Nâng cao chất lượng công chức cấp xã ở huyện thanh trì, thành phố hà nội - Pdf 35

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của vấn đề báo cáo thực tập
- Thực tiễn cho thấy, nơi đâu có đội ngũ công chức cơ sở vững mạnh thì
nơi đó tình hình chính trị, xã hội ổn định; kinh tế, văn hoá phát triển; quốc
phòng, an ninh được giữ vững. Ngược lại, cơ sở nào đội ngũ công chức không
đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, thì địa phương đó sẽ gặp khó khăn, kinh tế xã hội chậm phát triển, thậm chí tạo sơ hở cho kẻ địch lợi dụng, gây “điểm
nóng” về chính trị. Điều đó cho thấy, công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng
ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tác
động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay.
- Chính vì vậy, khi về thực tập tại Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì em
lựa chọn đề tài : “Nâng cao chất lượng công chức cấp xã ở huyện Thanh Trì,
Thành phố Hà Nội ” làm nội dung nghiên cứu và viết báo cáo thực tập.
2. Mục đích và nhiệm vụ
- Báo cáo thực hiện mục đích đề xuất những phương hướng và giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng công chức cấp xã ở huyện Thanh Trì, Thành phố Hà
Nội.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Báo cáo tập trung nghiên cứu về chất lượng công chức cấp xã ở huyện
Thanh Trì, Thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2007 đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
- Trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của
Đảng về cán bộ và chất lượng đội ngũ công chức nói chung, chất lượng đội ngũ
công chức cấp xã nói riêng; đồng thời báo cáo có kế thừa, vận dụng có chọn lọc
những kết quả của các tác giả đã nghiên cứu có liên quan.

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

CHƯƠNG 1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN THANH TRÌ
1. Điều kiện tự nhiên
- Thanh Trì là một huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Nam của Thủ
Đô Hà Nội phía Bắc giáp Quận Hoàng Mai, phía Nam và Tây Nam giáp với
Tỉnh Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), Phía Đông giáp Huyện Gia Lâm có ranh giới tự
nhiên là sông Hồng, phía Tây giáp Quận Thanh Xuân. Thanh Trì có thuận lợi cơ
bản về giao lưu đường sắt, đường sông, đường bộ với các vùng phía Nam, là cửa
ngõ đón nhận tất cả các đường giao lưu giữa các tỉnh phía Nam và các tỉnh phía
Bắc trước khi vào Hà Nội.
- Huyện Thanh Trì gồm có 15 xã, 1 thị trấn là: thị trấn Văn Điển, xã
Thanh Liệt, xã Đông Mỹ, xã Yên Mỹ, xã Duyên Hà, xã Tam Hiệp, xã Tứ Hiệp,
xã Ngũ Hiệp, xã Ngọc Hồi, xã Vĩnh Quỳnh, xã Tả Thanh Oai, xã Đại Áng, xã
Vạn Phúc, xã Liên Ninh, xã Hữu Hòa, xã Tân Triều. Theo số liệu tổng điều tra
dân số năm 2010 toàn huyện có 201.000 người với tổng diện tích đất tự nhiên là
6.292,7 ha, đất nông nghiệp là 3.463 ha.
- Tuy nhiên, Thanh Trì cồn tồn tại một số hạn chế chủ quan và khách
quan đã tác động không nhỏ đến đời sống của nhân dân toàn huyện nói chung và
công tác giáo dục nói riêng. Thanh Trì là vùng đất trũng, lại chịu sự tác động của
ô nhiễm nguồn nước thải của Thành phố và nghĩa trang Văn Điển. Nhiều nhà
máy hóa chất đang hoạt động (nhà máy phân lân nung chảy Văn Điển, pin Hà
Nội, Sơn tổng hợp...) đã gây ảnh hưởng lớn đến nguồn nước sinh hoạt của nhân
dân. Nước cấp cho nhân dân phục vụ sinh hoạt chủ yếu từ các trạm cấp nước
mini, nên chưa đảm bảo về tiêu chuẩn lý hóa. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, đường
giao thông liên thôn, liên xã còn nhỏ hẹp, hệ thống thoát nước còn nhiều bất cập.
2. Tình hình kinh tế - xã hội
- Những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn do sự duy thoái của nền
kinh tế chung và hậu quả do thiên tai gây ra, kinh tế huyện vẫn giữ được mức

trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp, nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương,
biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng và thực hiện
chính sách trên địa bàn
- UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp
phần đảm bảo chỉ đạo quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ
trung ương tới cơ sở.
1.2. Nhiệm vụ - quyền hạn:
- Trong lĩnh vực kinh tế:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, lập dự toán thu
ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện,tổ chức thực hiện ngân sách địa phương,
phê chuẩn kế hoạch kinh tế - xã hội của các xã, thị trấn.
- Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và đất đai:


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

+ Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân quận thông qua các chương trình
khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ở địa phương Chỉ
đạo Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn thực hiện các biện pháp chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
+ Xây dựng quy hoạch thuỷ lợi, tổ chức bảo vệ đê điều, các công trình
thuỷ lợi vừa và nhỏ, quản lý mạng lưới thuỷ nông trên địa bàn theo quy định của
pháp luật.
-Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
+Tham gia với Uỷ ban nhân dân thành phố trong việc xây dựng quy
hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
+ Xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ ở các các xã,thị trấn.

hàng giả, kém chất lượng.
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội:
+ Tổ chức phong trào quần chúng tham gia xây dựng lực lượng vũ trang
và quốc phòng toàn dân.Tổ chức đăng ký, khám tuyển nghĩa vụ quân sự, chỉ đạo
và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý hộ khẩu, quản
lý việc cư trú, đi lại của người nước ngoài ở địa phương;
- Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo
+ Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật về dân tộc và
tôn giáo.Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn
giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào
có biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo.
- Trong việc thi hành pháp luật:
+ Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra
việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
nhà nước
+ Tổ chức thực hiện và chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các xã thực hiện các biện
pháp bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội,chỉ đạo việc thực
hiện công tác hộ tịch trên địa bàn.Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác thi hành
án theo quy định của pháp luật, công tác kiểm tra, thanh tra nhà nước giải quyết
các khiếu nại tố cáo của công dân.
- Trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính:
+ Tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân theo quy định của pháp luật. Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ,
quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn .
+ Quản lý hồ sơ, mốc, chỉ giới, bản đồ địa giới hành chính của huyện.
Xây dựng đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa
phương



khi được phê duyệt
-Tham mưu cho UBND cấp huyện tổ chức và thực hiện các cuộc bầu cử
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo luật định.


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

- Xây dựng phương hướng nhiệm vụ công tác nội vụ, văn thư, lưu trữ nhà
nước, tôn giáo, thi đua khen thưởng trình UBND và tổ chức thực hiện khi được
phê duyệt, phối hợp với các cơ quan hữu quan hướng dẫn thực hiện pháp luật,
chính sách về nội vụ, văn thư, lưu trữ nhà nước, thi đua khen thưởng tôn giáo
- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, chính sách thuộc lĩnh vực
nội vụ, giải quyết các đơn khiếu nại tố cáo của nhân dân về lĩnh vực này
- Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác nội vụ, văn thư,lưu trữ nhà nước, tôn
giáo thi đua khen thưởng hàng năm.
1.4.3. Cơ cấu tổ chức
- Phòng có 01 trưởng phòng: phụ trách chung trực tiếp chỉ đạo về nội vụ,
chịu trách nhiệm trước UBND huyện, Sở Nội vụ về mọi mặt hoạt động của
phòng, phụ trách công tác kế hoạch, công tác tổ chức, biên chế cán bộ, công tác
tài vụ, công tác thi đua khen thưởng, bầu cử các cấp ngành.
- Phó trưởng phòng có 02 người:
+ 01 phó trưởng phòng trực tiếp quản lý công tác nội vụ, tập trung chỉ đạo
công tác hành chính nhà nước, công tác tổ chức, biên chế, tiền lương, bồi dưỡng
cán bộ, thực hiện quy chế dân chủ, quản lý hồ sơ, công chức, viên chức.
+ 01 phó trưởng phòng quản lý công tác thi đua - khen thưởng, công tác
tôn giáo
- Chuyên viên : 01 người phụ trách công tác tổ chức, tiền lương, đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức, công tác cải cách hành chính xã –

ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công chức cấp xã. Ý thức tổ chức, tính kỷ
luật của một số công chức cấp xã chưa cao. Tác phong làm việc chậm chạp, trì
trệ, luộm thuộm, không đúng giờ... gây lãng phí thời gian, dẫn đến sự tuỳ tiện
trong giải quyết công việc và chấp hành nội quy, quy chế làm việc.
- Một bộ phận công chức cấp xã thiếu tu dưỡng, rèn luyện, có biểu hiện sa
sút về phẩm chất lối sống, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi cá nhân. Có
nơi đội ngũ công chức xã lôi kéo bè cánh, người thân trong bố trí, sử dụng cán
bộ.
3. Thực trạng về trình độ đào tạo


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

3.1. Về trình độ văn hoá
- Việc chuẩn hoá đội ngũ công chức cấp xã là rất quan trọng, bởi văn hoá
là gốc rễ, nền tảng, tiền đề cho đào tạo, bồi dưỡng các trình độ khác.
- Hiện nay, mặt bằng trình độ văn hoá của công chức cấp xã huyện Thanh
Trì tương đối cao, số công chức cấp xã tốt nghiệp THPT giai đoạn 2006 -2009 là
104 người (92%); còn lại trung học cơ sở: 9 người (8%);. Đến nay, số công
chức cấp xã tốt nghiệp THPT giai đoạn 2009 -2012 là 109 người (92,4%); còn
lại trung học cơ sở: 9 người (7,6%). Như vậy tiêu chuẩn văn hóa nhìn chung là
đạt, tạo được tiền đề cho việc nhận thức và tiếp thu các tri thức khác.
3.2.Về trình độ chuyên môn
- Thực trạng về trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã, huyện
Thanh Trì trong 5 năm qua được thể hiện ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Thực trạng trình độ chuyên môn của công chức cấp xã, huyện
Thanh Trì (2007- 2012)
St

TC

Chư
a
đạt

1

Công an

15

0

15

15

0

0

1

0

6

8


4

13

10

10

0

12

0

8

0

4

Địa chính
18
xây dựng

2

11

12


5

0

0

6

Tài chính
16
kế toán

9

11

12

4

0

8

6

1

1


45

0

58

25

19

16

Cộng

118


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

(Nguồn: Phòng Nội vụ, huyện Thanh Trì)
- Qua khảo sát, trình độ chuyên môn của công chức cấp xã của huyện
Thanh Trì ở mức độ trung bình so với mặt bằng chung của cả nước. Tuy nhiên
với vị thế một đơn vị cơ sở của thủ đô- nơi mặt bằng dân trí cao nhất nước thì
với số công chức trình độ đại học đạt 49,1% chưa đáp ứng được yêu cầu quản lí
nhà nước.
- Với yêu cầu cải cách nền hành chính đáp ứng xu thế toàn cầu hóa hiện
nay rất cần phải chuẩn hóa đội ngũ công chức cấp xã ở trình độ cao đẳng và đại
học.


15

0

15

15

0

0

4

0

11

2

Quân sự

16

0

16

16


12

4

Địa chính
18
xây dựng

2

11

12

6

0

1

0

17

5

Văn hóa
15
xã hội


0

0

0

16

7

Tư pháp
18
hộ tịch

2

5

5

13

0

4

0

14

bồi dưỡng ở trình độ sơ cấp, nhưng còn rất hạn chế; còn lại chiếm gần 80% là
chưa được bồi dưỡng về lý luận chính trị.
3.4. Về trình độ quản lý nhà nước
- Thực trạng về trình độ quản lý Nhà nước của đội ngũ công chức cấp xã,
huyện Thanh Trì trong 5 năm qua được thể hiện ở bảng 2.3.
Bảng 2.3: Thực trạng trình độ quản lý nhà nước của công chức cấp xã,
huyện Thanh Trì (2007- 2012)
St

