Phân tích cung cầu lao động tại thành phố hồ chí minh - Pdf 35

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

3

LỜI MỞ ĐẦU
Yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế đang đặt ra nhiệm vụ đổi mới chính sách kinh tế - xã hội, hoàn
thiện hệ thống thị trường, trong đó có thị trường lao động, tạo ra cơ sở
thuận lợi cho sự vận hành hiệu quả nền kinh tế.
Cải cách kinh tế nhiều năm qua đã đem lại những thay đổi toàn
diện sâu sắc, có tính đột phá liên quan đến phát triển nguồn nhân lực,
đảm bảo việc làm và không ngừng nâng cao thu nhập, mức sống cho
người lao động. Thị trường lao động được công nhận về mặt hợp pháp
và đang trong quá trình hình thành, phát triển, sức lao động trở thành
một loại hàng hóa. Người lao động được tự do tìm việc làm và người
sức dụng lao động được quyền thuê mướn lao động. Thị trường lao
động nước ta đang từng bước có mối quan hệ hội nhập với thị trường
lao động khu vực, quốc tế, tạo them khả năng tăng cầu lao động và
năng cao thu nhập của người lao động.
Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị
trường lao động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng,
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thế nhưng, do mới hình
thành và phát triển chưa đồng bộ, nên thị trường lao động Việt Nam
đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng
nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao động thấp.
Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực
phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụt
lao động trầm trọng.
Thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng phát
triển theo các quy luật mới của nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần, hội nhập khu vực và quốc tế: Thị trường lao động thành phố Hồ

của đất nước, điều này sẽ kích sự di chuyển lao động giữa các vùng
miền, địa phương, các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp thậm chí là
giữa các khu vực. Đó chính là một trong những lý do gây ra việc cung
– cầu lao động giữa những vùng miền, khu vực mất cân bằng. Đây là
một vấn đề thực sự cần thiết phải có những giải pháp hiệu quả và thiết
thực để giải quyết. Và thực trạng ấy cũng chính là thực trạng mà
thành phố Hồ Chi Minh hiện đang mắc phải. Do đó, việc nắm vững và
điều tiết thị trường cung – cầu lao động tại thành phố Hồ Chí Minh
trong thời gian tới một cách hiệu quả là hết sức khó khăn. Vì vậy, cần
thiết phải có sự phối hợp hoạt động và giải quyết của những cơ quan,
đơn vị chuyên trách và những bộ phận có liên quan. Tuy nhiên, việc


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

5

phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng này
ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua dường như chưa hiệu
quả và thiết thực với thực tế. Vì thế mà em quyết định chọn đề tài:
“Phân tích cung cầu lao động tại thành phố Hồ Chí Minh” để
phân tích và đưa ra giải pháp cho vấn đề cung cầu lao động thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích hiểu và nắm
được quy luật cung - cầu lao động và những cơ hội thách thức về vấn
đề lao động tại thành phố, biết được sự tham gia và hoạt động của các
đơn vị liên quan góp phần vào việc giải quyết vấn đề này tại thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CUNG CẦU LAO
ĐỘNG
1. Một số khái niệm
1.1. Thị trường lao động
Thị trường là phạm trù thuộc kinh tế học, ra đời và phát triển gắn
liền với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khi chưa có nền sản xuất
hàng hóa thì chưa có các loại thị trường. Kinh tế hàng hóa là hình thái
tổ chức kinh tế, trong đó diễn ra quá trình sản xuất và trao đổi hàng
hóa. Trong quá trình trao đổi đó, theo nghĩa thông thường thì “ thị
trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành mua bán
giữa người bán và người mua”. (Giáo trình thị trường lao động, 2008,
tr 9)
Trong hệ thống thị trường (thị trường hàng hóa, thị trường lao
động, thị trường vốn, thị trường đất đai...) thì thị trường lao động là
bật nhất, bởi vì: Lao động là nhu cầu của con người; là nguồn gốc tạo
ra phần lớn của cải vật chất trong xã hội; là nhân tố quyết định tới sự
hoạt động và phát triển của các loại thị trường.
Theo Adam Smith “Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi
hàng hóa sức lao động (hoặc dịch vụ lao động) giữa một bên sử dụng
lao động và một bên là người lao động ”.
Theo tiến sỹ Leo Maglen “Thị trường lao động là một hệ thống
trao đổi giữa những người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm
với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động
để sử dụng (cầu lao động)”
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) “Thị trường lao động là thị
trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một
quá trình thỏa thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động,
cũng như mức độ tiền cộng”
Từ đó có thể nêu lên một định nghĩa khái quát về thị trường lao
động như sau: “Thị trường lao động là nơi ngưới có nhu cầu tìm việc

động bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc và
những người thất nghiệp, hoặc thiếu việc làm.
Bên cạnh đó, cung về lao động còn được xem xét từ giác độ chất
lượng lao động, tức là các phẩm chất cá nhân của người lao động.
Trong đó, trình độ học vấn, trình độ đào tạo, các kỹ năng chuyên môn,
kỷ luật lao động…là những yếu tố chính, quyết định chất lượng của
loại hàng hóa đặc biệt này.
Từ đó có thể thấy rằng các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cung
lao động là: quy mô và tốc độ tăng dân số; quy định pháp lý về độ tuổi
lao động; tỷ trọng cư dân trong độ tuổi lao động và tỷ lệ tham gia vào
lực lượng lao động; tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị
trường lao động; tình trạng tự nhiên của người lao động; các phẩm
chất cá nhân về học vấn, trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của người lao động, và một số các chỉ số khác.
1.3. Cầu lao động
Cầu về lao động là số lượng lao động được thuê mướn trên thị
trường lao động. Hay nói cách khác, cầu lao động là toàn bộ cầu về
sức lao động của một nền kinh tế (hoặc của một ngành, địa phương,
doanh nghiệp…) ở một thời kỳ nhất đinh, bao gồm cả mặt số lượng,
chất lượng, cơ cấu và thường được xác định thông qua chỉ tiêu việc
làm. (Giáo trình thị trường lao động, 2008, tr 76)


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

8

Nhu cầu về cầu lao động thể hiện qua khả năng thuê mướn lao
động trên thị trường lao động. Xét từ giác độ số lượng, trong điều kiện
năng suất lao động không biến đổi, cầu về lao động xã hội tỷ lệ thuận

2.1. Thực Trạng Cung Cầu Lao Động Cả Nước


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

9

2.1.1. Cung lao động
- Lực lượng lao động cả nước năm 2008 có 48,34 triệu người
(chiếm 70% dân số), trong đó trong độ tuổi lao động là 44,17 triệu
người (chiếm 91,4%); lực lượng lao động Việt Nam có cơ cấu trẻ,
nhóm tuổi 15-34 là 20,97 triệu người (chiếm 43,4%). Tốc độ tăng lực
lượng lao động hàng năm giảm dần (năm 2005: 2,26%, năm 2007:
2%, năm 2008: 1,65%), mỗi năm lực lượng lao động được bổ sung
khoảng 1 triệu người.
- Cả nước hiện có 47,25 triệu lao động có việc làm; tỷ lệ lao
động làm việc trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp
– xây dựng và thương mại – dịch vụ lần lượt là 47,7%; 21,5% và
30,8%. Người lao động làm việc trong kinh tế gia đình không hưởng
lương (người làm việc trong các nông trại, hoặc công việc sản xuất
kinh doanh của gia đình mà không được trả lương) chiếm tỉ lệ cao
nhất (42%), những người làm công ăn lương chiếm gần 23% tổng số
người có việc làm.
2.1.2. Cầu lao động
- Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành
chính, sự nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, trong đó
có gần 3,935 triệu cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh, chiếm tỷ
trọng 94,9%. Số doanh nghiệp hiện đăng ký kinh doanh có 300 nghìn
(trong đó có trên 200 nghìn doanh nghiệp hiện đang hoạt động). So
với năm 2002, số lượng cơ sở tăng nhanh ở tất cả các loại hình, ngành

nghìn đồng/tháng, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài là 2.175 nghìn
đồng/tháng; năm 2007 thu nhập bình quân tăng lên tương ứng ở các
loại hình doanh nghiệp là 3.050 nghìn, 1.660 nghìn và 2.450 nghìn
đồng/tháng; năm 2008 thu nhập bình quân tăng lên tương ứng ở các
loại hình doanh nghiệp là 3.530 nghìn, 1.860 nghìn và 2.750 nghìn
đồng/tháng.
2.2. Khái Quát Về Thành Phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện,
tổng diện tích 2.095,01 km². Theo kết quả điều tra dân số chính thức
vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là
7.123.340 người (chiếm 8,30% dân số Việt Nam), mật độ trung bình
3.401 người/km². Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng
ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người. Giữ vai trò
quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh
chiếm 20,2% tổng sản phẩm và 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp
của cả quốc gia. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, nằm ở miền Nam
Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường
bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường
chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố
Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ,
đường thủy và đường không trở thành một đầu mối giao thông quan
trọng của Việt Nam và Đông Nam Á.Vào năm 2007, thành phố đón
khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt
Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, thành phố
Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt
Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam
nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công
nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005, thành phố Hồ Chí


dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VNIndex, được thành lập vào tháng 7 năm 1998. Tính đến ngày 31 tháng
12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm
yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ
đồng.
Tuy vậy, nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối
mặt với nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công
nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở
ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất,
14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở
chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở
hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã
hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

12

công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại
hiệu quả kinh tế hơn.
2.3. Thực Trạng Cung Cầu Lao Động Ở Thành Phố Hồ Chí Minh
Từ kết quả quá trình khảo sát liên tục về cung – cầu tại 18 lần
tham gia sàn giao dịch, ngày hội việc làm trên địa bàn thành phố, các
nguồn thông tin của các trung tâm giới thiệu việc làm, trường dạy
nghề và các kênh thông tin của doanh nghiệp về tuyển dụng lao động
trong năm 2010. Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị
trường lao động thành phố Hồ Chí Minh đã tổng hợp cơ sở dữ liệu
của 18.036 doanh nghiệp với nhu cầu tuyển dụng 231.764 lượt tuyển
dụng, 84.151 lượt người tìm việc làm và khảo sát tại các sàn giao dịch
việc làm 12.717 người tìm việc. Có thể nhận định, phân tích tổng

13

việc làm bán thời gian trong lĩnh vực gia công sản xuất, chế biến và
dịch vụ - phục vụ.
Đồng thời năm 2010 các hoạt động hỗ trợ thị trường lao động
phát triển đa dạng với nhiều hoạt động trực tiếp và truyền thông như
sàn giao dịch việc làm, ngày hội nghề nghiệp, thông tin thị trường lao
động, dự báo nhu cầu nhân lực, tư vấn hướng nghiệp; các trường dạy
nghề tăng cường hoạt động đào tạo theo nhu cầu xã hội tạo gắn kết
nghề nghiệp – việc làm. Hình thức tuyển dụng lao động trên hệ thống
điện tử, trực tuyến phát triển mạnh cùng với các chính sách của doanh
nghiệp về tuyển dụng linh hoạt, cụ thể thông tin chính sách sử dụng
lao động đã hỗ trợ sinh viên – học sinh, người lao động tìm việc thuận
lợi hơn
2.3.2. Phân Tích Cầu Lao Động
Những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng nhiều nhất trong năm
2010 là Dệt may, Marketing - Nhân viên Kinh doanh (11,07%), Giày
da (10,53%), Nhựa – Bao bì (10,52%), Dịch vụ và phục vụ (9,04%),
Điện tử - Viễn thông (5,96%), Bán hàng (5,24%), Cơ khí - Luyện kim
(5,00%), Giao thông – Vận tải (3,83%), Kế toán - Kiểm toán (3,28%),
Mộc - Mỹ nghệ - Trang trí nội thất (2,67%), Công nghệ thông tin
(2,44%)… Những ngành này đa số là những ngành thâm dụng lao
động đặc biệt tập trung tại các KCX - KCN.
Thực hiện chương trình việc làm thành phố, trong 11 tháng đã tổ
chức giới thiệu và giải quyết việc làm được 271.061 lao động
100,39% kế hoạch, trong đó 120.641 chỗ làm việc mới. Ước năm
2010 giải quyết việc làm được trên 275.000 lao động.


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG


Trung học CN

8,9%

Cao đẳng

2,84%

Đại học

3,87%

Trên đại học

0,03%

Cộng

100%

Diễn biến nhu cầu nhân lực tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy
trong 06 tháng đầu năm 2010 là thời điểm kinh tế phục hồi phát triển
sau thời gian doanh nghiệp cắt giảm nhiều lao động trong năm 2009,
cũng là thời điểm vào dịp Lễ, Tết do đó sau Tết nhu cầu của các
doanh nghiệp tập trung nhiều vào nguồn lao động phổ thông cho các
hoạt động sản xuất, dịch vụ thời vụ rất lớn đặc biệt những ngành nghề
như Dệt may – Giày da (12,08%), Nhựa – Bao bì (19,49%) và đa số là
tuyển lao động phổ thông. Đồng thời các nhóm ngành nghề Marketing
- Nhân viên Kinh doanh (7,81%), Điện tử - viễn thông (7,90%), Dịch

