MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................4
1 Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................................6
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.....................................................7
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài..............................................8
3.1 Đối tượng nghiên cứu............................................................................................8
3.2 Phạm vi nghiên cứu...............................................................................................8
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài...............................................................................9
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài...............................................................................9
6 Kết cấu khóa luận.....................................................................................................9
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ,
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ VIỆC KÍ KẾT VÀ THỰC THI HỢP ĐỒNG
DỊCH VỤ PHÁP LÝ..................................................................................................10
1.1.1 Khái niệm hợp đồng..........................................................................................10
1.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý...............................................................11
1.2 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý.............................................................12
1.2.1 Chủ thể của HĐDVPL......................................................................................12
1.2.2 Hình thức của HĐDVPL..................................................................................13
1.2.3 Nội dung của HĐDVPL....................................................................................13
1.3 Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý...................................................................14
1.3.1 Căn cứ vào nội dung của hợp đồng dịch vụ pháp lý.......................................14
1.3.2 Căn cứ vào loại hình tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý...............15
1.3.3 Căn cứ vào loại chuyên gia thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý..................16
1.4 Pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 17
1
1.4.1 Pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý..........................17
1.4.2 Pháp luật điều chỉnh vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ thỏa thuận ghi
3.2.1 Những thành tựu mà công ty đạt được trong quá trình giao kết và thực thi
hợp đồng dịch vụ pháp lý..........................................................................................31
3.2.2 Một số bất cập trong quá trình giao kết và thực thi hợp đồng dịch vụ pháp
lý.................................................................................................................................. 32
3.3 Một số đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật về HĐDVPL..............................33
3.4 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và hiệu quả áp dụng tại công ty Luật
TNHH Á Châu Việt...................................................................................................35
3.4.1 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý..........................................................................................35
KẾT LUẬN................................................................................................................. 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................41
3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Pháp luật về giao kết và thực
hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý- Thực tiễn thực hiện tại Công ty Luật TNHH Á
Châu Việt”. Bên cạnh sự nổ lực của bản thân em còn nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt
tình của anh chị trong công ty và các thầy cô giáo Trường Đại học Thương Mại
Qua đó, em xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo, toàn thể các anh chị trong
Công ty. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Th.S Đỗ Hồng Quyên- người đã
tận tâm giúp em hoàn thành bài khóa luận này.
Trong quá trình làm khóa luận, mặc dù em đã cố gắng nhưng do trình độ của
bản thân và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót, em
mong nhận được sự đóng góp, nhận xét từ phía các thầy cô để bài khóa luận của em
được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
TANDTC
5
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên tất yếu và cấp bách
đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các tổ chức và cá nhân cần có sự trợ giúp pháp
lý một cách thường xuyên nhằm đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý cho các giao dịch
của mình. Quá trình toàn cầu hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của dịch vụ pháp
lý cho các tổ chức và cá nhân ở tầm quốc tế. Các chủ thể tham gia nhiều giao dịch liên
quan đến nhiều lĩnh vực được điều chỉnh bởi pháp luật trong nước và pháp luật quốc
tế. Hình thức pháp lý của các giao dịch đó là hợp đồng. Để các giao dịch của các chủ
thể diễn ra an toàn và hiệu quả thì cần phải có sự trợ giúp pháp lý từ phía các nhà cung
cấp dịch vụ pháp lý (DVPL). Việc trợ giúp pháp lý của nhà cung cấp dịch vụ pháp lý
đối với bên sử dụng DVPL được thể hiện dưới hình thức hợp đồng dịch vụ pháp lý
(HĐDVPL). Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể HĐDVPL, đặc biệt
là của bên sử dụng DVPL và phòng ngừa tranh chấp xảy ra, đòi hỏi pháp luật về
HĐDVPL phải không ngừng hoàn thiện. Đồng thời hệ thống pháp luật quốc gia về
HĐDVPL phải phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
Ở Việt Nam, dịch vụ pháp lý mới khởi động và phát triển từ những năm 90
của thế kỉ 20 trở lại đây. So với bề dày truyền thống nghề luật ở các nước phát triển
như Anh, Pháp, Hoa Kì.... thì kinh nghiệm hành nghề của giới luật gia Việt Nam là
quá ít và chưa bài bản. Các tổ chức, cá nhân cũng chưa có thói quên sử dụng DVPL
cho các hoạt động của mình.Tình trạng quan liêu, cửa quyền của một bộ phận cán bộ,
công chức nhà nước ở Việt Nam vẫn còn, với sự thiếu hiểu biết về mặt pháp lý của
một bộ phận người dân nên rất cần tới sự giúp đỡ của nhà cung cấp dịch vụ pháp lý.
