Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
----------
TIỂU LUẬN MÔN
TRIẾT HỌC
Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MẶC GIA
VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI NGÀY NAY
HVTH: Trần Xuân Hoàng
MSHV: 7140271
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2014
Mục Lục
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 1
Tiểu luận môn Triết học
mình.
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 2
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề đạo đức con người trong xã hội thể hiện trong
học thuyết Kim Ái, cũng như giá trị tư tưởng Thượng hiền của Mặc Tử đối với xã hội
ngày nay nên tôi đã chọn đề tài: "Tư tưởng triết học Mặc gia và giá trị của nó đối với
xã hội ngày nay".
Do kiến thức còn hạn chế, cùng với đề tài tương đối mới nên có thể vẫn còn thiếu
sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy(Cô) và người đọc.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu:
Tiểu luận tập trung vào việc làm rõ bối cảnh lịch sử, những nội dung cơ bản của
triết học Mặc gia. Trong đó chú trọng vào học thuyết "Kiêm Ái", một trong những học
thuyết nổi bật của triết học Mặc gia. Cùng với đó là tư tưởng "Thượng Hiền" mà mọi
thời đại đều cần đến và áp dụng triệt để, một tư tưởng lớn, thiết thực mang giá trị vượt
không gian và thời gian.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Một là, tìm hiểu bối cảnh lịch sử hình thành triết học Mặc gia và những nội dung
tiêu biểu có tầm ảnh hưởng đến xã hội ngày nay.
Hai là, phân tích, đánh giá, chứng minh những học thuyết, tư tưởng mà giá trị vận
dụng của nó đối với xã hội ngày nay hoàn toàn không bị mai một.
những giá trị của nó đối với đời sống xã hội.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
- Tiểu luận góp phần làm rõ hơn, sâu sắc hơn học thuyết "Kim Ái" và tư tưởng
"Thượng Hiền" của Mặc Tử một cách có hệ thống.
- Tiểu luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc kế thừa, phát huy những giá
trị vận dụng của triết học Mặc gia đối với đời sống xã hội.
6. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận bao gồm 2
chương, 7 tiết:
-
Chương 1: Mặc gia và triết học Mặc Tử.
Chương 2: Những giá trị của triết học Mặc gia đối với xã hội ngày nay.
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 4
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
NỘI DUNG
Chương 1: MẶC GIA VÀ TRIẾT HỌC MẶC TỬ
1.1. Sự hình thành trường phái triết học Mặc gia
1.1.1.
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
nước Sở, trong đó thể hiện tình cảm yêu nước thương dân, sự bình dị gần gũi với nhân
dân lao động của Khuất Nguyên.
Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ của bách gia chư tử, bách gia tranh minh. Chính
trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề triết học,
chính trị xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, ngoại giao… kích thích
lòng người, khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra các phương pháp
giải quyết, từ đó làm nảy sinh ra một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái
triết học lớn. Trong đó, một trong những trường phái triết học có ảnh hướng lớn đền
Trung Quốc thời bấy giờ đó là Mặc gia cùng với triết học của Mặc Tử.
1.1.2. Trường phái triết học Mặc gia
Mặc gia là trường phái triết học về cơ bản nó đại diện cho lợi ích của tầng lớp sản
xuất nhỏ thời kỳ tiền Tần. Nó được chia ra làm hai thời kỳ:
- Ở thời kỳ đầu, Mặc gia lấy tư tưởng của Mặc Địch với chủ nghĩa "kiêm ái" làm
trung tâm đây luôn là học thuyết có nội dung tư tưởng đối lập với Nho gia.
- Ở thời kỳ cuối, là sự tiếp nối tư tưởng của Mặc Địch, xuất hiện vào thời kỳ Chiến
Quốc. Họ đã loại bỏ thế giới quan tôn giáo của Mặc Địch, chú trọng nghiên cứu những
kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất, tiến hành tổng kết những thành quả của khoa học tự
nhiên thời bấy giờ, và lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc xây dựng nên lý
luận về nhận thức và khoa học một cách có hệ thống.