Về cơ cấu trình độ chuyên môn, năm 2010 nhu cầu tuyển dụng
lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao (56,41%) trong tổng nhu cầu
tuyển dụng, một số ngành nghề như Dệt may, Nhựa, Bao bì, Mộc Mỹ nghệ - Trang trí nội thất, Điện tử - viễn thông, Điện tử - viễn
thông, Cơ khí – Luyện Kim, Dịch vụ - phục vụ, Bán hàng, Marketing
- Nhân viên Kinh doanh… Lao động có trình độ cao đẳng - đại học
chiếm (19,08%) chủ yếu là những ngành nghề Công nghệ thông tin,
Xây dựng – Kiến trúc, Quản lý kinh doanh, Quản lý nhân sự, Kiểm
toán, Kế toán, Marketing – Nhân viên kinh doanh, Bán hàng. Còn lại
lao động từ Sơ cấp nghề đến Trung cấp chiếm (24,51%) bao gồm


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

16

những ngành nghề Cơ khí - Luyện kim, Điện - Điện công nghiệp Điện lạnh, Marketing - Nhân viên Kinh doanh, Bán hàng, Dịch vụ và
phục vụ, Tư vấn - Bảo hiểm, Giao thông-Vận tải-Thủy lợi, Dệt - May
- Giày da…

Hình 2.3 Chỉ số nhu cầu theo trình độ chuyên môn năm 2010:
2.3.3. Phân Tích Nguồn Cung Nhân Lực
Năm 2010, nguồn cung nhân lực cũng diễn biến những nghịch
lý, khi nguồn lao động phổ thông thiếu thì nguồn lao động có trình độ
từ trung cấp, cao đẳng, đại học trong một số ngành nghề lại chưa đáp
ứng số lượng, chất lượng so với nguồn cầu như: Quản lý điều hành,
Tin học, Kế toán, Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng, Tài chính
- Ngân hàng, Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu. Do đó vẫn có hiện
tượng thừa lao động có trình độ nhưng chưa đáp ứng yêu cầu tuyển
dụng và làm việc của doanh nghiệp (chưa toàn diện về kỹ năng
chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý, ngoại

2010


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

18

Hình 2.5 Chỉ số nguồn cung theo trình độ năm 2010
2.3.4. Dự Báo Nhu Cầu Nhân Lực Năm 2011
Theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố giai
đoạn 2011-2015, kế hoạch GDP của thành phố tăng từ 12% trở lên
vào năm 2011, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tất nhiên nhu
cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp cũng tăng lên đáp ứng cho nhu
cầu phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Theo chương trình việc làm của thành phố, năm 2011 thành phố
Hồ Chí Minh có nhu cầu trên 265.000 lao động kể cả nhu cầu về lao
động thay thế và lao động tuyển mới (khoảng 120.000 chỗ làm việc
mới). Trong đó lao động phổ thông chiếm trên 45%, trình độ đại học,
cao đẳng khoảng 20%, lao động có trình độ từ sơ cấp nghề đến trung
cấp chiếm khoảng 35%.
Tổng hợp các nhu cầu tuyển dụng của trên 6.000 doanh nghiệp
đã được khảo sát cho thấy những ngành có nhu cầu tuyển dụng nhiều
trong năm 2011 như Cơ khí, Điện, Điện tử, Dệt may- Giày da, Tài
chính – Ngân hàng, Kế toán – Kiểm toán, Chế biến thực phẩm, Quản
lý điều hành, nhân sự, Mộc – Mỹ nghệ, Trang trí nội thất, Xây dựng –
Kiến trúc... Đồng thời những ngành có nhu cầu tuyển dụng nhiều nhân
lực trong năm 2010 như Marketing, dịch vụ, phục vụ, vệ sinh công
nghiệp… cũng tiếp tục phát triển, đặc biệt nhu cầu tăng mạnh đối với
công việc giúp việc gia đình, chăm sóc người già, vệ sinh công
nghiệp, phục vụ, bán hàng tiếp tục tăng mạnh nhu cầu nhân lực.

