Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng tại tỉnh thái nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN ĐỨC THẮNG

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN ĐỨC THẮNG

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN THÁI

THÁI NGUYÊN - 2013


trong suốt quá trình học tập và triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục
vụ đề tài luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp
đỡ của người thân trong gia đình và các bạn bè đồng nghiệp trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013
Tác giả

Nguyễn Đức Thắng


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI .......................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.............................................................................. vii
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC TRONG LUẬN VĂN ..................................viii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 3
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu.................................................................... 3
5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................................................. 3
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................. 4
1.1. Tổng quan nghiên cứu................................................................................ 4
1.1.1. Trên thế giới ............................................................................................ 4

2.2.2.1. Phương pháp kế thừa các số liệu có chọn lọc.............................. 25
2.2.2.2. Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA)............................ 25
2.2.2.3. Nghiên cứu thực nghiệm tìm ảnh hưởng của cấu trúc rừng,
vật liệu cháy ảnh hưởng đến cháy rừng ...................................... 26
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................. 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................ 29
3.1. Đặc điểm rừng và tình hình cháy rừng tại tỉnh Thái Nguyên. ................. 29
3.1.1. Diện tích và sự phân bố các loại rừng ............................................... 29
3.1.2. Một số đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng chủ yếu ............................ 30
3.1.3. Tình hình cháy rừng tại tỉnh Thái Nguyên ........................................ 34
3.2. Đặc điểm một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cháy rừng.................. 35


v
3.2.1. Đặc điểm VLC ................................................................................... 35
3.2.2. Ảnh hưởng của tốc độ gió đến khả năng cháy rừng.......................... 39
3.2.3. Đặc điểm của độ dốc.......................................................................... 41
3.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý cháy rừng tại tỉnh Thái Nguyên... 44
3.3.1. Công tác tổ chức lực lượng PCCCR.................................................. 44
3.3.2. Công tác giáo dục tuyên truyền ......................................................... 45
3.3.3. Công trình PCCCR ............................................................................ 46
3.3.4. Trang thiết bị PCCCR........................................................................ 46
3.3.5. Công tác PCCCR ở địa phương và các hộ gia đình .......................... 47
3.3.6. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác PCCCR ở địa phương.... 49
3.3.6.1. Thuận lợi ...................................................................................... 49
3.3.6.2. Khó khăn ...................................................................................... 50
3.4. Đề xuất các giải pháp quản lý cháy rừng cho tỉnh Thái Nguyên............. 51
3.4.1. Giải pháp về tổ chức - thể chế ........................................................... 51
3.4.2. Giải pháp kỹ thuật.............................................................................. 53
3.4.3. Giải pháp về kinh tế - xã hội.............................................................. 64


f. QLBVR:

Quản lý bảo vệ rừng

g. UBND:

Uỷ ban nhân dân

h. VLC:

Vật liệu cháy


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên (ha) ......... 29
Bảng 3.2. Đặc điểm tầng cây cao của rừng trồng ở khu vực nghiên cứu ....... 31
Bảng 3.3. Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi ở các trạng thái rừng .................. 32
Bảng 3.4. Tình hình cháy rừng tại tỉnh Thái Nguyên (2003 -2012) ............... 34
Bảng 3.5. Khối lượng và độ ẩm VLC ở các trạng thái rừng.......................... 36
Bảng 3.6. So sánh các phương trình tương quan giữa Vc, Hl với Wv ............. 38
Bảng 3.7. Phương trình tương quan giữa Vc - Wv và H - WV ......................... 39
Bảng 3.8. So sánh các phương trình tương quan giữa Vc, Hl với Vg .............. 40
Bảng 3.9. Phương trình tương quan giữa Vg với Vc và Hl .............................. 41
Bảng 3.10. So sánh các phương trình tương quan giữa Vc, Hl với α .............. 42
Bảng 3.11. Phương trình tương quan giữa độ dốc (α) đến Vc và Hl .............. 42



nhiên là 353.101,67 ha. Đất quy hoạch cho lâm nghiệp 180.919,05 ha (chiếm
51,23% tổng diện tích đất tự nhiên), trong đó: rừng đặc dụng 34.962,97 ha;
rừng phòng hộ 48.567,93 ha; rừng sản xuất 97.388,15 ha.
Hiện tại trên địa bàn tỉnh có khoảng 80.000 ha rừng dễ cháy, chủ yếu là
rừng trồng thông, bạch đàn, keo và rừng hỗn giao tre, nứa. Mùa khô trên địa
bàn kéo dài từ 01/10 năm trước đến 31/3 năm sau, trong mùa khô lượng mưa
ít, độ ẩm thấp, có đợt nắng nóng kéo dài đã làm cho nguồn vật liệu cháy trong
rừng bị khô nỏ, rất dễ xảy ra cháy rừng với quy mô lớn.