Pháp luật điều chỉnh HĐDVPL ở Việt Nam hiện nay được thể hiện ở rất nhiều
văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật dân sự 2005; Luật Thương mại 2005; Luật
Luật TNHH Á Châu Việt” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng 8/1945, dịch vụ pháp lý đã được ghi nhận,
cho phép thành lập và hoạt động, tuy nhiên nó chỉ được xác lập trở lại và phát triển
khá mạnh mẽ từ hơn hai thập kỉ qua. Trong khoảng thời gian đó, đã có một số công
trình nghiên cứu liên quan đến hợp đồng dịch vụ pháp lý ở các khía cạnh khác nhau
với phạm vi nghiên cứu khác nhau như giáo trình, sách chuyên khảo, chuyên đề,
nhưng chủ yếu tồn tại dưới hình thức những bài viết đăng trên tạp chí, đăng trên kỉ yếu
hội thảo và đề tài nghiên cứu của một số cá nhân, tổ chức về dịch vụ pháp lý. Sau đây
là một số các công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến hợp đồng dịch vụ pháp
lý:
- Thạc sỹ Nguyễn Như Chính (2011) “Pháp luật về dịch vụ về thương mại pháp lý
-những vấn đề lý luận và thực tiễn”, luận văn thạc sĩ luật học. Trường Đại học Luật Hà
Nội.
- Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Mơ - Khoa Luật, Trường ĐHQGHN
(2011) “Những vấn đề pháp lý về hợp đồng dịch vụ - thực tiễn giải quyết tranh chấp
về hợp đồng dịch vụ”. Ngoài việc tìm hiểu những vấn đề pháp lý về hợp đồng dịch vụ,
đề tài đi sâu vào phân tích những vụ việc thực tế về giải quyết tranh chấp hợp đồng
dịch vụ.
7
- TS. Hoàng Thị Vịnh (2014) “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam”, luận văn TS
luật học. Học viện khoa học xã hội.
- Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Chiều- Khoa Luật kinh tế, Trường Đại
học Kinh tế quốc dân (2010) “Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư
vấn thiết kế trang trí nội thất- thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Mộc Dũng”. Đề tài
tập trung phân tích về hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn thiết kế trang trí nội thất
và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Mộc Dũng.
- Bài viết của Th.s Hà Công Bảo Anh (2013 “Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò
Thứ hai, việc thực hiện pháp luật về HĐDVPLtại Công ty Luật TNHH Á Châu
Việt.
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về HĐDVPL tại Việt Nam.
Thứ hai, phân tích thực trạng giao kết và thực hiện HĐDVPL tại công ty Luật
TNHH Á Châu việt. Từ đó, đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp
luật của công ty.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ra
một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết và thực hiện
HĐDVPL tại công ty Luật TNHH Á Châu Việt nói riêng và ở của Việt Nam nói
chung.
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của CN Mác- Lê nin. Đây là phương pháp luận được vận
dụng nghiên cứu trong toàn bộ khóa luận để đánh giá khách quan sự thể hiện của các
quy định của pháp luật về HĐDVPL. Khóa luận cũng được nghiên cứu dựa trên đường
lối, chính sách phát triển kinh tế- xã hội, phát triển thương mại dịch vụ và hội nhập
kinh tế của Đảng và nhà nước ta.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa
học cụ thể khác nhau như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp lịch sử cụ thể và phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế nhằm
minh chứng cho những lập luận, cho những nhận xét đánh giá, kết luận khoa học của
khóa luận và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử được sử
dụng xuyên suốt khóa luận để phân tích, đối chiếu so sánh những quy định pháp luật
về HĐDVPL để thấy sự phát triển của pháp luật về HĐDVPL của nước ta cũng như
những điểm tương đồng và khác biệt, những hạn chế, bất cập của pháp luật về
HĐDVPL của Việt Nam so với các quy định của WTO và pháp luật quốc tế.