Ngành nghề

Tỷ lệ (%)

01

Điện, điện tử

18%

02

Dệt may

18%

03

Dịch vụ

16%

04

Cơ khí

13%

05



Bảng 2.3: Xu hướng nhu cầu ngành nghề năm 2011
Ngành thu hút nhiều lao động

Cơ cấu nhu cầu
(%)

SX - Chế biến lương thực, thực phẩm

2,86

Hóa - Hóa chất

1,19


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

20

Công nghệ thông tin

2,44

Điện tử - viễn thông

5,96

Cơ khí - Luyện kim


Marketing - Nhân viên Kinh doanh

11,07

Bán hàng

5,24

Du lịch - Giải trí

1,20

Nhà hàng - Khách sạn

1,50

Dịch vụ và phục vụ

9,04

Tư vấn - Bảo hiểm

1,16

Luật - Pháp lý

0,72

Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng


Y tế - Chăm sóc sức khỏe

1,96

Dược - Công nghệ sinh học

1,01

Dệt - May - Giày da

10,50


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

21

Nhựa - Bao bì

4,00

Mộc - Mỹ nghệ - Trang trí nội thất

2,67

Ngành nghề khác

6,00

Tổng nhu cầu tuyển dụng : ~ 265.000 lượt. Trong đó 120.000 chỗ

03

Dịch vụ - Phục vụ - Du lịch – Khách
sạn, Nhà hàng

11,74

31.111

04

Điện tử - Viễn thông – Công nghệ
thông tin

8,40

22.260

7,77

20.591

05 Cơ khí – Luyện kim – Điện
06

Tài chính kế toán – Ngân hàng – Bảo
hiểm – Đầu tư chứng khoán

7,55



Quản lý điều hành – Nhân sự - Hành
chánh văn phòng

3,35

8.877

15.22

40.333

11 Khác


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

22

2.4 Đánh Giá Khái Quát Về Cung Cầu Lao Động Tại Thành Phố
Hồ Chí Minh.
2.4.1 Mặt Được:
Lực lượng lao động vẫn tăng hàng năm, nhưng tốc độ đã dần
chậm lại, làm giảm sức ép về việc làm. Trình độ học vấn, chuyên môn
kỹ thuật của người lao động đã được nâng lên qua các năm, tạo điều
kiện cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động, là chìa khóa để tiếp thu,
thích ứng với khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, là yếu tố quan
trọng nâng cao năng suất lao động. Sự phát triển mạnh của kinh tế - xã
hội và mở cửa, hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện cho lao động tại
TP. Hồ Chí Minh tiếp cận khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới và khoa


- Phân bố doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không đều giữa các
vùng, chủ yếu tập trung ở những khu đô thị lớn, mật độ dân số đông:
- Số doanh nghiệp có quy mô nhỏ là chủ yếu, phân tán và trình
độ kỹ thuật công nghệ thấp .
- Nhiều ngành có khả năng tạo ra giá trị sản xuất cao nhưng tỉ lệ
lao động lại ít như Điện – điện tử 44.200 lao động (10%), Cơ khí
20.535 lao động (9%), Dịch vụ 6.088 lao động (9%), Bao bì 6.126 lao
động (8.5%), Chế biến thực phẩm 8.856 lao động (8%), Nhựa 12.847
lao động (8%), Hóa chất 5.820 lao động (5%), Thủ công mỹ nghệ
12.513 lao động (1.5%).
2.4.2.3. Cân đối cung – cầu lao động
Nhìn tổng thể thị trường lao động TP Hồ Chí Minh vẫn là một
thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều; đặc biệt
quan hệ cung – cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh
tế đang diễn ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi dư thừa
lao động không có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật thì hiện
nay nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao
động, không chỉ là lao động qua đào tạo mà còn khó tuyển cả lao động
phổ thông.
Ngoài ra, một khảo sát mới đây cho thấy mức lương của nhà
tuyển dụng hiện nay trả thấp hơn từ 30 – 40% so với yêu cầu người
lao động. Thực tế trên 50% số người lao động có trình độ đại học, có
một năm kinh nghiệm trở lên, có chuyên môn, tay nghề đều yêu cầu
mức lương là 5 triệu đồng/tháng, nhưng phần lớn các doanh nghiệp
chỉ trả bình quân 3 triệu đồng/tháng.
Đối với lao động phổ thông, sơ cấp nghề, mức lương mong
muốn tìm việc làm từ 2 - 3 triệu đồng/tháng, trong khi mức lương rao
tuyển mà doanh nghiệp đưa ra chỉ từ 1,5 – 1,8 triệu đồng/tháng. Điều
này càng làm cho tình trạng thiếu hụt nhân lực và tỉ lệ thất nghiệp gia

