Đề tài 1: Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chi tiêu đầu
tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước
ta.
Bản thảo hoàn chỉnh của đề tài
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi chính thức thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986, Việt Nam từ một
nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đã có nhiều thay đổi to lớn, chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn này, có rất nhiều vấn đề lớn
nhỏ được đặt ra cho nền kinh tế nước nhà. Một trong những vấn đề đó là hoạt động đầu
tư. Có thể nói đầu tư là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, đầu tư không chỉ là cơ sở để
nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế mà cũng nâng cao trình độ khoa học công
nghệ, hiện đại hoá đất nước. Nó vừa phụ thuộc lại vừa có tác động lớn đến nền kinh tế
của một quốc gia. Sự tác động đó là tích cực hay tiêu cực lại phụ thuộc vào nhận thức của
nhà nước, nhân dân, và các thành phần kinh tế về vấn đề đầu tư có đúng đắn hay không,
và làm sao để có các giải pháp cho hoạt động đầu tư hiệu quả. Muốn vậy trước hết phải
xem xét tới một số khía cạnh quan trọng liên quan đến đầu tư, cụ thể là sự chi tiêu cho
đầu tư thế nào là hợp lý, bên cạnh đó nhà nước đã và đang có những hoạt động nào để
kích thích đầu tư dựa trên những nghiên cứu về lý thuyết. Có vậy, sự chi tiêu cho đầu tư
mới đem lại hiệu quả, tạo đà cho nền kinh tế phát triển tốt. Điều này có ý nghĩa đặc biệt
cần thiết cho một nước đang phát triển như Việt Nam. Trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế, Việt Nam đang đứng trước nhiều thử thách trong việc thu hút các nguồn lực
trong và ngoài nước để đưa đất nước phát triển đi lên. Ý thức được điều trên trong những
năm vừa qua nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc thu hút vốn đầu
tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhằm đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và
bền vững. Có thể nói vần đề đầu tư, kích cầu đầu tư nhất là kích cầu đầu tư nước ngoài
đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm hiện nay.
1
động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó, có
nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lư kém, chất lượng sản phẩm
không đạt yêu cầu… có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản
phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế…
1.2. Chi tiêu đầu tư:
Thực chất là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của nhà nước, doanh
nghiệp và các đơn vị kinh tế bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động. Chi
2
tiêu đầu tư là quá trinh nhà đầu tư quyết định thời điểm thực hiện đầu tư và kết hợp các
nguồn lực với tỉ lệ như thế nào để quá trình thực hiện đầu tư đạt được kết quả cao nhất.
1.3. Các nguồn lực đầu tư:
Nguồn lực đầu tư bao gồm:Vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động trí tuệ.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư.
2.1. Lợi nhuận kỳ vọng
- Lợi nhuận kỳ vọng là một nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu đầu tư. Là
phần lợi ích mà nhà đầu tư mong muốn có được sau khi kết thúc quá trình đầu tư. Những
kết quả này có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn), tài sản trí tuệ (trình độ văn
hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học..), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá,bệnh
viện,trường học) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao
hơn trong nền sản xuất xã hội.
- Theo lý thuyết của Keynes, Lợi nhuận kỳ vọng là một trong hai nhân tố cơ bản
ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nếu Lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn lãi
suất vay thì nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư và ngược lại. Theo ông, tỷ suất lợi nhuận vốn
cận biên giảm dần do vậy việc so sánh giữa tỷ suất lợi nhuận vốn cận biên và lãi suất vay
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định đầu tư của nhà đầu tư.
- Mặt khác, cũng theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất
-Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng: cung cầu hàng hóa, mức độ rủi
ro, các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất, thuế.
2.2. Tỷ lệ lãi suất thực tế.
Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là chi phí
sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu tài chính của dự
án. Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phản ánh giá của khoản tiền vay
mượn đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu
tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại.
