Vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nghệ an hiện nay full - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ BÌNH

VAI TRÒ ĐỘNG LỰC CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Ở NGHỆ AN HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà

2.

TS. Nguyễn Văn Thức

Hà Nội – 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà và TS. Nguyễn

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ........................... 5
1.1. Những công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về vai trò động lực của khu
vực KTTN ở Việt Nam ................................................................................................... 5
1.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng vai trò động lực của khu vực KTTN
ở Nghệ An ..................................................................................................................... 18
1.3. Những công trình nghiên cứu về giải pháp tiếp tục phát huy vai trò động lực
của khu vực KTTN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Nghệ An .......................... 20
Chương 2: VAI TRÒ ĐỘNG LỰC CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN Ở
VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ............................................................... 25
2.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................................ 25
2.2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò
động lực của khu vực KTTN......................................................................................... 41
2.3. Biểu hiện vai trò động lực của khu vực KTTN ở Việt Nam trong nền kinh tế
thị trường hiện nay ........................................................................................................ 57
Chương 3 : VAI TRÒ ĐỘNG LỰC CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở NGHỆ AN HIỆN NAY.......................................................................................... 70
3.1. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến khu vực KTTN ở
Nghệ An ........................................................................................................................ 70
3.2. Thực trạng vai trò động lực của khu vực KTTN ở Nghệ An từ 2000 - 2014 . 84
Chương 4 : QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI
TRÒ ĐỘNG LỰC CỦA KHU VỰC KTTN Ở NGHỆ AN ................................... 125
4.1. Một số quan điểm để tiếp tục phát huy vai trò động lực của khu vực KTTN ở
Nghệ An ...................................................................................................................... 125
4.2. Một số giải pháp cơ bản để tiếp tục phát huy vai trò động lực của khu vực
KTTN ở Nghệ An hiện nay ......................................................................................... 131
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 161


DANH MỤC BẢNG BIỂU

2

CNTB

Chủ nghĩa tư bản

3

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

4

DN

Doanh nghiệp

5

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

6

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa


12

KTTN

Kinh tế tư nhân

13

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

14

SXKD

Sản xuất kinh doanh

15

QLDA

Quản lý dự án

16

UBND

Ủy ban nhân dân


phương có những nét đặc thù riêng về bản sắc văn hoá, nguồn lực, vị trí địa lý và
năng lực của nhà cầm quyền. Chính những sự khác biệt này đã quyết định không nhỏ
tới sự phát triển của khu vực KTTN của mỗi vùng, miền và tỉnh.
Nghệ An là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Trung Bộ,
nhưng vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển song mảnh đất này hội tụ
nhiều điều kiện thuận lợi để khu vực KTTN phát triển. Cùng với sự phát triển của
cả nước, thời gian qua khu vực KTTN ở Nghệ An đã phát huy được vai trò động lực
của mình, có nhiều đóng góp trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương,


2

Đặc biệt từ khi có luật DN thì khu vực kinh tế này đã huy động được nhiều nguồn
lực xã hội vào SXKD, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống nhân dân, nhiều DN đã tạo dựng được "thương hiệu" lớn, có nhiều
đóng góp quan trọng cho nguồn thu nội địa của tỉnh; tạo được sự gắn kết kinh tế
giữa Nghệ An và các tỉnh thành thuộc vùng kinh tế Bắc miền Trung nói chung và
nhiều tỉnh, thành trên cả nước nói riêng, đồng thời thúc đẩy, liên kết với các thành
phần kinh tế khác cùng phát triển.
Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra những thành quả đó vẫn chưa đáp ứng được
kỳ vọng của Chính phủ cũng như chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An, mặc dù
số lượng cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp của khu vực KTTN tăng lên rất nhanh,
song chất lượng hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh cũng
như chính sự nội lực vươn lên để phát huy vai trò động lực của khu vực kinh tế này.
Điều đó được thể hiện trên nhiều khía cạnh như; quy mô hoạt động của DN thuộc
khu vực KTTN còn nhỏ bé, manh mún, công nghệ sản xuất lạc hậu, đơn giản, vốn
và lao động ít, doanh thu thấp so với mức bình quân chung của cả nước, sức cạnh
tranh trên thị trường còn yếu, hiệu quả kinh doanh chưa cao, trong SXKD vẫn còn
mang tính tự phát cao, trình độ quản lý của nhiều DN còn yếu kém, trình độ tay
nghề của người lao động còn thấp, nhiều DN thuộc khu vực kinh tế này hoạt động