6 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
Khác với quan niệm của các nước theo hệ thống Civil Law, trong hệ thống
Common Law (Thông luật), ban đầu người ta xem hợp đồng như là kết quả của các
cam kết đơn giản, thể hiện bằng những hành vi pháp lý cụ thể của mỗi bên. Sau này
“các thẩm phán theo chủ nghĩa thực dụng ở Anh đã xem xét hợp đồng như là một
nghĩa vụ được tạo ra bởi sự gặp gỡ ý chí giữa các bên”.[2]
Bộ luật Dân sự Pháp qui định về hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận
của hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc
nào đó”. Theo định nghĩa này, hợp đồng chính là sự thống nhất ý chí giữa hai hay
nhiều người, không giới hạn số người tham gia vào quan hệ hợp đồng, trong đó liên
quan tới việc mua bán một vật hoặc không được làm một việc gì đó.
Trong khi đó, Bộ luật Dân sự Nga năm 1994 qui định “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự’. Bộ luật Dân sự Trung Quốc quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác
lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên nhân,
pháp nhân và các tổ chức khác”. Điểm khác biệt của Bộ luật Dân sự Trung Quốc có
10
nhấn mạnh tới yếu tố bình đẳng giữa các chủ thể của hợp đồng, các chủ thể ở đây gồm
có các cá nhân, pháp nhân.
Có thể nói, thuật ngữ “hợp đồng” là một phạm trù đa nghĩa và có thể xem xét ở
nhiều góc độ khác nhau. Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đồng”
theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan “hợp
đồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “qui
phạm pháp luật được qui định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau”. Theo
nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận giữa
các chủ thể giao kết hợp đồng” hay “là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí
của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên
hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân được làm việc theo hợp đồng
lao động cho cơ quan, tổ chức. HĐDVPL phải được làm thành văn bản” (Điều 26).
Như vậy, đối với hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý của luật sư, pháp luật đã có quy
định chính thức về việc quan hệ giữa luật sư và khách hàng là quan hệ HĐDVPL và
phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Các luật chuyên nghành về HĐDVPL như: Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ
sung 2012); Bộ luật Dân sự 2005; Luật Thương mại 2005… tuy không đưa ra nhận
định về HĐDVPL nhưng căn cứ vào bản chất kinh tế và bản chất pháp lý của các quan
hệ cung ứng dịch vụ pháp lý cụ thể cũng như xem xét các quan hệ cung ứng này trong
sự so sánh với quan hệ cung ứng dịch vụ pháp lý của luật sư, có thể khẳng định quan
hệ giữa bên cung ứng dịch vụ pháp lý và bên sử dụng các loại hình dịch vụ pháp lý
khác là quan hệ HĐDVPL.
Các quy định của BLDS 2005, LTM 2005 và các luật chuyên nghành về dịch vụ
pháp lý, từ đó có thể khẳng định HĐDVPL là một dạng của hợp đồng dịch vụ thương
mại. HĐDVPL mang đầy đủ các dấu hiệu của HĐDVTM đó là: sự thỏa thuận giữa hai
bên (bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ); nôi dung HĐDVPL chứa đựng
quyền và nghĩa vụ của các bên. Đa số HĐDVPL là loại hợp đồng song vụ, quyền của
bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Một số HĐDVPL là loại hợp đồng vì lợi
ích của người thứ ba (trường hợp thân nhân của bị can, bị cáo bị tạm giam mời luật sư
bào chữa cho họ). Theo đó, bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho bên thuê dịch vụ pháp
lý một hoặc một số công việc có liên quan đến pháp luật thuộc lĩnh vực hành nghề đã
đăng ký hoạt động cho bên thuê dịch vụ pháp lý còn bên sử dụng dịch vụ pháp lý có
quyền sử dụng dịch vụ pháp lý theo thỏa thuận và có nghĩa vụ thanh toán; Mục đích
của bên cung ứng dịch vụ pháp lý là nhận thù lao còn mục đích sử dụng của bên sử
dụng dịch vụ pháp lý là nhằm thỏa mãn nhu cầu về dịch vụ pháp lý.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng dịch vụ pháp lý
như sau: “Hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cung
ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để nhận thù lao,
còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”.