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử
Mặc Tử là một trong những nhà triết học lớn của Trung Quốc cổ đại, người sáng lập
ra trường phái triết học Mặc gia, có tư tưởng đối nghịch với Nho gia trong thời Xuân
Thu – Chiến Quốc. Mặc Tử thuộc lớp người bình dân trong xã hội đương thời, từng
có đức hạnh và lòng quả cảm như ông. Chính tư tưởng và hành động nghĩa hiệp cao cả
của Mặc Tử, đến Mạnh Tử người công kích Mặc Tử kịch liệt nhất cũng phải thốt lên
rằng: "Họ Mặc kiêm ái đến mòn trán lỏng gót, cái gì có lợi cho thiên hạ thì làm".
Cùng với Nho gia và Đạo gia, học thuyết của Mặc Tử đã thịnh hành và ảnh hưởng
một thời ở Trung Quốc. Nhưng giữa Khổng Tử và Mặc Tử lại có sự đối lập nhau không
chỉ về tư tưởng, chủ trương, phương pháp mà còn đối lập nhau về nền tảng giai cấp xã
hội. Khổng Tử thừa nhận "thiên mệnh" là thiên lý màu nhiệm, ưa chuộng lễ nghĩa, văn
hóa của chế độ xã hội cổ truyền. Chú trọng giáo hóa đạo đức con người với các phạm
trù đạo đức cơ bản như: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Mặc Tử thì ngược lại, tuy ông cũng
rất chú trọng vấn đề đạo đức, chính trị nhưng ông lại đề cao: Thiên Chí, Minh Quỷ,
Chủ Trương: Kiêm Ái, Thượng Đồng, Thượng Hiền, Phi Mệnh, Phi Nho, Phi Nhạc,
Tiết Dụng, Tiết Táng… và từ đó ông đặt tất cả các vấn đề luân lý và đạo đức chính trị
trên cơ sở chủ nghĩa công lợi của ông. Tuy ông không tin vào "thiên mệnh" và định
mệnh, nhưng Mặc Tử xem thượng đế là nguyên tắc cao nhất của hành vi con người,
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 7
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
đồng thời cho rằng sự biến hóa của tự nhiên cũng bị ý chí của trời chi phối. Mặc Tử
cho rằng trời là một đấng anh minh, có ý chí, có nhân cách và quyền lực tối cao. Tin có
trời, Mặc Tử cũng tin có quỷ thần. Quỷ thần là một thế lực đầy quyền uy, linh thiêng
giám sát chặt chẽ mọi hành vi của con người để khen thưởng hay là trừng phạt. Thuận
theo ý chí của trời làm khuôn phép, nguyên tắc cao nhất trong đời sống xã hội. Con
người cần phải thực hành "kiêm ái". Yêu thương hết tất cả mọi người như nhau, không
phân biệt thân sơ, quý tiện, trên dưới… Mặt khác, ngoài những tư tưởng trên, Mặc Tử
vào kho tàng lý luận hết sức phong phú của nhân dân Trung Quốc. Đặc biệt là thuyết
"thượng hiền" đã có ảnh hưởng rất lớn cho đến ngày hôm nay.
1.3.
Học thuyết Kiêm ái của Mặc Tử
1.3.1.
Kiêm ái là nhân nghĩa
Cũng như Khổng Tử, Mặc Tử luôn đề cao đức nhân nghĩa, nhưng quan điểm về ý
nghĩa phạm trù và nhân nghĩa của Mặc Tử khác với quan điểm của Khổng Tử. Nếu như
ở Khổng Tử nhân là đạo sống của con người theo thiên lý hay đạo trời, là ái nhân (yêu
thương người), là trung thứ (hết lòng hết dạ thành tâm thật ý, suy lòng mình ra lòng
người, cái gì mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người), nhưng lại có sự
phân biệt thứ bậc, "thương yêu người thân, quý trọng người sang", thì nhân nghĩa của
Mặc Tử là ý chí của trời, gồm yêu tất cả mọi người và làm lợi cho tất cả mọi người như
nhau, không phân biệt trên dưới, thân sơ, quý tiện. Đó chính là nội dung của chủ nghĩa
"kiêm ái". Vì thế, "kiêm ái" được coi là một trong những tư tưởng chủ yếu nhất trong
học thuyết của Mặc Tử.