lực của khu vực KTTN ở Nghệ An trong thời gian tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt mục đích đề ra, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Thứ nhất, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Thứ hai, phân tích một số vấn đề lý luận về vai trò động lực và biểu hiện vai trò
động lực của khu vực KTTN ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, phân tích thực trạng vai trò động lực của khu vực KTTN ở Nghệ An
từ khi có luật doanh nghiệp ra đời cho đến nay.
Thứ tư, đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục phát huy
vai trò động lực của khu vực KTTN ở Nghệ An trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vai trò động lực của khu vực KTTN trong sự phát
triển kinh tế - xã hội ở Nghệ An.


4

Phạm vi nghiên cứu: thời gian từ năm 2000 (từ khi luật DN ra đời) đến năm 2014.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về khu vực KTTN
để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.

4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp chung của khoa học xã hội là: trừu tượng
hóa, hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, quy nạp, diễn dịch, thống kê,

những công trình tiêu biểu.
Công trình “Khoán sản phẩm trong nông nghiệp” (gồm một số bài của các
tác giả Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Văn Sơn, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, năm 1981). Các tác giả phân tích tính ưu việt của chế độ khoán mới
(tức khoán sản phẩm trong nông nghiệp đến nhóm người lao động và người lao
động trên phạm vi cả nước ta). Các tác giả phân tích sâu trên cơ sở khái quát từ
thực tiễn ở huyện Đồ Sơn thành phố Hải Phòng cho đến nhân rộng sang các tỉnh
phía Nam và chứng minh rằng chế độ khoán mới là đúng theo nguyên tắc quản lý
XHCN, là phương thức quản lý tiến bộ, thích hợp với trình độ sản xuất thủ công
lúc bấy giờ ở các đơn vị hợp tác xã nông nghiệp, văn minh hơn nhiều so với khoán
việc trước đây. Khoán là hình thức phân phối thích hợp trong các hợp tác xã nông
nghiệp nhân tố tích cực để có thể kích thích hàng triệu con người hăng say lao
động, phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, góp phần củng cố quan hệ sản
xuất XHCN. Sự phân phối ấy là thích hợp trong các hợp tác xã nông nghiệp lúc
bấy giờ. Đồng thời các tác giả phê phán những quan điểm bảo thủ trong nhận thức
tư tưởng về vấn đề này, qua đó làm sáng tỏ nghị quyết của Đảng, khẳng định cơ sở
khoa học, cơ sở lý luận của vấn đề khoán sản phẩm trong nông nghiệp.
Trong cuốn “Chuyển hẳn sang cơ chế hạch toán, kinh doanh XHCN: Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về xóa bỏ tập trung quan liêu – bao cấp, chuyển hẳn
sang hạch toán, kinh doanh XHCN” (của Đào Xuân Sâm, Nxb thành phố Hồ Chí
Minh, 1985). Tác giả đưa ra những vấn đề rất hệ trọng về tư tưởng, lý luận, chính
sách cấp bách trong cuộc sống. Tác giả nhận định sâu sắc ở thời điểm này (1985) cơ
chế quản lý cũ vẫn tồn tại mức độ khá nặng, cơ chế quản lý mới triển khai chậm; vì


6

vậy phải dứt khoát xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập
trung, dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN thì mới đẩy mạnh được
SXKD có hiệu quả. Theo tác giả thành phố Hồ Chí Minh là nơi thể hiện đầy đủ và