Cần phân biệt các loại lãi suất: lãi suất cơ bản (do ngân hàng nhà nước quy
định,các tổ chức tài chính không được cho vay với lãi suất lớn hơn 150% so với lãi suất
cơ bản); lãi suất cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư tài chính, lãi suất tái
cấp vốn. Sự chênh lệch giữa các loại lãi suất góp phần điều tiết sự phân bổ vốn trong nền
kinh tế.
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được công bố đối với một khoản vay hoặc
một khoản đầu tư. Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc trước hết vào cung – cầu vốn vay trên
thị trường. Cung vốn chính là tổng tiết kiệm quốc dân, được xác định bằng tổng thu nhập
quốc dân trừ đi tiêu dùng. Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự cân bằng trên thị trường
vốn. Ngoài ra lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của sự điều tiết của ngân hàng nhà nước
thông qua chính sách tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết
khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
- Lãi suất thực tế (lãi suất hiệu quả) là lãi suất thực sự thu được từ một khoản đầu
tư hoặc phải trả cho một khoản vay sau khi tính đến tác động của lãi suất ghép.
- Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộc
vào tỉ lệ lạm phát.
Trong đó: r là lãi suất thực tế; i là lãi suất danh nghĩa; π là tỷ lệ lạm phát
- Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi IRR của dự án lớn hơn lãi suất thực tế. Do đó
khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm.
Đồ thị:
(*)
Trong đó: K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu
Y: sản lượng tại thời kì nghiên cứu
x: hệ số gia tốc đầu tư
Từ công thức thức trên ta suy ra: K = x * Y
Như vậy nếu x không đổi thì khi qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhu cầu
vốn đầu tư tăng theo và ngược lại. Theo công thức trên thì sản lượng phải tăng liên tục
mới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ hoặc không đổi so với thời kì trước.
* Đặc điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:
- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư. Nếu x không đổi trong kì kế hoạch thì có
thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác.
- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tứ. Khi kinh tế tăng trưởng cao,
sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư
tăng nhiều.
- Tuy nhiên, nó còn có 1 số hạn chế :
Thứ nhất, ở đây giả định quan hệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định. Thực tế đại
lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác.
Thứ hai, thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ
không phải sư biến động của tổng đầu tư do sự thay đổi của sản lượng. Thật vậy, từ công
thức (*) ở trên có thể viết:
Tại thời điểm t: Kt = x . Yt
(1)
Tại thời điểm (t-1): Kt-1 = x . Yt-1
(2)
Lấy (1) trừ (2) ta có :
Kt –Kt-1 = x .Yt – x .Yt-1 = x.(Yt –Yt-1)
5
xuất, gia tăng đầu tư.
Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi lên, quy mô của nền kinh tế mở
rộng, nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp tư nhân gia
6
tăng. Ngược lại, khi chu kì kinh doanh ở vào thời kì đi xuống, qui mô nền kinh tế thu
hẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và các doanh nghiệp tư nhân thu hẹp lại.
+ Khi Chu kì kinh doanh ở vào thời kì suy thoái thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm đầu tư. Tuy
nhiên đây cũng là giai đoạn để Doanh Nghiệp đương đầu thử thách bằng cách đa dạng
hóa sản phẩm hoặc chuyển hướng đầu tư.
Khi nền kinh tế đi xuống thì tổng đầu tư giảm, nhưng xét từng nhà đầu tư lại chưa
chắc đã giảm. Không phải lúc nào sự tăng hay giảm chi tiêu của các doanh nghiệp cũng
thuận chiều với xu hướng lên xuống của chu kì kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế. Bởi
vì mặc dù nền kinh tế suy thoái nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư phát triển sản phẩm
mới thay thế sản phẩm cũ khi sản phẩm cũ đã mất chỗ đứng trên thị trường hoặc đã kết
thúc một chu kì sống, hoặc cũng có một số doanh nghiệp đầu tư vào các thị trường ngoài
nước trong khi nền kinh tế của quốc gia đang trên đà đi xuống.
2.5. Đầu tư của Nhà nước
Tổng đầu tư nhà nước là tổng phần vốn đầu tư của chính phủ vào trong nền kinh
tế. Đầu tư của nhà nước bao gồm: đầu tư cơ sở hạ tầng và đầu tư của doanh nghiệp nhà
nước.
- Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục đích thu lợi mà
tác dụng trợ giúp, điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn xã hội. Thông qua ngân sách,
chính phủ có thể đầu tư phát triển mạng lưới giao thông, viễn thông, cơ sở hạ tầng, các
khu công nghiệp…điều này nhằm cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các cá nhân,
tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành theo quy hoạch của chính phủ, hướng
nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn
tin cậy để bỏ vốn đầu tư.
Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy các
nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển. Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm tăng
lòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm. Chính sách và hành vi của
chính phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các rào
cản cạnh tranh.
- Lợi nhuận thực tế:
+ Lợi nhuận thực tế là yếu tố quyết định đến qui mô đầu tư.
+ Lợi nhuận thực tế ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư theo tỉ lệ thuận.
- Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án đầu tư trong tương lai:
+ Cầu tăng sẽ kích thích các doanh nghiệp bỏ thêm vốn sản xuất đầu tư tăng.
+ Cung thị trường gồm cung đầu vào và cung đầu ra. Doanh nghiệp thường chọn
ngành sản xuất thuận lợi về cung đầu vào để giảm bớt chi phí sản xuất.
- Rủi ro đầu tư: Các quyết định đầu tư luôn tiềm ẩn sự rủi ro.
Rủi ro có 2 loại: + Rủi ro có thể đa dạng hóa.
+ Rủi ro không thể đa dạng hóa.
- Công nghệ và đổi mới:
+Tỉ lệ tăng trưởng của sản lượng tỉ lệ thuận với tiến bộ của công nghệ và tỉ lệ tăng
trưởng của vốn và lao động.
+Công nghệ càng phát triển thì càng thu hút được đầu tư.
- Yếu tố thời gian:
+ Thời gian ở đây chính là thời gian để nhà đầu tư thu hồi vốn và có lãi.
+ Các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào những ngành thương mại, dịch vụ,
những ngành cần ít vốn mà thời gian thu hồi vốn nhanh.
3. Kích cầu đầu tư:
3.1. Khái niệm.
- Cầu đầu tư: Cầu đầu tư là lượng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế đối với hoạt động đầu
tư.
- Kích cầu đầu tư: Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công
và theo thành phần kinh tế. Đầu tư nước ngoài còn thu hút khoa học công nghệ hiện đại,
làm thay đổi bộ mặt của toàn bộ nền kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội. Như vậy kích
cầu đầu tư có tác dụng rất quan trọng ở mỗi quốc gia, và mang tính tất yếu trong chiến
lươc phát triển kinh tế xã hội dài hạn.
9
Chương 2: Thực trạng kích cầu đầu tư ở Việt Nam
1. Đánh giá tình hình chi tiêu đầu tư của Việt Nam.
Trên góc độ nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển có thể huy động từ hai nguồn:
nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó mỗi nguồn lại
được chia thành các nguồn nhỏ hơn. Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn
Nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân và nguồn vốn khác. Vốn đầu tư nước ngoài lại
bao gồm vốn FDI, vốn tài trợ phát triển chính thức, vốn vay thương mại, vốn ngoại tệ
thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ ra nước ngoài.
Trong những năm vừa qua Việt Nam đã có những thành tựu rất đáng hy vọng
trong hoạt động huy động vốn đầu tư phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội liên tục tăng
trưởng mạnh về qui mô. Đây chính là yếu tố quyết định nhất tới những thành tựu về kinh
tế của nước ta trong giai đoạn vừa qua. Điều này được thể hiện qua số liệu thông kê vốn
đầu tư phát triển giai đoạn 1996-2005:
Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005.