2
Với phương châm “phòng cháy là chủ đạo, chữa cháy phải kịp thời, khẩn
trương có hiệu quả”. Trong nhiều năm qua dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy,
HĐND, UBND tỉnh công tác PCCCR trên địa bàn đã đạt được những kết quả
tích cực, đó là: Lực lượng PCCCR từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã đã được
củng cố, kiện toàn; Nhận thức của các chủ rừng, nhân dân trên địa bàn và chính
quyền địa phương đã được nâng cao, hiểu rõ tầm quan trọng của công tác
PCCCR, số vụ cháy rừng giảm theo các năm trở lại đây. Các vụ cháy rừng đã
được phát hiện kịp thời và triển khai lực lượng tại chỗ chữa cháy có hiệu quả.
Tuy nhiên hiện nay thời tiết ngày càng có diễn biến phức tạp, nắng
nóng khô hạn kéo dài, diện tích rừng trồng tập trung tiếp tục tăng nhanh, nguy
cơ tiềm ẩn cháy rừng quy mô lớn luôn xảy ra. Để thực hiện mục tiêu bảo vệ
và phát triển rừng bền vững, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác PCCCR thì
việc nghiên cứu các cơ sở khoa học để từ đó đề xuất các giải pháp có hiệu quả
trong công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ những thực tế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu,
đề xuất một số giải pháp PCCCR tại tỉnh Thái Nguyên” nhằm tổ chức thực
hiện có hiệu quả công tác PCCCR tại địa phương, góp phần phát triển kinh tế,
xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2. Mục tiêu nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 5/2012 đến tháng 9/2013.


4

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.1.1. Trên thế giới
Nghiên cứu về phòng cháy, chữa cháy rừng trên thế giới được bắt đầu
vào thế kỷ 20, thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế phát
triển như Mỹ, Nga, Đức, Thụy Điển, Canada, Pháp, Úc v.v... sau đó là ở hầu
hết các nước có hoạt động lâm nghiệp. Có thể chia 5 lĩnh vực chính của
nghiên cứu PCCCR: bản chất của cháy rừng, phương pháp dự báo nguy cơ
cháy rừng, các công trình PCCCR, phương pháp chữa cháy rừng, và phương
tiện chữa cháy rừng.
1.1.1.1. Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy
hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt
đồng thời của 3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy. Tùy thuộc vào
đặc điểm của các yếu tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển
hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C., Cheney P.,
Thomas P., Trabaud L., Wiliams D., 1983) [22], [23]. Vì vậy, về bản chất
những biện pháp phòng cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3
yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy.
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:
(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy
một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;
(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang

mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí (Chandler C, 1983; MiBbach K,
1972) [23], [29]. Ở một số nước khi dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR)
ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng còn căn cứ vào một số yếu tố khác; chẳng
hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ ẩm của vật liệu cháy (Brown A.A, 1979),
ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở
Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió (Vg), số ngày không mưa và lượng


6
bão hòa (Lbh),… Cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí
tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo
Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao
nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ
không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A.A, 1979) [22]. Năm
1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã
được cải tiến tương đối hoàn chỉnh. Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối
quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để
dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở
phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí
tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó đưa ra mô hình dự báo khả năng
xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown A.A, 1979) [22]. Trong
những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các
nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội và
NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001)
[20]. Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn không có phương
pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm chí ở mỗi địa
phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng. Ngoài ra, vẫn
còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại
rừng. Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và
hiệu lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển.

