng công tác GD HS, tăng cường vai trò của
GV chủ nhiệm lớp trong các trường phổ thông đã đượckhẳng định. Đây cũng là bối
cảnh Hội thảo toàn quốc về công tác GV chủ nhiệm do Cục Nhà giáo và CBQLCSGD
cùng Dự án phát triển GD THCS2 phối hợp tổ chức, thu hút sự quan tâm, hưởng ứng
của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, giảng viên các trường ĐH, CĐ sư phạm, GV các
trường phổ thông trên cả nước..
b) GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP LÀ MỘT NHÀ QUẢN LÝ
Đây là khẳng định của PGS.TS Đặng Quốc Bảo – Học viện quản lý GD: GV chủ
nhiệm lớp ở trường phổ thông là nhà quản lý không có dấu đỏ! Theo đó, GV chủ
nhiệm trong trường phổ thông, là linh hồn của lớp học. Có thể coi GV chủ nhiệm là
người lĩnh xướng của dàn nhạc bao gồm: nhạc công (GV) hoàn thành bản giao hưởng
hình thành nhân cách toàn vẹn cho thế hệ trẻ. Và ngày nay, với sự nhận thức về quản
lý GD, có thể coi GV chủ nhiệm như một nhà quản lý với các vai trò: Người lãnh đạo
vi, những biến động về tư tưởng, nhu cầu, nguyện vọng của các em. Đồng thời, người
GV chủ nhiệm lớp bằng chính nhân cách của mình, là tấm gương tác động tích cực
đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức, nhân cách của HS. Mặt khác, họ còn là
cầu nối giữa tập thể HS với các tổ chức – xã hội trong và ngoài trường, là người tổ
chức phối hợp các lực lượng GD. Họ còn là người dẫn dắt, tổ chức cho HS tham gia
các hoạt động xã hội, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Người GV chủ nhiệm
lớp là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS, bảo vệ HS về mọi mặt một
cách hợp lý. Họ phản ánh trung thành mọi nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của HS với
Ban giám hiệu nhà trường, với các GV bộ môn, với gia đình HS, với cộng đồng và với
các đoàn thể xã hội khác.
Trên cơ sở xác định phẩm chất và năng lực của GV chủ nhiệm lớp, cần chú ý đến các
điều kiện để người GV có thể làm công tác chủ nhiệm hiệu quả. Các điều kiện này rất
đa dạng. Đó là ngay trong quá trình đào tạo, SV sư phạm phải được trang bị sâu, kỹ
lưỡng về nghiệp vụ sư phạm, trong đó cần cập nhật những thành tựu nghiên cứu mới
về tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn, đặc biệt là các phương
thức thực hành nghề nghiệp theo hướng gắn với thực tế phổ thông. Bên cạnh đó, trong
quá trình lao động nghề nghiệp, GV phải được bồi dưỡng về công tác chủ nhiệm lớp
với nội dung như: phương pháp xây dựng hồ sơ công tác chủ nhiệm, kỹ năng làm công
tác chủ nhiệm, kỹ năng tổ chức các hoạt động xã hội…
Một trong những vấn đề được chính các GV chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông
quan tâm là làm thế nào để có thể trao đổi được kinh nghiệm về công tác GV chủ
nhiệm và phát huy vai trò của công tác chủ nhiệm đối với việc nâng cao chất lượng,
hiệu quả của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Kinh nghiệm của các GV chủ nhiệm lớp cũng chỉ rõ: Thành công của phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở mỗi nhà trường phụ thuộc rất nhiều
vào người GV chủ nhiệm lớp. Điều này khẳng định, hơn những GV khác, người GV
chủ nhiệm lớp không chỉ nắm vững mục tiêu, nội dung của phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, HS tích cực” mà còn thuần thục trong phương pháp triển
khai phong trào thi đua này, có kỹ năng tích hợp nội dung của phong trào thi đua với
nội dung của công tác chủ nhiệm lớp.
Bước 1: Hình thành ý tưởng, chọn lựa ý tưởng và sàng lọc ý tưởng: Ngay từ đầu
năm học, tôi đã tổ chức nhóm hội thảo để nắm bắt được những ý tưởng khoa học của
học sinh. Sau đó, tôi cùng học sinh chọn lựa, phân loại những ý tưởng tốt, rồi xây
dựng nhóm nghiên cứu theo ý tưởng đã lựa chọn.