điểm tính chất của khu vực KTTN và xu hướng phát triển trong những năm tiếp
theo. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra sáu bài học kinh nghiệm, đặc biệt tác giả nhấn mạnh
Đảng và Nhà nước cần phải đánh giá đúng vị trí, vai trò của khu vực KTTN. Khi tiến
hành cải tạo quan hệ sản xuất phải căn cứ vào tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất, đồng thời nhà nước phải tăng cường quản lý đối với khu vực kinh tế này.
Tác giả Xuân Hà “Trung Quốc thúc đẩy phát triển khu vực KTTN” (Tạp chí
Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay, số 3/2000) đề cập đến vai trò của chính phủ và
cho rằng chính phủ cần có những giải pháp trực tiếp kích thích phát triển KTTN;
mở rộng hơn nữa các thị trường vốn cho khu vực KTTN và làm lành mạnh hóa thể
chế pháp lý.
Trong công trình “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân – lý
luận và chính sách” (của Hà Huy Thành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002),
tác giả đã trình bày một cách khách quan, hệ thống về khu vực KTTN ở nước ta
hiện nay, đóng góp, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp
để tạo điều kiện cho KTTN tiếp tục phát triển theo đúng định hướng XHCN và có
những đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước.
Trong cuốn KTTN trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay (do Tiến sĩ Đinh
Thị Thơm chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003), tác giả đã phân tích
những thay đổi trong nhận thức về phát triển KTTN, những yếu tố tạo nên sự khác
biệt giữa chế độ TBCN và chế độ XHCN trong suốt nhiều thập kỷ qua, luận giải sự
tồn tại tất yếu của sở hữu tư nhân, KTTN trong giai đoạn phát triển hiện nay, phân
tích và đánh giá những hình thức đa dạng của nó ở phương Tây, cũng như ở phương
Đông. Các tác giả cho rằng, KTTN trong giai đoạn đầu là nguyên nhân tăng tỷ lệ
thất nghiệp, giảm tỷ lệ tăng GDP, tăng khoảng cách giàu nghèo; tuy nhiên về lâu
dài, KTTN trong điều kiện mới sẽ đẩy nhanh trở lại tăng trưởng kinh tế thông qua
quá trình phân bổ lại một cách hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là sự hỗ trợ nguồn
nhân lực từ các DN công nghiệp sang khu vực dịch vụ; sẽ là công cụ nâng cao tính
hiệu quả của toàn bộ đời sống kinh tế, góp phần làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu
kinh tế, cơ cấu ngành theo hướng có lợi cho nền kinh tế quốc dân nói riêng và nền


và thực tiễn phát triển, những hạn chế cũng như triển vọng phát triển của khu


9

vực KTTN, tác giả đã mạnh dạn kiến nghị những giải pháp nhằm thúc đẩy khu
vực KTTN phát triển trong những năm tiếp theo. Đặc biệt, tác giả đã rất sắc sảo
khia đưa ra nhận định cho rằng, khu vực KTTN ở nước ta là một dạng mở rộng
của loại hình CNTB nhà nước trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế... Cần tích
cực phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác nhau,
để thu hút mọi nguồn vốn còn tiềm ẩn nhiều trong dân, để khai thác triệt để các
nguồn lực... trước hết cần khuyến khích các hoạt động đầu tư tư nhân vào các
lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Trong cuốn “Đổi mới và phát triển KTTN Việt Nam – thực trạng và giải
pháp” (của Lê Khắc Triết, Nxb Lao động, Hà Nội, 2005), tác giả phân tích thực
trạng của khu vực KTTN về đóng góp và hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp tạo
điều kiện cho khu vực KTTN ở nước ta phát triển.
Trong bài “Xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay”
(đăng trên tạp chí Triết học, số 3 (166), tháng 3 năm 2005), tác giả Lương Đình Hải
cho rằng: “Ở nước ta hiện nay, kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới hai dạng khác nhau.
Dạng thứ nhất là các doanh nghiệp tư bản tư nhân độc lập, chủ yếu là các doanh
nghiệp tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư vào nước ta. Dạng thứ hai là kinh tế tư bản
tư nhân chủ yếu cũng là của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới hình thức
liên kết, liên doanh với kinh tế Nhà nước, tạo nên bộ phận cấu thành hữu cơ của
kinh tế tư bản Nhà nước” [83, tr.5]. Như vậy, dù không nói trực tiếp, nhưng qua
việc phân chia kinh tế tư bản tư nhân thành hai dạng như trên, tác giả Lương Đình
Hải đã ít nhiều khẳng định, kinh tế có vốn đầu tư của tư bản nước ngoài, cũng là
một bộ phận của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay.
Trong công trình “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển KTTN từ