Đơn vị : Nghìn tỷ đồng,%
Năm
Tổng vốn
Lượng tăng tuyệt
Tốc độ tăng vốn
Vốn đầu
đầu tư
đối
10.4
34.0
2002
173.2
12.8
8.0
34.3
2003
189.3
16.1
9.3
35.5
2004
216.0
26.7
14.1
36.2
2005
236.9
20.9
9.7
36.8
Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Trong chi tiêu cho đầu tư phát triển, khoản chi tiêu của chính phủ Nước ta luôn
chiếm một tỷ trọng lớn nhất, là một nguồn quan trọng nhất trong đầu tư phát triển. Nguồn
vốn này bao gồm nguồn vốn của Ngân sách Nhà nước nguồn vốn tín dụng đầu tư phát
triển và nguồn vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp Nhà nước. Theo số liệu thống kê, tổng
chi đầu tư phát triển đã đạt 85,7 ngàn tỷ (2006), dự toán năm 2007 là 99,5 ngàn tỷ, với đà
thực hiện vượt dự toán như hàng năm thì chi đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước
chắc chắn sẽ vượt ngưỡng 100 ngàn tỷ đồng trong năm 2007.
nước
100,2 107,3 119,5 180
140
- Tỷ trọng
24,8% 20,2% 19,4% 25,2% 17,4%
2. Vốn trái phiếu Chính phủ
7,6
7,0
20
46
56
- Tỷ trọng
1,9% 1,3% 3,2% 6,4% 7,0%
3. Vốn đầu tư theo kế hoạch nhà
nước
34,9
35,1
35
35,7
55
- Tỷ trọng
8,6% 6,6% 5,7% 5,0% 6,8%
4. Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà
nước
55,1
60
56
54,1
66
- Tỷ trọng
nghiệp tư nhân và dân cư hầu như không có tiến triển nào đáng kể xét về tỷ trọng trong
11
tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đây được coi là một hạn chế của cơ cấu đầu tư do nguồn
vốn tư nhân thường có hiệu quả đầu tư cao hơn nhưng tỷ trọng lại không được cải thiện.
Ngoài ra, có một số diễn biến đang chú ý về các lĩnh vực, ngành nghề tiếp nhận
đầu tư tại Việt Nam trong thời gian 2006 – 2010 bao gồm:
- Khoảng 72% tổng đầu tư xã hội tập trung vào 20 ngành nghề chính nhưng trong
nhóm ngành này lại không có công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, nông nghiệp và chế
biến nông lâm thủy sản.
- Xét riêng đầu tư của nhà nước thì 65% nguồn vốn được dành cho 10 ngành là
vận tải đường bộ, cung cấp nước, vận tải đường thủy, sản xuất điện và khí đốt, khai thác
dầu khí, quản lý nhà nước, y tế và trợ cấp xã hội, dịch vụ viễn thông, văn hóa - thể thao
và thủy lợi.
Trong vài năm gần đây, Việt Nam cũng đã bắt đầu xúc tiến phát hành trái phiếu
chính phủ ra nước ngoài và đã đạt được những thành công bước đầu. Tuy nhiên, hoạt
động này chưa thật sự tác động nhiếu đến khả năng huy động vốn ngoài nước của nước
ta. Như vậy với đóng góp gần 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn đầu tư từ
nước ngoài thật sự rất cần thiết và quan trọng đối với Việt Nam.
2. Những biện pháp kích cầu đầu tư ở Việt Nam trong thời gian qua.
Trong những năm vừa qua chúng ta đã có được những bước tiến đáng kể trong
mọi mặt của nền kinh tế. Có được điều đó nhân tố đầu tiên mà chúng ta nhắc đến luôn là
nguồn vốn đầu tư (yếu tố vốn đóng góp vào tăng trưởng tới 60%), trong khi nước ta trong
điều kiện một nước đang phát triển nên rất khan hiếm nguồn vốn đầu tư, do vậy các giải
pháp kích cầu đầu tư luôn là điều được chú trọng nhất. Thực tế cho thấy Việt Nam đã
thực hiện rất nhiều các giải pháp và đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong hoạt
động kích cầu đầu tư.
tư.