Chức danh

Số

Nữ

Đản

Biê

Hợp

Trình độ quản lý Nhà nước
Đã học

Chưa học

1

Công an


13

3

Văn phòng
20
thống kê

4

13

10

10

2

18

4

Địa chính
18
xây dựng

2

11


16
kế toán

9

11

12

4

0

16

7


pháp
18
hộ tịch

2

5

5

13


SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

3.5. Về trình độ tin học, ngoại ngữ
- Thực trạng về trình độ tin học, ngoại ngữ của đội ngũ công chức cấp xã,
huyện Thanh Trì trong 5 năm qua được thể hiện ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Thực trạng trình độ tin học, ngoại ngữ của công chức cấp xã,
huyện Thanh Trì (2007- 2012)
St
t

Chức
danh

Số
lượn

Nữ

Đản
g

Biê
n

Hợp
đồn

Trình độ tin Trình độ ngoại
học
ngữ

16

0

16

3

Văn
phòng
thống kê

20

4

13

10

10

8

4

Địa
chính
18
xây dựng

16
kế toán

9

11

12

4

6

2

7

Tư pháp
18
hộ tịch

2

5

5

13

4

1

9

7

7

10

3

10

5

3

8

5

10

8

4

12


- Việc đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao được xét từ sự
nhìn nhận của hai chủ thể có liên hệ trực tiếp đó là thủ trưởng đơn vị và nhân
dân địa phương.
- Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát việc đánh giá kết quả hoạt động
của đội ngũ công chức giai trong 3 năm gần đây từ 2009 đến 2012, kết quả được
thể hiện ở bảng 2.5.
Bảng 2.5: Ý kiến đánh giá của thủ trưởng cơ quan và nhân dân địa phương
về kết quả hoạt động của công chức cấp xã từ 2007 đến 2012
(Đơn vị tính %)
Kết quả đánh giá
Tiêu chí đánh giá

Thủ trưởng cơ quan
Tốt

Nhân dân địa phương

Khá

TB

Kém

Tốt

Khá

TB

Kém


50

12

8

(Nguồn số liệu: điều tra tháng 4/2013
5. Đánh giá chung về chất lượng công chức cấp xã ở huyện Thanh Trì
5.1.Về ưu điểm
- Đa số công chức cấp xã có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, trung thành
với lý tưởng, kiên định với mục tiêu xây dựng CNXH, tin tưởng vào sự nghiệp
đổi mới của Đảng, có lối sống giản dị, trong sáng, am hiểu đời sống nhân dân,
tâm huyết với cơ sở.
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở đã nhận thức sâu sắc, đúng
đắn về vị trí, yêu cầu của công tác cán bộ và nâng cao chất lượng công chức cấp
xã trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Công tác cán bộ trong thời
gian gần đây, đặc biệt là nhiệm kỳ 2010-2015 ngày càng đổi mới hơn, đảm bảo
khách quan, dân chủ, chặt chẽ và đúng quy trình.


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

- Công chức cấp xã đã từng bước được chuẩn hoá, việc đánh giá, quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ dân chủ,
nề nếp hơn, đã đào tạo và bồi dưỡng hàng vạn lượt cán bộ, nâng cao trình độ cả
về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý kinh tế, quản lý xã hội; thực hiện tốt
chính sách đối với cán bộ.