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp, do vậy chưa có sự chuyển đổi tác
phong lao động nông nghiệp sang công nghiệp, chưa được trang bị
kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, trách nhiệm trong công
việc. Đồng thời, người lao động xuất thân từ nông thôn thường có tâm
lý làng xã lớn, bị ràng buộc nhiều bởi lệ làng, phong tục tập quán nên
ảnh hưởng không nhỏ đến kỷ luật, tác phong lao động. Điều này được
thể hiện rõ nhất tại thời điểm sau Tết nguyên đán, hàng loạt người lao
động không quay trở lại làm việc theo đúng quy định.
- Tâm lý người lao động: Do điều kiện xã hội phát triển, việc
làm phong phú, có nhiều điều kiện tiếp cận và lựa chọn nên người lao
động kén việc, tư tưởng tìm việc làm không đúng. Bên cạnh đó, không
ít tâm lý người lao động “đứng núi này trông núi nọ” làm cho sự biến
động lao động ở các công ty lớn. Do vậy dẫn đến hiện tượng các
doanh nghiệp treo biển đăng tuyển lao động thường xuyên để phòng
ngừa sự dịch chuyển lao động. Đồng thời, hiện nay những công việc ở
khu vực phi chính thức như: xe ôm, hàng rong, buôn bán nhỏ,.. đang
thu hút được rất nhiều lao động phổ thông. Người lao động rất dễ
kiếm việc ở khu vực phi chính thức, vừa có thu nhập tương đương với
ở khu vực chính thức.
- Hiểu biết pháp luật lao động còn hạn chế: 9,5% công nhân lao
động chưa biết về pháp luật lao động, chỉ có 6,3% biết rõ, còn lại là


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

25

biết qua loa, do đó họ không hiểu rõ về quyền và trách nhiệm lao
động, nên người lao động thường có tác phong, kỷ luật lao động tự do.
- Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất – kinh doanh phát triển nhanh

trí không còn phù hợp; yêu cầu chính là nguồn nhân lực năng động và
đã qua đào tạo.
- Đối với người lao động sự cạnh tranh chỗ làm việc gay gắt hơn,
công bằng hơn và trong môi trường mở rộng toàn xã hội. yêu cầu


THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

26

người lao động phải tự đào tạo nghề và các kỹ năng để thích nghi với
công việc.
- Vấn đề quan tâm nhất của người lao động đặc biệt lực lượng
sinh viên, học sinh là năng lực về ngoại ngữ, khả năng hợp tác, khả
năng làm việc trong môi trường đa văn hóa và tác phong làm việc
công nghiệp.
- Hạn chế về công tác quản lý nguồn nhân lực và thành phố vẫn
chưa tổ chức được hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị
trường lao động một cách chính xác. Chính từ việc chưa thực hiện tốt
công tác dự báo cụ thể về số lượng ngành nghề, trình độ, kỹ năng của
lực lượng lao động và chưa thực hiện được việc thống kê, phân tích
nhu cầu nhân lực của nhà tuyển dụng nên đào tạo chưa định hướng và
chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động; người lao động tìm
việc làm thiếu thông tin về việc làm, người sử dụng lao động thiếu
thông tin về cung – cầu lao động ảnh hưởng đến đầu tư sản xuất –
kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực thành phố.

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
3.1. Giải pháp


kinh tế; tạo việc làm theo hướng bền vững và có thu nhập cao; phát
triển thị trường lao động đồng đều trên phạm vi cả nước để gắn kết
cung – cầu lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và
tiến bộ; thực hiện công bằng trong quan hệ phân phối tiền lương và
thu nhập, phụ thuộc vào kết quả lao động, năng suất lao động và hiệu
quả kinh tế;
- Khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào chương trình đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực với vai trò là người sử dụng cuối cùng.
Kết hợp hài hòa giữa nhà đào tạo và người sử dụng lao động để hài
hòa lợi ích các bên, tránh lãng phí. Tăng cường liên kết với các doanh
nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực với các hình thức đa dạng như
đào tạo nhân lực theo địa chỉ, doanh nghiệp tham gia giảng dạy, tổ
chức cho sinh viên thực tập tại doanh nghiệp... Xây dựng chính sách



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status