Trong sách Mặc Tử có ba thiên bàn về "kiêm ái" (kiêm ái thượng, trung, hạ). Theo
Mặc Tử "kiêm" là gộp tất cả như nhau, trái với "biệt" là sự chia rẽ phân biệt nhau. "Ái"
là lòng yêu thương của con người, trái với "ố" là sự thù ghét lẫn nhau. "Kiêm ái" trước
hết là yêu tất cả mọi người như nhau. Yêu mình như yêu người, yêu người ngoài cũng
như yêu người thân, không có người làng mình người làng người, người nước mình
người nước người.
Cốt lõi của "kiêm ái" là yêu thương nhau. Vậy nên, theo thuyết "kiêm ái" sự yêu
thương nhau sẽ loại trừ tai họa cho thiên hạ, vì khi yêu thương nhau, họ sẵn sàng xả
thân giúp đỡ nhau, làm lợi cho nhau ví như vua thực hành kiêm ái: "Trước phải vì
nhận thức ở Trung Quốc cổ đại.
Theo Mặc Tử "tam biệt" là: "Nói phải dựng mẫu. Nói không có mẫu ví như ở trên bàn
xoay mà nói sớm tối, phải trái, lợi hại khác nhau thế nào không thể biết được. Cho nên
khi nói ắt phải có tam biểu – ngôn tất lập nghi … Cố ngôn tất hữu tam biểu". Nói một
cách khái quát "biểu" chính là khuôn mẫu, phép tắc, chuẩn mực để người ta suy nghĩ
và hành động.
Như vậy, tam biểu chính là quy tắc hướng dẫn nhận thức và hành động của con
người. Để nhận thức, phân biệt phải trái, lợi hại người ta trước tiên phải lấy chí trời quỷ
và việc làm của thánh vương xưa làm gốc.
Theo tam biểu và lấy lợi ích chung làm tiêu chuẩn để thẩm định mọi giá trị đúng
sai, tốt xấu, lợi hại, Mặc Tử đã đi đến khẳng định "kiêm" là phải, là tốt vì nó mang lại
lợi ích lơn cho dân cho nước, "biệt" là trái, là xấu và mang lại điều hại lớn cho thiên hạ.
1.3.4. Lý giải của Mặc Tử về ý nghĩa, công dụng và lợi ích của học thuyết "Kim ái"
Theo Mặc Tử chỉ có học thuyết "kiêm ái" của ông mới là phương pháp tốt nhất để
cứu xã hội Trung Quốc đương thời khỏi cảnh phân tranh, loạn lạc, cứu nhân dân lao
động ra khỏi cảnh chết chóc, đói khổ. Ông nói: "Thầy thuốc chữa bệnh người ta phải
biết bệnh ở đâu mà ra thì mới chữa được. Những kẻ chữa loạn sao không làm như thế?
Thánh nhân làm việc cai trị thiên hạ không thể không xét xem loạn ở đâu mà ra. Thử
xét xem loạn ở đâu mà ra? Ở chỗ không biết thương yêu nhau mà ra".
Yêu thương, làm lợi cho cả thiên hạ lý tưởng mà "kiêm ái" vạch ra có ý nghĩa và
công dụng to lớn, nhưng liệu nó có thực hành được trong cái xã hội tranh đoạt khốc liệt
từng ngày "đánh nhau giành đất thây chết đầy đất, đánh nhau giành thành thây chất đầy
thành". Trong xã hội thời bấy giờ, người đời bảo rằng khó thực hiện lắm, chẳng khác
nào như xách núi Thái Sơn nhảy qua sông Hoàng Hà, sông Tế. Mặc Tử lý giải rằng:
"Nâng núi Thái Sơn vượt Hoàng Hà, Tế Thủy phải mất bao nhiêu là sức lực! Xưa nay
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 11
1.4.2.