được soi rọi bởi ánh sáng của các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
(8-2006) song lại có giá trị lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Trong công trình “Phát triển các DNNVV trong lĩnh vực khoa học – công
nghệ kinh nghiệm Hungary và vận dụng vào Việt Nam” (của GS.TSKH Lê Du
Phong chủ biên, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006), các tác giả đã lý giải kinh
nghiệm phát triển các DNNVV, các loại hình tổ chức hoạt động chuyển giao trong
lĩnh vực khoa học và công nghệ ở Hungary, phân tích thực trạng phát triển các


11

DNNVV, các loại hình tổ chức hoạt động chuyển giao trong lĩnh vực khoa học và
công nghệ ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
của nó, trên cơ sở đó kiến nghị với Đảng và Chính phủ Việt Nam về các giải pháp
chủ yếu nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển các DNNVV, các hình thức
tổ chức hoạt động chuyển giao trong lĩnh vực khoa học công nghệ những năm tới.
Cũng bàn về vấn đề sở hữu, song bài viết “Đổi mới nhận thức về sở hữu và
đảng viên làm kinh tế tư nhân” của tác giả Phạm Văn Đức (đăng trên Tạp chí Cộng
sản, số 16 năm 2006) đã khẳng định, quá trình đổi mới có được những thành tựu
căn bản là do những đổi mới về kinh tế và yếu tố có ý nghĩa quyết định là đổi mới
nhận thức về sở hữu, trong đó, một trong những cơ sở để đổi mới quan niệm về sở
hữu là sự thay đổi quan niệm từ chỗ, coi sở hữu chủ yếu là mục đích sang quan
niệm coi sở hữu vừa là mục đích, vừa là phương tiện để đạt mục đích. Vấn đề sở
hữu tư nhân, tác giả nhấn mạnh; nếu như trước đây, các thành phần kinh tế chủ yếu
được xây dựng trên cơ sở sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thì hiện nay, nhiều
thành phần kinh tế được xây dựng và phát triển trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở
hữu hỗn hợp về tư liệu sản xuất. Còn khi bàn đến giải pháp đối với sở hữu tư nhân,
tác giả cho rằng: “Ở Việt Nam, khi nào sở hữu tư nhân bị xóa bỏ là một vấn đề rất
khó xác định về mặt thời gian. Nhưng về phương pháp luận, có thể khẳng định, chỉ
khi nào sở hữu tư nhân không còn là hình thức tất yếu của lực lượng sản xuất,

Bên cạnh đó, tập thể tác giả đánh giá thực trạng phát triển hợp tác, liên kết kinh tế giữa
các DN và thành phần kinh tế trong các khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế thị trường,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và KTTN trên địa bàn Thủ đô Hà Nội cũng như sự
hợp tác, liên kết kinh tế giữa Hà Nội với các địa phương khác trong cả nước như một ví
dụ điển hình trong quá trình hợp tác, liên kết kinh tế giữa các DN, các thành phần kinh
tế, các địa phương Việt Nam trong thời gian đổi mới vừa qua. Công trình là một tài liệu
hữu ích với các cơ quan hoạch định chính sách thúc đẩy và thực hiện hợp tác, liên kết
kinh tế vì sự phát triển giữa các DN, các thành phần kinh tế và giữa các địa phương
trong cả nước.
Luận án “Phát triển DNTN ở Trung Quốc và một số gợi ý đối với Việt Nam”
của tiến sĩ kinh tế Đinh Đào Ánh Thủy (hoàn thành 2007). Tác giả đã hệ thống hóa
những lý luận chính làm cơ sở cho việc phát triển DNTN ở Trung Quốc, đặc biệt
trong số đó có những lý luận mới và mang màu sắc riêng của Trung Quốc. Luận án