Với việc ban hành các chính sách tín dụng ưu đãi phù hợp, chúng ta đã huy động
được phần đáng kể nguồn tiết kiệm trong dân cư (khoảng trên 50% số tiết kiệm có được)
để đưa vào đầu tư. Những đổi mới kịp thời trong chính sách huy động, nâng cao hiệu quả
sử dụng và nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư đã củng cố được lòng tin đối với các nhà
đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, huy động vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng phục hồi và gia
tăng.
Cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển đã có nhiều thay đổi. Các văn bản pháp quy
trong lĩnh vực ĐTPT luôn được cập nhật, đổi mới phù hợp theo hướng phân cấp mạnh
hơn trong quản lý đầu tư và xây dựng, đồng thời, tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát
của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nhiều Nghị định mới, văn bản luật mới được ban
hành thay thế cho những nghị định không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế và
những đòi hỏi khắt khe của xu thế toàn cầu hoá (Như Nghị định 07/2003, Nghị định
16/2005; Luật đầu tư chung, luật đấu thầu, Luật doanh nghiệp thống nhất…).
Công tác quy hoạch cũng có nhiều đổi mới, thực hiện tốt vai trò định hướng đầu tư
và là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Chất lượng công tác quy hoạch đã được chú
ý, các quy hoạch phát triển đã được lập, rà soát theo hướng gắn với thực tế, bám sát hơn
nhu cầu thị trường, khai thác tốt hơn tiềm, thế mạnh của từng địa phương.
Công tác quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài đã được từng bước kiện toàn
thông qua việc thành lập cục đầu tư nước ngoài với các trung tâm xúc tiến đầu tư; thực
hiện chủ trương phân cấp và uỷ quyền cấp phép, quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài
cho các địa phương và ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh. Việc xây dựng quy hoạch,
pháp luật, chính sách, thẩm định, giải quyết vướng mắc của các dự án đầu tư nước
ngoài… đã có sự cộng tác, phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương cũng như
tăng cường gặp gỡ và đối thoại chính sách với các nhà đầu tư nước ngoài.
* Các chính sách kích cầu qua từng giai đoạn
- Giai đoạn 1986 – 1990:
Chính phủ VN đã sử dụng chính sách tài khóa và tiền tệ làm giải pháp chủ yếu để
chống và kiềm chế lạm phát. Cụ thể như sau:
triển mạng lưới giao thông, bê tông hóa hệ thống kênh mương...đã thực hiện. Cùng với
việc tăng chi tiêu, chính phủ đã liên tục điều chỉnh lãi suất để kích thích đầu tư.
Trong giai đoạn này, cơ chế chính sách trong lĩnh vực kích cầu đầu tư đã có nhiều
đổi mới góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các
chủ thể trong nền kinh tế bỏ vốn đầu tư. Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách
nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật; nguồn
vốn đầu tư phát triển được đa dạng hoá, cơ chế bao cấp trong hoạt động đầu tư đã từng
bước được hạn chế và dần xoá bỏ. Chương trình kích cầu đầu tư được thực hiện với hàng
loạt chương trình và hoạt động: Chương trình kiên cố hóa hệ thống kênh tưới thủy lợi
liên huyện, liên xã; chương trình kiên cố hóa hệ thống kênh tưới thủy lợi liên thôn và nội
đồng; chương trình nâng cấp mặt bằng đường giao thông nông thôn; chương trình khuyến
khích xây dựng nhà ở khu vực đô thị và vùng khó khăn bão lụt; chương trình phát triển
hệ thống điện; khuyến khích dân cư hoặc các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
14
hữu hạn đầu tư trực tiếp xây dựng các cơ sở hạ tầng với quy mô thích hợp; triển khai
chương trình hỗ trợ giải quyết việc làm... Chính sách đầu tư qua ngân sách, đặc biệt là
đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước đã làm cho tổng tích lũy tài sản của Việt Nam
trong giai đoạn kích cầu tăng mạnh, từ 1,2% năm 1999 lên 10,6% năm 2002. Đầu tư đã
đóng góp 3,69 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng bình quân 7,16% bình quân năm
của giai đoạn này. Khai thác tiềm năng của yếu tố đầu tư cho tăng trưởng đã được phân
tích kỹ ở phần trên.