Thứ hai, mất cân bằng giới tính trong cơ cấu công chức cấp xã
- Giai đoạn 2007 - 2009 số lượng công chức nữ cấp xã của huyện Thanh
Trì là 16 người trên tổng số 113 công chức. Sang giai đoạn 2009 - 2012 tăng lên
là 19 người nhưng trên tổng số 118 công chức cấp xã. Như vậy, tỉ lệ giới nữ làm
việc chuyên môn ở cấp xã là quá thấp
Thứ ba, chất lượng công chức cấp xã của huyện Thanh Trì còn thấp so với yêu
cầu của thời kỳ mới.
- Bên cạnh đó, sự hạn chế về trình độ quản lí nhà nước, chắp vá về trình
độ đào tạo của công chức hạn chế nhiều tới khả năng tư duy, nhận thức trong tổ
chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước vào thực tiễn ở địa phương.Trình độ của công chức đóng vai trò
quyết định năng lực quản lý nhà nước của công chức , trình độ thấp dẫn đến kỹ
năng yếu, kỹ năng yếu dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước thấp.
6. Nguyên nhân của hạn chế về chất lượng công chức cấp xã huyện Thanh
Trì
6.1. Nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về cán bộ, công chức xã, phường,
thị trấn còn chồng chéo, mâu thuẫn và có nhiều bất cập. Đôi khi các văn bản
hướng dẫn thực hiện còn chưa được ban hành kịp thời gây lúng túng trong quá
trình áp dụng các văn bản pháp luật có liên quan đến công chức xã, ví dụ như
Luật CBCC 2008 Quốc hội thông qua 13/11/2008 có hiệu lực 1/1/2010; Chính
phủ ban Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn ban hành ngày 22/10/2009, phải tới
ngày 27/05/2010 Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động- Thương binh và Xã
hội mới ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH
để hướng dẫn thi hành Nghị định 121 nói trên. Sự chậm trễ này ảnh hưởng
không nhỏ đến công tác giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức
cấp xã.
- Thứ hai, việc quy định các tiêu chuẩn cụ thể của công chức như hiện nay
tạo ra nhiều bất cập và ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức. Đó là,

chưa trở về địa phương rất nhiều, nhưng do không có chủ trương, chính sách thu
hút cụ thể nên không bổ sung được lực lượng này vào đội ngũ CBCC cấp xã,
nhất là đối với các chức danh chuyên môn. Do vậy, đã không làm thay đổi được
cơ cấu trình độ và năng lực của công chức cấp xã.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay thực tế chưa thực sự đáp ứng về
truyền thụ kiến thức, nâng cao năng lực, trình độ cho công chức cấp xã để hoàn
thành nhiệm vụ trong thời kỳ mới, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng công
chức cấp xã, thể hiện ở việc đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự đúng đối tượng cần
nâng cao năng lực trình độ để thực hiện nhiệm vụ, hoàn thành công tác được
giao; việc quản lý đào tạo, bồi dưỡng vẫn còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ; nhiều cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng vẫn chưa đáp ứng về nhu cầu dạy học, cơ sở vật chất
không đảm bảo, số lượng và chất lượng giáo viên thiếu và yếu, cả về năng lực
chuyên môn và sư phạm trong khi nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng ngày một cao; nội


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho công chức cấp xã còn mang
nặng lý thuyết, thường nặng về lý luận chính trị, trùng lặp và chưa đi sâu vào
khoa học chuyên ngành, kỹ thuật tác nghiệp hành chính, nghiệp vụ quản lý nhà
nước. Mặt khác, chế độ, chính sách của Nhà nước chưa thật sự khuyến khích
công chức cấp xã đi học nâng cao năng lực, trình độ, chưa tạo điều kiện để họ
yên tâm học tập và làm thay đổi nhận thức của họ trong học tập.
- Công tác quản lý cán bộ, công chức còn nhiều thiếu sót, vừa chồng chéo,
vừa phân tán, thiếu tập trung, thống nhất. Việc thanh tra và xử lý những vi phạm
pháp luật, tham ô, lãng phí, vô trách nhiệm của cán bộ chính quyền cơ sở chưa
kịp thời. Nhiều vụ xử lý chưa nghiêm, còn bị che dấu hoặc mới chỉ đem ra xử lý
nội bộ nên không tạo thành những bài học cần thiết có tính răn đe và ngăn chặn