Tư tưởng của Mặc Tử về Thượng hiền
Mặc tử là người khai sáng ra Mặc Giáo. Với ông, Thượng hiền là tuyển chọn, sử
dụng những người tài đức vào làm việc trong xã hội. Ai có tài thì đề cử họ lên và
không có tài thì hạ họ xuống (Thượng hiền thượng).
Với Thượng hiền trung ông chủ trương tư tưởng: Chọn người hiền tài trong việc trị
nước, không kể người bà con thân thích hay là mặt mũi xinh đẹp, không lấy cái vẻ của
họ làm cái yêu của mình. Không kéo bè cách với cha anh, không thiên vị kẻ giàu sang,
không say mê kẻ nhan sắc, ai hiền thì được nâng nhắc lên cho giàu sang và dùng làm
quan trưởng, kẻ nào bất tài thất đức thì nên bỏ đi, phải chịu nghèo hèn và dùng làm phu
dịch. Kẻ nào đáng làm quan trưởng thì cho làm quan trưởng, kẻ nào đáng trị một ấp thì
cho trị một ấp.
Với Thượng hiền hạ, Mặc Tử chủ trương: Nay các đấng vương công đại nhân có cái
quần không thể may được ắt tìm người thợ may khéo. Có một con trâu, một con dê
không giết được ắt tìm một tên đồ tể giỏi. Có một con ngựa bệnh không thể chữa được
ắt tìm người thầy thuốc giỏi. Có một cây cung không thể giương được ắt tìm người thợ
cung giỏi. Các đấng vương công, đại phu trong lúc đó dẫu có những người cốt nhục,
giàu sang, mặt mũi xinh đẹp, nhưng thật biết họ không làm được các việc trên ắt là
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 13
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
không khiến. Vì họ sợ làm hư hỏng của các đấng vương công đại phu. Các đấng vương
tội trạng lớn, tội bất trung, bất hiếu. Ngay Mạnh Tử với phong thái tao nhã, dung dị,
song cũng cho rằng: "Dương Chu, Mặc Địch ăn nói bừa bãi, thiên hạ thường nghe theo
Dương Chu hoặc Mặc Địch, thuyết vị ngã của Dương Chu còn biết đến quân vương,
thuyết kiêm ái của Mặc Địch không còn biết đến thân phụ nữa, kẻ vô quân vô phụ
chính là cầm thú vậy". Sự thật, trong chế độ phong kiến chuyên chế, Mặc đạo luôn bị
phỉ báng là tà đạo, Mặc tặc hoặc Mặc phỉ. Đó có lẽ là nguyên nhân chính khiến cho
Mặc gia sớm bị lu mờ và đi vào quên lãng.
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 16
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TRIẾT HỌC MẶC GIA ĐỐI VỚI XÃ HỘI
NGÀY NAY
2.1. Giá trị của học thuyết "kiêm ái" đối với xã hội Việt Nam
Kiêm ái, tình yêu thương giữa con người, đồng loại với nhau là một chân lý trường
tồn trong xã hội. Tình yêu thương con người chính là gốc rễ của đức và đức lấy đó làm
kế sách lâu dài để cảm hóa lòng người, thâu phục nhân tâm, hóa giải hận thù tranh đoạt
nhau. Đó chính là ý nghĩa nhân bản và tiến bộ của học thuyết "kiêm ái".