Bước 2: Lập kế hoạch triển khai dự án NCKH gồm: Tìm hiểu thực trạng, viết đề
cương nghiên cứu, triển khai dự án, viết báo cáo, và trình bày bảo vệ kết quả nghiên
cứu.
Trên cơ sở các ý tưởng đã được phân loại, tôi xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng
nhóm nghiên cứu; trang bị các kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành cần thiết và giao
nhiệm vụ cho các nhóm tự nghiên cứu dựa trên định hướng của giáo viên; dự liệu các
khó khăn gặp phải, phương án giải quyết. Trong quá trình học sinh tự nghiên cứu, tôi
thường xuyên kiểm tra, nắm bắt tiến độ và tháo gỡ kịp thời những khó khăn mà các em
gặp phải.
Bước 3: Chế tạo sản phẩm.
Bước 4: Kiểm chứng đề tài: Sau khi tiến hành chế tạo sản phẩm, hoàn thiện dự án,
giáo viên cần kiểm tra lại các yêu cầu kỹ thuật, an toàn sản phẩm trước khi vận hành
chạy thử, sau khi đã đảm bảo các điều kiện an toàn, nhóm nghiên cứu tiến hành kiểm
chứng thực nghiệm, kiểm tra các thông số kỹ thuật và ghi chép vào nhật ký. Trong
bước này nếu sản phẩm có các thông số không đáp ứng được các yêu cầu nghiên cứu
cần tiếp tục điều chỉnh, tìm kiếm lỗi mới và chỉnh sửa, hoàn thiện.
3
Bước 5: Báo cáo và trình bày dự án: Báo cáo được trình bày theo bố
cục như một luận văn, sáng kiến kinh nghiệm: Đặt vấn đề;giải pháp; kết luận và kiến
nghị.
Trình bày dự án nghiên cứu trên POSTER thể hiện được những nội dung: Tên đề tài;
Quy trình nghiên cứu; Cách thức tiến hành; Kết quả và kết luận.
Gian trưng bày sản phẩm được sắp xếp ngăn nắp, hợp lí, thể hiện tính khoa học và tính
thẩm mỹ làm nổi bật được nội dung chính của đề tài.
minh họa được coi là bài dạy - Đảm bảo tất cả HS tham gia quá
mẫu;
trình học tập, đồng thời nâng cao chất
- Tập trung chủ yếu vào việc dạy, lượng học tập của từng HS
ít quan tâm đến việc học của HS.
Vì vậy, những HS gặp khó khăn
trong học tập không được GV giúp
đỡ kịp thời.
2. Thiết
- Bài dạy minh họa được thiết kế - Bài dạy minh hoạ do nhóm CBQL,
4
kế bài
dạy
minh
họa
3. Dạy
minh
họa
theo nội dung các chuyên đề được GV trong tổ thiết kế. Khuyến khích
xác định trong KH năm học của Tổ linh hoạt sáng tạo, không phụ thuộc
hoặc theo yêu cầu của trường.
máy móc vào quy trình, các bước dạy
- Bài dạy minh họa được thiết kế học trong SGK, SGV.
theo mẫu chung. Nội dung bài học
bảo tính luân phiên.
- Sự phân chia môn học và giảng
dạy theo khối đã tạo ra sự ngăn
cách giữa các GV, khó có thể cùng
hành động hướng đến mục tiêu
chung: giúp HS học tập.
- Người dự giờ là GV các khối, các
môn học để cùng chia sẻ kinh nghiệm
dạy học dựa trên thực tế học tập của
HS
- Thay mặt nhóm thể hiện các ý tưởng
đã thiết kế trong bài học.
- HS gặp khó khăn trong học tập được
GV hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời.
- Không được “dạy trước” vì mục đích
- Đa số các tiết dạy minh họa của sinh hoạt chuyên môn không phải
thường mang tính “biểu diễn - dể đánh giá xếp loại tiết dạy mà chủ
yếu là cùng nhau trải nghiệm và học
trình diễn”.
tập từ thực tế.
(- Để đối phó với việc đánh giá,
xếp loại tiết dạy, mốt số GV đã
“chuẩn bị trước”).