cấp xã nói chung và cấp xã của huyện Thanh Trì nói riêng
- Do những tác động công tác quản lý nhà nước của chính quyền xã đang
đứng trước các biến đổi lớn về nhiệm vụ quản lý nhà nước như sau:
Các quan hệ xã hội cần được điều chỉnh không ngừng mở rộng, xuất hiện nhiều
loại hình công tác quản lý nhà nước mà trước đây chính quyền xã không phải
làm. Ví dụ như: việc chiếu sáng nơi công cộng, thoát nước, thu gom rác thải, cấp
nước sạch.
- Khối lượng công tác quản lý nhà nước cũng tăng lên rất nhiều ở xã (kể
cả trong các công việc có tính chất truyền thống), đặc biệt là tiểu thủ công
nghiệp và phát triển các ngành nghề truyền thống.
- Nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền xã phức tạp hơn trước với
sự phát triển cao về dân trí của dân cư, quản lý khách du lịch, nhiều phần tử luôn
có ý thức chống đối, cộng đồng xã đã và đang trong quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước.
2. Mục tiêu nâng cao chất lượng công chức cấp xã ở huyện Thanh Trì
- Việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã phải trên cơ sở thực
tiễn kinh tế - xã hội của địa phương, xuất phát từ thực trạng công chức cấp xã
của huyện, căn cứ vào các tiêu chí đối với từng công chức để có các giải pháp
thích hợp nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã của huyện Thanh Trì đảm
bảo về chất lượng và số lượng. Do vậy, mục tiêu đề ra đến năm 2020 của huyện
Thanh Trì cụ thể như sau:
+ Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã của huyện có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, có tinh thần đoàn kết,
hợp tác, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân,
kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới,


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

- Cần điều chỉnh từ “gốc” của vấn đề, cụ thể là xác định rõ hơn vị trí, vai
trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy chính quyền cấp xã trong điều
kiện mới theo 2 cách:


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

+ Thứ nhất, quy định rõ các chức danh nhưng phải xác định rõ và mở
rộng hơn các chức năng, nhiệm vụ mà chức danh đó phải đảm nhiệm, phù hợp
với những yêu cầu hoạt động của chính quyền xã trong xu hướng hội nhập.
Tránh tình trạng có thêm nhiệm vụ là đòi thêm chức danh như đã xảy ra.
+ Thứ hai, thông qua việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của bộ máy
chính quyền xã có thể khoán phụ cấp (hoặc lương) trong tổng số kinh phí hoạt
động của chính quyền cơ sở để cho Hội đồng nhân dân hoặc Uỷ ban nhân dân xã
xem xét cụ thể đặc điểm tình hình địa phương và quyết định tổ chức bộ máy cho
phù hợp. Với cách này vừa tiết kiệm được ngân sách nhà nước, vừa phát huy
được sự năng động, sáng tạo và nỗ lực của những người làm công tác ở cơ sở.
3.2. Giải pháp về tổ chức
- Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc nâng cao chất
lượng đội ngũ công chức cấp xã. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
chính quyền cấp xã nhằm không ngừng củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động
của chính quyền cấp xã, đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở
cơ sở. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là “đổi mới nội dung và phương thức hoạt
động hướng vào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy”, “thực hành dân
chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên
tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Xác định vấn
đề cán bộ là then chốt trong công tác xây dựng Đảng, là nhân tố quyết định đến
thành công của sự nghiệp đổi mới, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế

hợp, không chỉ cho trước mắt mà còn cho những năm tiếp theo. Thứ hai, cần
nắm vững mục tiêu, tiêu chuẩn cán bộ, cơ cấu và tổ chức của bộ máy chính
quyền cấp xã để xác định phạm vi đối tượng quy hoạch, từ quy hoạch tổng thể,
quy hoạch từng loại, đến quy hoạch từng chức danh công chức cấp xã để các
chức danh chuyên môn được lựa chọn chu đáo, đào tạo kỹ lưỡng.
Làm tốt việc điều tra, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng tình hình đội ngũ
công chức cấp xã .
+ Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen
thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức .Hội nghị Trung ương
6 khóa IX kiểm điểm việc thực hiện Ba Nghị quyết về công tác cán bộ đã tổng
kết: “Đánh giá và quản lý cán bộ là khâu yếu nhất nhưng chậm được khắc phục”
nguyên nhân là do: “Chưa có sự thống nhất về nhận thức đối với những điểm
chủ yếu về tiêu chuẩn trong đánh giá cán bộ, chưa thực sự lấy kết quả hoàn
thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu về phẩm chất và năng lực cán bộ, cách
đánh giá cán bộ còn chung chung, thiếu cụ thể, hình thức, máy móc, thiếu căn
cứ khách quan”. Để đánh giá công chức được chính xác, khi đánh giá cần phải
xác định theo các nội dung sau: Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác
phong và lề lối làm việc; Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm
vụ; Tinh thần trách nhiệm trong công tác; Kết quả thực hiện nhiệm vụ được
giao.
+ Tiến hành điều tra, khảo sát nhằm nắm chính xác về số lượng, trình độ,
năng lực, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ công chức cấp xã để xác định khả