- Giai đoạn 2008 – đến nay:
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinhh tế toàn cầu năm 2009, ở
VN gói kích cầu thứ nhất trị giá 17000 tỷ đồng đã được chính phủ quyết định thông qua
và sớm đươc giải ngân nhanh chóng để hỗ trợ 4% lãi suất vay NHTM cho các khoản vay
ngắn hạn dưới 1 năm của các DN vừa và nhỏ, có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, sử dụng
không quá 300 công nhân, không nợ đọng thuế và nợ tín dụng quá hạn... Tiếp đó gói kích
4. Một số đánh giá về các biện pháp kích cầu đầu tư ở Việt Nam:
4.1. Một số hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu, hoạt động đầu tư ở Việt vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần
khắc phục như sau:
- Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất nước rất lớn nhưng khả năng đáp ứng các
nguồn vốn còn hạn chế, chưa huy động hết tiềm năng. Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư so với
GDP còn thấp so với nhiều nước vào thời kỳ phát triển tương tự, tiềm lực trong dân còn
rất lớn nhưng huy động cho đầu tư thấp. Các thành phần kinh tế còn dè dặt trong việc bỏ
vốn đầu tư.
Định hướng chiến lược thu hút vốn ĐTNN hướng chủ yếu vào lĩnh vực công
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp
ĐTNN với doanh nghiệp trong nước còn yếu nên giá trị gia tăng trong một số sản phẩm
xuất khẩu (hàng điện tử dân dụng, dệt may) còn thấp. Nhiều tập đoàn công nghiệp định
hướng xuất khẩu đầu tư tại Việt Nam buộc phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào
vì thiếu nguồn cung cấp ngay tại Việt Nam.
- Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển chưa phù hợp.
Vốn đầu tư từ ngân sách còn nặng tính bao cấp. Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà
nước bằng nguồn khấu hao tài sản cố định để lại chưa được quan tâm đúng mức. Nguồn
vốn tín dụng đầu tư chiếm tỷ trọng thấp so với tổng vốn đầu tư Nhà nước, đối tượng vay
không nhất quán, lãi suất vay ưu đãi cao, thiếu hấp dẫn.
- Cơ cấu hoạt động đầu tư chuyển dịch chậm, còn nhiều bất hợp lý cần khắc phục.
Cơ cấu vùng đã có những điều chỉnh nhưng chênh lệch về đầu tư giữa các vùng còn khá
lớn, đầu tư cho các công trình liên vùng liên tỉnh còn kém, bị chia cắt theo địa giới hành
chính địa phương.
Cơ cấu vốn FDI cũng có nhiều bất hợp lý. Trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định nhưng đầu tư nước ngoài còn quá thấp
và tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký liên tục giảm. Chất lượng một số dự án đầu tư
nước ngoài chưa cao. Một số dự án khác nhất là các dự án thực hiện theo hình thức liên
doanh hoạt động kém hiệu quả. Một số dự án có trình độ trung bình, thậm chí lạc hậu và
theo hình thức gia công lắp ráp là chính.
Nam. Trong những thời điểm khó khăn, ta tranh thủ vốn ĐTNN nhưng khi điều kiện
thuận lợi lại có xu hướng không khuyến khích ĐTNN mà để trong nước tự làm; những
biểu hiện này có tác động làm nản lòng nhà ĐTNN.
- Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn
chưa đồng bộ, thiếu nhất quán. Một số Bộ, ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn
các nghị định của Chính phủ.
- Môi trường đầu tư - kinh doanh nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến bộ đạt
được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cạnh tranh thu hút vốn
ĐTNN tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt.
- Công tác quy hoạch còn có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn nặng
về xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các
cam kết quốc tế.
- Nước ta có xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô nền kinh tế nhỏ bé; kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội yếu kém; các ngành công nghiệp bổ trợ chưa phát triển; trình
độ công nghệ và năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao. Chính sách, biện pháp để
khuyến khích huy động tốt nguồn lực trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế, xã
hội còn nhiều hạn chế.