4. Dự
giờ
chung, ít có minh chứng từ việc - Người dự giờ đưa ra các ý kiến nhận
học của HS.
xét, góp ý về giờ học theo tinh thần
- GV dạy minh họa thường chỉ biết trao đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính
lắng nghe một chiều từ các ý kiến xây dựng; tập trung phân tích các vấn
đề liên quan đến việc học của HS.
đóng góp của đồng nghiệp.
6. Kết
quả
- Cuối cùng, người chủ trì chốt lại
các ý kiến đóng góp và đưa ra quy
trình chung để dạy một dạng bài và
nêu ý kiến xếp loại chung tiết dạy.
- Không đánh giá, xếp loại người dạy
(nếu kết quả không như mong muốn)
thì xem đó là bài học chung để mỗi
GV tự rút kinh nghiệm.
- Không khí buổi sinh hoạt chuyên
môn thường là nặng nề. Vì vây,
GV không hứng thú khi tham dự
buổi sinh hoạt chuyên môn. Nhưng
người thiệt thòi nhất là các em HS.
- Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe
pháp để nâng cao chất lượng dạy và
- Bị “áp lực”, phải dạy để mọi học.
người đánh giá năng lực của mình - Tự nhận ra hạn chế của bản thân để
(không phải vì việc học của HS). điều chỉnh kịp thời.
Vì vậy, GV phải “bám sát” những
quy định của tiết dạy, không dám - Quan tâm đến những khó khăn của
thay đổi cách dạy, không dám sáng HS, đặc biệt là HS yếu, kém.
tạo.
- Quan hệ giữa đồng nghiệp trở nên
- Nếu gặp phải những tình huống gần gũi, cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ
lẫn nhau.
bất ngờ, GV thường lúng túng.
- Các PPDH mà GV sử dụng trong
tiết dạy thường mang tính hình
thức.
- Khi chia sẻ, phân tích tiết dạy
(nếu có hạn chế), GV thường đổ
lỗi cho HS hay những nguyên nhân
6
khác. GV không thấy được nguyên c) Đối với cán bộ quản lí.
nhân chính là từ GV..
- Đặt bài học lên hàng đầu, đánh giá
- Việc “chuẩn bị trước” quá kỹ nên sự linh hoạt sáng tạo của của từng
tiết dạy đôi khi quá “lý tưởng”. GV.
Người dự giờ không học hỏi được - Có cơ hội bám sát chuyên môn, hiểu
điều gì.
được nguyên nhân của những khó
c) Đối với cán bộ quản lí.
sống với nhau bằng tình yêu thương và sự tôn trọng.
Như chúng ta đã biết một trong 5 nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” đó là rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Thiết
nghĩ, đây là một nội dung quan trọng, gắn liền với các hoạt động giáo dục trong nhà
trường. Thế giới đang có sự thay đổi sâu sắc về mọi mặt, khoa học kĩ thuật,công nghệ
thông tin phát triển như vũ bão, tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Một
số các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, quy tắc sống cũng bị ảnh hưởng. Đặc biệt
là thế hệ trẻ, các em dễ dàng học theo, bắt chước một số thói hư, tật xấu du nhập từ thế
bên ngoài, trên mạng Internet.
Học sinh sống trong xã hội phát triển cần phải được trang bị những kĩ năng thích
hợp để hòa nhập với cộng đồng, với xu thế toàn cầu hóa. Đối với học sinh, đặc biệt là
học sinh bậc THCS cần phải được giáo dục một số giá trị sống, rèn luyện kĩ năng
7
sống. Giáo dục giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống càng trở nên cấp thiết đối với thế
hệ trẻ, bởi vì các em là những chủ nhân tương lai của đất nước. Lứa tuổi học sinh là
lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích
tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm
sống, dễ bị lôi kéo, kích động,…Vì vậy, việc giáo dục giá trị sống, rèn luyện kỹ năng
sống cho thế hệ trẻ là rất cần thiết
Giá trị sống là sống với từng giá trị chứ không phải chỉ là nói về các giá trị đó. Cũng
như khi dạy học, chúng ta phải quan tâm đến những việc chúng ta làm chứ không phải
quan tâm điều chúng ta nói, phải quan tâm đến tâm trạng của đối tượng chứ không chỉ
quan tâm đến kết quả của hoạt động
Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ không đạt kết quả nếu chúng ta không quan tâm đến
giáo dục giá trị sống. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là làm sao để giáo dục giá trị sống
cho học sinh?