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu lớn, mặt
trái của kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ rõ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức
xã hội, gây cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như sự hình thành và phát triển
các chuẩn mực đạo đực mới xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang
hướng đến. Theo tôi, thuyết "kiêm ái" của Mặc Tử có những giá trị nhất định có thể
với sự phát triển nền kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Nguy cơ tụt hậu về kinh tế đối với nước ta là rất lớn, nên thoát nghèo là một trong
những mục tiêu hàng đầu của công cuộc cách mạng ở nước ta hiện nay. Nếu không
hướng đến cái lợi, không vươn lên làm giàu về kinh tế để sánh vai với các cường quốc
năm châu, thì Việt Nam sẽ khó có được sự bình đẳng, khó giữ được độc lập, tự chủ
trong quá trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, cái lợi mà mỗi
chủ thể kinh tế thị trường quan tâm hướng đến là tư lợi, lợi ích cá nhân và do đó nhiều
khi nó mâu thuẫn và đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích quốc tế. Đó không phải cái lợi
mang nội dung "kiêm ái", càng không phải là cái lợi mang ý nghĩa phổ quát trong mục
tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
2.2. Giá trị của tư tưởng thượng hiền đối với xã hội
2.2.1. Sự ảnh hưởng tư tưởng Thượng Hiền đối với xã hội
2.2.1.1. Đối với xã hội ngày xưa
Trong xã hội ngày xưa, chính sách và tư tưởng Thượng Hiền của Mặc Tử được
xuất phát từ thời tiền Tần. Từ khi tư tưởng này được hình thành và được Mặc Tử chu
du khắp nơi để thuyết giảng. Một chính sách chính trị mới được ra đời, đó là tuyển
chọn người hiền tài để đưa vào bộ máy nhà nước. Chính sách này đã được các bậc vua
chúa và các quan đại thần áp dụng triệt để trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Đất nước trong thời chiến tranh thì các vua cần những binh hùng tướng mạnh,
những nhà quân sư lỗi lạc để giúp vua đánh thắng mọi quân giặc. Với những vị hiền tài
này thì rất hiếm nên có khi những vị quân vương phải đích thân đến để mời họ tham dự
triều chính cùng mình, hay là tìm nhiều cách để những người hiền phải về với mình.
Như trong thời Tống có Nhạc Phi tướng quân là một vị tướng tài giỏi và được vua nhà
Tống trọng dụng và cho làm chỉ huy toàn bộ quân đội nhà Tống. Thời nhà Minh vua
Chu Nguyên Chương phải hai ba lần cầu sinh Lưu Bá Ôn ở lại giúp mình trị quốc, sau
không được phải nhờ đến vợ của mình cầu xin giúp, như Lý Thuyền Trượng cũng được
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 18
vào những công việc thích hợp để góp một phần xây dựng và phát triển đất nước.
Trong mọi lĩnh vực của xã hội, những người có tài thường được đề cao và đưa lên nắm
giữ những chức vị quan trọng. Người có tài về quân sự thì tuyển chọn vào quân sự,
người giỏi kinh doanh thì tuyển chọn vào lĩnh vực kinh doanh buôn bán, người có kiến
thức và học vị thì tuyển chọn vào làm giáo viên để truyền đạt kiến thức cho hậu thế.
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 19
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
Những người giỏi hơn thì tuyển chọn họ vào những công trình nghiên cứu để sáng tạo
ra những sản phẩm giá trị để lại cho đời.
Tóm lại, mỗi người mỗi việc. Tùy theo khả năng và năng lực của họ để mà tuyển
chọn vào những công việc thích hợp, có như vậy họ mới phát huy hết khả năng của họ.
Nhờ vào tài năng của họ công việc sẽ được tiến hành một cách thuận lợi và đạt được
những kết quả tốt đẹp như mong muốn. Thế nên, trong xã hội ngày nay. Tuy là chính
sách Thượng Hiền của Mặc Tử đã trãi qua gần 2000 năm lịch sử, nhưng tư tưởng
Thượng Hiền đã ăn sâu vào trong từng thời đại và trong tư tưởng của mỗi con người.
Bất cứ thời đại nào, xưa cũng như nay chính sách Thượng Hiền cũng đước lấy làm đầu
để phát triển và xây dựng đất nước, con người trong mọi thời đại. Đặc biệt là thời đại
đất nước ta trong giai đoạn đang phát triển này, cần có một lực lượng nhân tài thật lớn
để phát triển đất nước trong mọi lĩnh vực, đủ khả năng để sánh vai với các đất nước
khác trên thế giới.
Nói đến sự thành tựu nổi bật nhất của các nước trên thế giới, ta có thể kể đến nước
Mỹ. Tuy là một nước chỉ mới hình thành không quá 300 năm. Chỉ sau 100 năm hình
để xây dựng đất nước. Thế nên, tư tưởng Thượng Hiền của Mặc Tử luôn được áp dụng
trong mọi thời đại và là nền tảng hàng đầu để xây dựng một đoàn thể, một đất nước
giàu mạnh, phát triển.