- Sự phối hợp trong quản lý hoạt động ĐTNN giữa các Bộ, ngành, địa phương
chưa chặt chẽ. Đánh giá tình hình ĐTNN vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về chất
lượng, còn bệnh thành tích trong cơ quan quản lý các cấp.
- Tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển trong tình hình mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác
kinh tế đối ngoại còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, không loại trừ một số yếu kém
17
về phẩm chất, đạo đức, gây phiền hà cho doanh nghiệp, làm ảnh hưởng xấu đến môi
trường đầu tư-kinh doanh.
4.2. Nguyên nhân:
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kích cầu đầu
tư ở Việt Nam.
1. Giải pháp khắc phục những hạn chế.
- Tạo môi trường đầu tư, chính sách thông thoáng để huy động hiệu quả nhất nguồn vốn
đầu tư.
- Cần có chính sách ưu đãi đầu tư đối với những vùng lãnh thổ khó khăn, những ngành
nghề ít thu hút đầu tư để cơ cấu hoạt động đầu tư được chuyển dịch nhanh, hợp lý.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.
- Nâng cao năng lực quản lí dự án đầu tư.
- Thẩm định kỹ lưỡng các dự án đầu tư để nâng cao tính hiệu quả, đảm bảo môi trường.
2. Giải pháp kích cầu ở Việt Nam.
2.1. Tiếp tục đổi mới để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn, khuyến khích sản
xuất kinh doanh.
Cùng với việc tiếp tục giữ vững tình hình chính trị, xã hội ổn định, nước ta cần tập
trung chỉ đạo, tháo gỡ các rào cản về vốn, giảm sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước. Đảm
bảo giá cả thị trường và kìm chế lạm phát ở mức hợp lý, ổn định tài chính tiền tệ trên tầm
vĩ mô. Phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách để thu hẹp và đi đến chấm dứt mọi sự
phân biệt đối xử không bình đẳng như hiện nay. Đồng thời tiếp tục đổi mới chính sách,
bảo đảm sự ổn định, công khai, minh bạch và tăng cường sức cạnh tranh lành mạnh. Tiếp
tục tăng cường đầu tư của Nhà nước và khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu
tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.
Cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo quy chế “một cửa”. Coi trọng việc
điều hành vĩ mô của Nhà nước. Từng bước điều chỉnh giá hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước
định giá xuống ngang bằng với các nước khu vực, xây dựng cơ chế quản lý, kiểm soát
các mặt hàng độc quyền, cơ chế chống bán phá giá và cơ chế kiểm soát việc chuyển giá
nội bộ trong doanh nghiệp để bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến khích
hỗ trợ để chuyển một phần không nhỏ hộ kinh doanh cá thể sang kinh doanh theo các loại
hình doanh nghiệp. Chuyển các đơn vị sự nghiệp sang hoạt động theo cơ chế doanh
nghiệp phi vụ lợi. Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp. Tiến tới Ngân sách Nhà
Chính sách thuế và phí có thể kích thích đầu tư trong nước để phát triển các sản phẩm,
các ngành nghề hoặc lĩnh vực cần thiết, giảm và ngừng các hoạt động đầu tư vào các
ngành nghề, lĩnh vực và sản phẩm không có lợi cho nền kinh tế quốc dân. Biện pháp này
thực hiện dưới hai hình thức là miễn hoặc giảm thuế theo những quy định thống nhất.
Chính sách thuế và phí khuyến khích các nhà đầu tư nhập các vật tư thiết bị và công nghệ
mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc cung ứng, khuyến khích các nhà đầu tư
xuất khẩu những mặt hàng mới làm tăng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế.
- Ba là, khuyến khích đầu tư qua tín dụng đầu tư được thực hiện với các hình thức:
ưu đãi về lãi suất (đối tượng khuyến khích đầu tư được vay vốn tín dụng ưu đãi với lãi
suất thấp hơn lãi suất thị trường, các tổ chức huy động vốn đầu tư để cho vay ưu đãi đầu
tư với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường sẽ được Nhà nước bù đắp chênh lệch lãi suất);
ưu đãi về thời hạn cho vay; ưu đãi về bảo lãnh tín dụng đầu tư; cải tiến chính sách vay và
hoàn trả vốn vay kể cả khoản vay nợ nước ngoài.