(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn
ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng hoặc đốt theo hướng ngược
với hướng lan tràn để cô lập đám cháy. Các công trình nghiên cứu về đốt
trước làm giảm vật liệu cháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế kỷ
XX. Các nước tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công
trình nhất là Đức, Mỹ, Nga, Canada và Trung Quốc,… Đối tượng rừng được
đưa vào đốt trước làm giảm vật liệu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng.
Thường các chủ rừng đốt theo đám ở những diện tích rừng có nhiều vật liệu
cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa cháy, hạn chế đến mức
thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (Brown A.A,1979;


8

Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke
R.H.,1986) [22], [25], [28]. Năm 1968, Stoddard - một trong những người đầu
tiên đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản
lượng gỗ và chim thú. Năm 1968, Morris đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon
dadyion vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm
tăng sản lượng sinh khối. Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số
nước đi đầu trong lĩnh vực lửa rừng của thế giới như: Australia, Mỹ, Nga,
Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra được
những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy cơ cháy
cao. Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụng tương đối phổ biến
và được coi là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửa rừng ở những
nước này. Năm 1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra các vấn đề
về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề
về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều
khiển cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm
nguồn vật liệu cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist

và bom dập lửa v.v…
Mặc dù các phương tiện chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát
triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp
ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng
hiện đại như Mỹ, Úc, Nga,… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các
đám cháy vẫn không hiệu quả. Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm
xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy
rừng (Cooper, 1991). Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng cháy, chữa cháy
rừng chủ yếu được tập chung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy
rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, hình
phạt dối với người gây cháy rừng. Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về
ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách
chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán,
nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng. Cũng còn rất ít nghiên
cứu về nguyên nhân cháy rừng do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế


10
xã hội gây nên, về những giải pháp lồng ghép hoạt động phòng cháy, chữa
cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khác. Đây
là căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế xã hội cho phòng cháy,
chữa cháy rừng.
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
Công tác DBNCCR ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981. Tuy nhiên,
trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của V.G. Nesterop
(Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1988) [8]. Đây là
phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá
trị khí tượng tổng hợp (P) bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh
lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có

đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nguy cơ cháy
rừng (NCCR). Tuy nhiên, vì căn cứ vào số liệu khí tượng trung bình năm nên
cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch mà không thay đổi
theo thời tiết hàng ngày. Vì vậy, nó mang ý nghĩa của phương pháp xác định
mùa cháy nhiều hơn là DBNCCR. Kết quả nghiên cứu Vương Văn Quỳnh
(2005) [17] đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng cho khu vực
U Minh và Tây Nguyên. Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho các khu vực nói
trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước.
Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp DBNCCR ở Việt Nam
còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, kiểu
rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới cháy
rừng cho mỗi địa phương. Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách
hiệu quả kỹ thuật của tin học, viễn thám và các phương tiện truyền thông hiện
đại vào dự báo, phát hiện sớm và thông tin về cháy rừng.
1.1.2.2. Nghiên cứu về các công trình phòng cháy rừng
Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCR;
mặc dù, trong các quy phạm PCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình
phòng cháy như: đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa
phòng cháy, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu
nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt


12

Nam (Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh,
Trần Văn Mão, 1992) [2].
Các công trình PCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và
đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây
rừng. Theo Phạm Ngọc Hưng (2001) [12], đường băng xanh được trồng cùng
với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ. Đối

khi già xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh
Lạng Sơn, Hà Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc
rải rác trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.
- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở
hầu hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi
núi ở các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc,
Kon Tum, Gia Lai,… và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng,
tầng trên là Keo tai tượng, tầng dưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên
môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và
ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng.
- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm
vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa
fruticans Wurb), Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L).
- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác
dụng cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena
leucocepha De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở
vùng đồi núi và vừng rừng Tràm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam
Bộ, miền Bắc rất tốt.
1.1.2.3. Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến
hành quy hoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi
dụng rừng. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy
rừng (KTLSPCR) chủ yếu hướng vào:


14
(1) - Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi
và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển. Trước đây, các công trình nghiên


cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số
loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng
mới 5 triệu hécta rừng của Chính phủ. Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã
nghiên cứu và thử nghiệm trồng rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài
cây với phương thức trồng khác nhau. Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản
mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được áp dụng vào thực tiễn sản
xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời
điểm hỗn giao cũng rất phức tạp. Việc gây tạo rừng hỗn giao là mong muốn
của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo ra các
lâm phần hài hòa, ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế.
(2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy
trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng
có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của
con người để không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh
hưởng bất lợi của lửa gây ra. Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa
được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta. Việc tiến hành đốt trước khá phức
tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về
lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002)) [5].
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu
thử nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy. Cụ
thể: Phó Đức Đỉnh (1996) [9] đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán
rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt (Lâm Đồng). Tác giả cho rằng, ở rừng thông
non nhất thiết phải thu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc
nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có
thể gây cháy tán cây rừng. Phan Thanh Ngọ (1996) [16] đã thử nghiệm đốt
trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả
cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước
khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết
thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status