2.2.2. Tác dụng, giá trị của Thượng Hiền đối với xã hội ngày nay
Đất nước Trung Quốc, với chính sách đổi mới, họ đã biết áp dụng khoa học kỹ
thuật vào trong công cuộc xây dựng đất nước, biết trân trọng những nhân tài vốn có để
đưa vào bộ máy nhà nước. Vì thế nên ngày này Trung Quốc đã trở thành một cường
quốc nổi tiếng của thế giới. Còn như đất nước Việt Nam mình, sở dĩ đến ngày nay vẫn
không phát triển mạnh là vì không biết đào tạo và bồi dưỡng nhân tài một cách triệt để.
Một số lượng nhân tài giỏi đã đi ra nước ngoài làm việc. Đây gọi là hiện tượng chảy
máu chất xám. Mặt khác, sau khi giành độc lập, đất nước ta vẫn không thay đổi chế độ
xã hội bao cấp, không chịu tiếp thu những tư tưởng mới lạ để xây dựng đất nước. Bảo
thủ và cố chấp theo đường lối chính trị của Liên Xô cũ. Từ đó dẫn đến đất nước trong
hơn mười năm với tình hình kinh tế đình trệ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Đến
năm 1986, khi Nguyễn Văn Linh lên nắm chính quyền và thực hiện chế độ đổi mới,
đưa đất nước hòa nhập vào xu thế của thế giới, giao lưu buôn bán, hội nhập vào các tổ
chức kinh tế chính trị của thế giới. Từ đó đã đưa đất nước dần dần tiến lên. Và chỉ
trong hơn hai mươi năm đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế và
bước vào con đường hội nhập và phát triển của thế giới. Tất cả đều là nhờ sự lãnh đạo
tài tình sáng suốt của các cấp lãnh đạo. Cũng như trong chiến tranh dưới sự lãnh đạo tài
tình và sáng suốt của chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa đất nước chiến thắng được hai
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 21
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
HVTH: Trần Xuân Hoàng
Trang 22
Tiểu luận môn Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Anh Quốc
KẾT LUẬN
Khi tìm hiểu toàn bộ hệ thống triết học Mặc gia trong một số học thuyết triết học
tiểu biểu Trung Hoa cổ đại, ta có thể thấy, vấn đề được các triết gia quan tâm nhất, tập
trung nhất là vấn đề thuộc về con người. Tuy, nó có sự khác nhau về tính chất, nhưng
tư tưởng chủ đạo xuyên suốt từ đầu đến cuối thể hiện rõ ràng con người luôn luôn là
trung tâm của xã hội và vũ trụ.
Mặc Tử là một trong những nhà triết học lớn thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Tư
tưởng của ông là tiếng nói đại diện cho tầng lớp tiểu tư hữu và tầng lớp bình dân trong
xã hội ở thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ suy tàn và chế độ phong kiến đang lên. Trong
triết học của ông, về căn bản tuy bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm và mang tính chất
ảo tưởng, nhưng những quan điểm đặc sắc của ông về lý luận nhận thức trong phép
"tam biểu", tư tưởng "thượng hiền" và chủ nghĩa "kiêm ái" vị tha, chống chiến tranh
xâm lược, đòi tự do bình đẳng bác ái có tính chất nguyên sơ, chủ trương cải cách xã
hội, cải thiện đời sống nhân dân lao động… là những đóng góp quý giá của Mặc Tử
vào kho tàng lý luận hết sức phong phú của nhân dân Trung Hoa thời cổ đại.
Với tinh thần khách quan khoa học, chúng ta cần phải suy nghĩ sâu sắc hơn để khai
thác những giá trị của Mặc gia trong cuộc sống hội nhập quốc tế. Ở đây, chúng ta phải
xử lý tốt mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa quá khứ - hiện tại - tương lai.
Truyền thống là cơ sở của hiện đại và hiện đại không xoá sạch truyền thống; đồng thời
cái truyền thống chỉ tồn tại khi nó được chọn lọc, kế thừa, phát huy thông qua cái hiện
tại.
Trang 24