- Bốn là, hỗ trợ sau đầu tư được thực hiện khi kết thúc quá trình đầu tư xây dựng,
bắt đầu khai thác dự án theo các hình thức sau: Hỗ trợ một phần bằng tiền để chi trả tiền
lãi vay vốn của các nhà tài trợ vốn; Hỗ trợ qua giá đối với các sản phẩm, dịch vụ đang có
thị trường, mở rộng thị trường hoặc tìm thị trường mới; Hỗ trợ qua các tổ chức quản lý
khoa học, công nghệ, quản trị kinh doanh, thông tin, tin học…; Thành lập các trung tâm
tiếp thị, xúc tiến thương mại, tạo cơ hội cho lĩnh vực kinh doanh tiếp cận thị trường…
2.2. Đa dạng hoá các kênh, hình thức động nguồn lực cho hoạt động đầu tư.
Ngoài việc sử dụng có kết quả các công cụ tạo lập vốn truyền thống, cần nghiên
cứu đa dạng hoá công cụ thu hút các nguồn lực theo cơ chế thị trường. Các hình thức trái
phiếu, cổ phiếu, các quỹ đầu tư, các tổ chức tài chính trung gian ngân hàng, phi ngân
hàng, tiết kiệm bưu điện, các loại hình xổ số kiến thiết và một số hình thức huy động vốn
khác thông qua kênh thị trường vốn, thị trường chứng khoán cần tiếp tục được vận dụng
20
có kết quả nhằm tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Phải coi việc tạo lập
gắn tốt hơn với việc huy động và sử dụng ODA, nhất là trong việc hoàn thiện cơ sở hạ
tầng kinh tế xã hội, đào tạo nguồn nhân lực,… Chính phủ cần phải đẩy mạnh hơn nữa
công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài, quảng bá các lợi thế sẵn có của Việt Nam để mời gọi
các nhà đầu tư nước ngoài.
2.3. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư.
- Một là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư, xác định chủ
trương đầu tư theo mục tiêu và định hướng phát triển giai đoạn 2006-2010. Coi trọng
công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội các ngành, vùng, lãnh thổ một cách
nhất quán, tránh mỗi nơi một kiểu, tập trung mục tiêu trọng điểm, không nên đưa nhiều
21
mục tiêu, nhiều mũi nhọn mà lại chưa tính hết đến tính cân đối theo nhu cầu thị trường.
Cần phải chấn chỉnh công tác nghiên cứu quy hoạch tổng thể theo định hướng phát triển
mà Đảng và Nhà nước đã nêu ra. Ngoài ra cần đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất của Chính
phủ từ trung ương đến địa phương, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch - bước cụ thể
hoá chiến lược.
- Hai là, chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế. Trong việc lựa chọn các
ngành nghề ưu tiên đầu tư, xuất phát điểm không phải là chọn ngành nghề mà là chọn
những sản phẩm mũi nhọn. Từ đó mới xác định các ngành nghề tạo ra sản phẩm mũi
nhọn. Trong công nghiệp, cần tập trung đầu tư để chuyển dịch nhanh cơ cấu công nghiệp
theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, đa dạng hoá sản phẩm. Chú trọng đầu tư
công nghiệp năng lượng, công nghiệp có công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, công
nghiệp phụ trợ, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phục vụ nông nghiệp
nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phải cho phép khai thác, phát huy lợi thế và tính cạnh
tranh riêng của từng vùng trong mối liên kết chung để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội
của tất cả các vùng tạo nên thế mạnh của mỗi vùng theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với mở
rộng thị trường trong và ngoài nước. Tập trung hình thành một số trung tâm kinh tế lớn,
7. Báo điện tử của bộ kế hoạch & đầu tư.
23