13

phân tích con đường hình thành và phát triển của DNTN ở Trung Quốc là: thành lập
mới và từ cải cách doanh nghiệp nhà nước. Đây là sự phát triển từng bước nhằm
đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Đặc biệt, luận án chú trọng đến sự phát
triển các DNTN hình thành mới – một trong những yếu tố rất quan trọng làm cho
nền kinh tế của Trung Quốc trở nên lớn mạnh như ngày nay. Các DNTN hoạt động
theo cơ chế thị trường song vẫn đảm bảo được mục tiêu và định hướng phát triển
kinh tế mà Đảng cộng sản Trung Quốc đã vạch ra. Luận án đã đúc rút được những
bài học kinh nghiệm thành công cũng như chưa thực sự thành công về phát triển
DNTN của Trung Quốc và gợi mở một số kiến nghị trong hoạch định chính sách
đối với DNTN ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tác giả Bùi Thanh trong công trình “KTTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt Nam” (Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4/2008) lý giải sự tồn tại, phát triển của
KTTN ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một tất yếu khách quan, hợp

vai trò của đảng viên cộng sản trong phát triển kinh tế, nêu lên nhận thức của
Đảng ta về KTTN và về vấn đề đảng viên làm KTTN; phân tích thực trạng Đảng
viên làm KTTN ở Việt Nam hiện nay, những vấn đề đặt ra từ thực tiễn đảng viên
làm KTTN; trên cơ sở đó đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy
đảng viên làm KTTN ở Việt Nam trong thời gian tới.
Công trình “Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam” (Nguyễn Kế Tuấn chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) là
công trình nghiên cứu công phu, có ý nghĩa lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tác
giả cùng với cộng sự đã khái quát hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin và
quan điểm của nhiều nhà khoa học về sở hữu, trên cơ sở đó làm sáng tỏ nhiều vấn
đề lý luận về sở hữu, về mối quan hệ sở hữu với các tổ chức, hình thức kinh tế trong
nền kinh tế thị trường. Tập thể tác giả trình bày các quan điểm, chủ trương về sở
hữu và các thành phần kinh tế qua các kỳ Đại hội của Đảng, đánh giá sâu sắc thực
trạng của các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế và các loại hình DN trong đổi
mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay; đưa ra quan điểm, xu hướng, giải pháp đối với
hình thức sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước, sở hữu tư nhân, KTTN (nhấn mạnh
cần tạo điều kiện về mọi mặt cho KTTN có cơ hội khẳng định và phát triển).
Trong công trình “Phát triển đội ngũ DN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”
(PGS.TS. Hoàng Văn Hoa chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), các tác


15

giả nêu lên một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển đội ngũ doanh nhân trong nền
kinh tế thị trường hiện nay, kinh nghiệm xây dựng và phát triển doanh nhân ở một số
nước và vùng lãnh thổ; trình bày về thực trạng phát triển của đội ngũ doanh nhân
Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển, đặc điểm, đóng góp
của doanh nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đưa ra giải pháp
phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 để góp phần xây
dựng nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp.