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, cũng như bất cấp trong chế độ, chính sách

được cấp trên phê duyệt quy hoạch, cần thực hiện ngay các bước tiếp theo và hai
năm một lần, các đơn vị, địa phương phải tiến hành xem xét lại để điều chỉnh,
bổ sung. Đồng thời hàng năm có đánh giá, nhận xét và có thể điều chỉnh cục bộ.


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

SV: Nguyễn Thị Hồng Tiếp KH8-TC51

Mọi điều chỉnh, bổ sung phải thực hiện theo đúng quy trình xây dựng quy hoạch
nêu trên và báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Đổi mới công tác tuyển dụng. Phải đảm bảo tính công khai, minh bạch,
khách quan và đúng luật khi tuyển dụng công chức; bảo đảm tính cạnh tranh
nhằm tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu công vụ. Trước khi thực hiện việc
tuyển dụng công chức cấp xã, cần rà soát lại đội ngũ công chức hiện có của các
xã, tiến hành sắp xếp lại công chức theo các yêu cầu về số lượng và chức danh
theo quy định. Xác định những chức danh công chức còn thiếu ở các xã và lấy
đó làm căn cứ để tuyển dụng. Niêm yết, thông báo công khai, đầy đủ các nội
dung liên quan đến việc tuyển dụng công chức cấp xã trên các phương tiện
thông tin đại chúng để mọi người dân biết và tham gia dự tuyển. Việc đánh giá
kết quả thi tuyển được thực hiện bằng một hội đồng hoàn toàn độc lập với cơ
quan, tổ chức tuyển dụng. Hội đồng này gồm những người có trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cao, phẩm chất đạo đức tốt.
+ Chú trọng việc quản lí, sử dụng đội ngũ công chức cấp xã đạt hiệu quả.
Việc quản lí, sử dụng đội ngũ công chức cấp xã được xác định là khâu quan
trọng nhất của công tác cán bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của bộ máy chính quyền địa phương.
+ Đổi mới và nâng cao chất lượng công chức cấp xã, từng cơ quan, đơn vị
xây dựng chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn cụ thể của các chức danh công chức ,
làm cơ sở xem xét, đánh giá, lựa chọn, tuyển dụng, bố trí sử dụng cán bộ đúng

3.3. Giải pháp về chính sách
- Có thể nói, chính sách đối với đội ngũ công chức cấp xã có ý nghĩa rất to
lớn, nếu chính sách không phù hợp, không đồng bộ dễ dẫn đến nhiều tiêu cực,
thiếu động lực để công chức xã cơ sở hăng hái làm việc, tạo tâm lý không ổn
định, làm việc cầm chừng, muốn chuyển đi nơi khác có chế độ tốt hơn. Đó là
chưa nói đến những trường hợp chế độ không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc
sống, dễ làm cho công chức sa ngã, xâm phạm đến tài sản của Nhà nước và công
dân, làm mất uy tín của Đảng và chính quyền. Vì vậy, hoàn thiện chế độ, chính
sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức cấp xã hiện nay là cấp thiết, vừa góp
phần khắc phục lối sống thực dụng, vừa động viên sự nhiệt tình hăng hái, củng
cố sự đoàn kết thống nhất trong đội ngũ công chức cấp xã, đồng thời cũng là
thực hiện công bằng xã hội.
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày
22/10/2009 “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở
xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”
(có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày
21/10/2003 của Chính phủ “Về chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường,
thị trấn”. Trong đó, ngoài các quy định về chức vụ, chức danh, số lượng CBCC
cấp xã, Nghị định 92 quy định cụ thể các chế độ chính sách như: chế độ tiền
lương, phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, chế độ đào tạo, bồi
dưỡng. Do vậy, nhiệm vụ trước mắt là cần triển khai thực hiện văn bản trên.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status