Như chúng ta đã biết, giá trị sống của mỗi cá nhân không thể tự nhiên mà có mà nó
được hình thành nhờ vào quá trình tự nhận thức và sự trải nghiệm của mỗi người. Tuy
Sống tôn trọng luật pháp
v
Yêu hòa bình
v
Biết nhận lỗi và biết tha thứ
v
Sống chủ động, tự tin
v
Chấp nhận thử thách và luôn vượt khó
v
………..
Học sinh càng sở hữu nhiều các giá trị càng có thiên hướng trở thành nhân cách hoàn
thiện, một công dân tốt, một nhà quản lí giỏi/một nhà lãnh đạo giỏi trong tương
lai. Ngược lại càng thiếu hụt những giá trị sống càng ít có cơ hội thành công học
đường và thành công trong cuộc sống.
Nhiều nghiên cứu cho thấy học sinh hiện nay thiếu hụt giá trị sống. Hậu quả là nhiều
học sinh có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, sống buông thả, bạo lực học
đường, ứng xử thiếu vẫn hóa,…
Căn cứ vào nội dung kiến thức và các ứng dụng của chúng trong thực tiễn để
xác định tên chủ đề sao cho phù hợp, thể hiện được nội dung tích hợp liên môn.
2. Nội dung trong chương trình các môn học được tích hợp trong chủ đề
- Trình bày về nội dung kiến thức thuộc chương trình các môn học được dạy
học tích hợp trong chủ đề; nêu rõ yêu cầu cần đạt; tên bài (tiết), thời lượng phân phối
chương trình hiện hành và thời điểm dạy học theo chương trình hiện hành;
- Phương án/kế hoạch dạy học môn học sau khi đã tách riêng phần nội dung
kiến thức được dạy học theo chủ đề đã xây dựng;
- Trình bày nội dung dạy học trong chủ đề; phân tích về thời lượng và thời
điểm thực hiện chủ đề trong mối liên hệ phù hợp với chương trình dạy học các
môn học liên quan;
- Trình bày ý tưởng/câu hỏi của chủ đề nhằm giải quyết một vấn đề nào đó
để qua đó học sinh học được nội dung kiến thức liên môn và các kĩ năng tương ứng
đã được tách ra từ chương trình các môn học nói trên, có thể là vấn đề theo nội dung
dạy học hoặc vấn đề cần giải quyết trong thực tiễn;
- Ý nghĩa của việc thực hiện chủ đề trong dạy học các môn học liên
quan/hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với việc hình thành kiến thức, kĩ năng,
thái độ và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh.
3. Mục tiêu của chủ đề
a) Về kiến thức: Trình bày về nội dung kiến thức mà học sinh sẽ học
được thông qua chủ đề (chỉ trình bày những kiến thức sẽ được đánh giá).
b) Về kĩ năng: Trình bày về những kĩ năng của học sinh được hình
thành thông qua thực hiện các hoạt động học theo chủ đề (chỉ trình bày những kĩ
năng sẽ được đánh giá). Sử dụng động từ hành động để ghi các loại kĩ năng và năng
lực mà học sinh được phát triển qua thực hiện chủ đề.
10
c) Về thái độ: Trình bày về những tác động của việc thực hiện các hoạt động
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH BDTX GIÁO VIÊN
( NỘI DUNG: 3)
I. Họ và tên:
Họ và tên giáo viên: PHẠM ANH DŨNG
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Toán
Chức vụ, tổ chuyên môn: Tổ viên, Tổ chuyên môn: Toán
Công việc chuyên môn và kiêm nhiệm được giao: Giảng dạy lớp 10 và 12
II. Nội dung bồi dưỡng 3:
* Tên Mô đun :
a. Nhận thức:
b. Vận dụng:
Thoại Sơn, ngày 18 tháng 04 năm 2016
Người viết thu hoạch
HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI THU HOẠCH BDTX NỘI DUNG 3
Cấu trúc nội dung có 2 phần: Nhận thức và vận dụng.
Phần vận dụng làm nội dung phù hợp với môn mình đang dạy.
Tài liệu lấy trên Web của Bộ:taphuan.moet.gov.vn Mật khẩu: 123456.
Ghi chú: Thời hạn nộp bài thu hoạch cho 02 môđun hạn chót ngỳ 18/04/2016. Đề
nghị thầy cô khẩn trương viết bài thu hoạch cho kịp thời gian quy định.
12