giai đoạn 2011 – 2020” do Viện Kinh tế Việt Nam chủ trì thực hiện giai đoạn 2009 –
2010). Trong công trình nghiên cứu này các tác giả đã rà soát lại các quan điểm và
chính sách liên quan đến phát triển khu vực KTTN, đánh giá thực trạng phát triển của
khu vực KTTN và đóng góp của khu vực này đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Để những minh chứng có sức thuyết phục việc
phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của khu vực KTTN đối với tăng trưởng và phát
triển ở Việt Nam, các tác giả đã tiến hành so sánh giữa ba khu vực kinh tế (kinh tế
nhà nước, KTTN trong nước, FDI) theo các tiêu chí đóng góp trong GDP và tăng
trưởng kinh tế, đóng góp vào xuất khẩu, đóng góp vào ngân sách, đóng góp vốn, lao
động, hiệu quả đầu tư, quy mô vốn, nhân lực cạnh tranh, sự tham gia vào chuỗi giá trị
toàn cầu, khả năng dẫn dắt, thúc đẩy và tạo nền móng cho nền kinh tế phát triển, khả
năng nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế. Tuy nhiên, các tác
giả chưa làm rõ vai trò động lực của khu vực KTTN đối với nền kinh tế, chưa lý giải
được những yêu cầu của thực tiễn đối với KTTN.
Các tác giả Lương Minh Cừ và Vũ Văn Thư đã nghiên cứu đề tài “Sở hữu tư
nhân và KTTN ở Việt Nam hiện nay – một số nhận thức về lý luận và thực tiễn”
(được công bố vào năm 2011). Trong cuốn sách này, các tác giả đã góp phần làm rõ
thêm nhận thức lý luận chung về sở hữu và sở hữu tư nhân; bản chất, vai trò, vị trí
của vấn đề sở hữu tư nhân, KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho sự nghiệp đổi mới
hiện nay, làm rõ hơn quy luật vận động, xu thế phát triển của sở hữu tư nhân, KTTN
trong giai đoạn hiện nay và tương lai. Tuy nhiên, sở hữu tư nhân, KTTN là vấn đề
rất phức tạp, một số quan điểm riêng của tác giả đặt ra trong cuốn sách về “khu vực
kinh tế”, “thành phần kinh tế”, về “vị trí” và “vai trò” động lực của KTTN... cần
tiếp tục được phân tích thấu đáo hơn trên cơ sở phù hợp với yêu cầu của các quy


17

luật kinh tế khách quan và với tiến trình hội nhập quốc tế. Các tác giả nhận định: Sở


1.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng vai trò động lực của khu
vực KTTN ở Nghệ An
Trong số các các công trình nghiên cứu về thực trạng vai trò động lực của

khu vực KTTN ở Nghệ An có các công trình tiểu biểu sau.
Công trình “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập 3 (1975 – 2005)” (của Ban chấp
hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tỉnh Nghệ An, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2008) là công trình mang tính chất tổng thể, khái quát về đặc điểm tự nhiên, dân
cư. Các tác giả làm rõ quá trình tỉnh Nghệ An lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế - xã
hội, thực hiện công cuộc đổi mới, rút ra một số kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo
phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, trong đó có khu vực KTTN.
Trong công trình “Tiềm năng, lợi thế và xác định cơ cấu sản phẩm chiến
lược ở Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 (có tính đến 2020)” (Đậu Quang Vinh chủ
biên, Nxb Nghệ An, 2011) đã phân tích tiềm năng, lợi thế, cơ cấu sản phẩm chiến
lược của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng; đưa ra dự báo góp phần để
Nghệ An phát triển đúng hướng trong xu thế hội nhập quốc tế; đề xuất định hướng
phát triển một số ngành và sản phẩm mũi nhọn, có khả năng tạo đột phá mạnh và
lan tỏa phát triển nhanh. Công trình giúp cho DN thuộc khu vực KTTN ở Nghệ An
có phương hướng để điều chỉnh đầu tư ngành, nghề hợp lý và hiệu quả.
Tác giả Hoàng Nam Hưng trong công trình “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo
phát triển KTTN từ năm 2000 đến năm 2010” (luận văn thạc sĩ, hoàn thành năm
2012) phân tích quá trình lãnh đạo phát triển KTTN của Đảng bộ Nghệ An từ năm
2000 đến năm 2005; hệ thống hóa những chủ trương của Đảng bộ về phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, về vị trí, vai trò của KTTN trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, về công tác lãnh đạo phát triển KTTN ở Nghệ An trước từ năm 2000 đến
năm 2005; phân tích những bước phát triển mới trong công tác lãnh đạo phát triển
KTTN của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 2006 – 2010; đưa ra một số nhận xét về
kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phát triển KTTN ở Nghệ An từ
năm 2000 đến năm 2010.

đã hệ thống hóa về mặt lý luận liên quan đến phát triển KTTN. Thực trạng và những
đóng góp của khu vực KTTN ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2009 – 2013, biểu hiện;
số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh, chuyển dịch cơ cấu ngành hợp lý, quy mô các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status