1.2 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý
quy định của pháp luật đối với một hợp đồng. Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những
nội dung chủ yếu nào là tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia. Việc
pháp luật quy định nội dung của hợp đồng dịch vụ pháp lý có ý nghĩa hướng các bên
tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi
để thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp
đồng
Các bên trong hợp đồng dịch vụ pháp lý luôn có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất
định, quyền và nghĩa vụ trong HĐDVPL do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, quyền và
nghĩa vụ đó phải không trái pháp luật, đạo dức xã hội và được pháp luật công nhận và
bảo vệ.
Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có những nội dung
chính sau đây:
13
- Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ
chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
- Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng
- Quyền, nghĩa vụ của các bên
- Phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có)
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phương thức giải quyết tranh chấp
1.3 Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.3.1 Căn cứ vào nội dung của hợp đồng dịch vụ pháp lý
HĐDVPL có thể chia thành 8 loại: hợp đồng dịch vụ tranh tụng; hợp đồng dịch
vụ tư vấn pháp luật; hợp đồng dịch vụ công chứng; hợp đồng dịch vụ lập vi bằng; hợp
đồng dịch vụ tống đạt giấy tờ của tòa án và cơ quan thi hành án; hợp đồng xác minh
điều kiện thi hành án; hợp đồng thi hành án và HĐDVPL khác.
• Hợp đồng dịch vụ tranh tụng
Văn phòng thừa phát lại ký hợp đồng dịch vụ tống đạt với Tòa án và Cơ quan Thi
hành án dân sự. Việc giao nhận văn bản tống đạt được thực hiện hằng ngày và ghi vào
sổ giao nhận theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành
• Hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án:
Khách hàng và Văn phòng Thừa phát lại tiến hành ký hợp đồng xác minh điều
kiện thi hành án. Trong đó, xác định rõ và cụ thể yêu cầu xác minh về điều kiện tài sản
hay các điều kiện khác của đương sự; thời gian thực hiện việc xác minh; quyền, nghĩa
vụ của các bên; hình thức xác minh và mức phí xác minh tương ứng các trường hợp
thanh lý hợp đồng.
Hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01
bản. Thư ký nghiệp vụ ghi vào sổ theo dõi hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án.
• Hợp đồng thi hành án
Là hợp đồng thực hiện những bản án, quyết định có hiệu lực của pháp luật của
Tòa án nhân dân trong cuộc sống, biến các quyết định của Tòa án trong những bán án,
quyết định đó thành hiện thực thực tế.
1.3.2 Căn cứ vào loại hình tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý
HĐDVPL có thể chia thành 5 loại: HĐDVPL của tổ chức hành nghề luật sư;
HĐDVPL của tổ chức hành nghề công chứng; HĐDVPL của tổ chức hành nghề Thừa
phát lại; HĐDVPL của Trung tâm tư vấn pháp luật và HĐDVPL của các tổ chức khác.
• HĐDVPL của tổ chức hành nghề luật sư
Là sự thỏa thuận giữa các bên,theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc
cho thuê dịch vụ còn bên thuê dịch vụ trả tiền cho bên cung ứng
• HĐDVPL của tổ chức hành nghề công chứng
Là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên cung ứng dịch vụ sẽ chứng nhận tính xác
thực, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của các hợp đồng, giấy tờ, tài liệu mà bên
thuê dịch vụ muốn công chứng.
• HĐDVPL của tổ chức hành nghề Thừa phát lại
Là hợp đồng của các tổ chức hành nghề thừa phát lại với các công việc: thực
có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các
bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện
trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị
Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
• HĐDVPL của thừa phát lại
Là hợp đồng cung cấp các dịch vụ pháp lý mang tính chất công. Bốn dịch vụ
pháp lý công mà Thừa phát lại đươc phép thực hiện bao gồm:
- Thi hành án
- Xác minh điều kiện thi hành án
- Lập vi bằng
- Tổng đạt văn bản, giấy tờ của Tòa án và cơ quan thi hành án
• HĐDVPL của tư vấn pháp luật
Là hợp đồng mà Luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các
giấy tờ liên quan đến việc thực thi quyền, nghĩa vụ trong quan hệ dịch vụ pháp lý.
16
1.4 Pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.4.1 Pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
Giao kết hợp đồng là một nội dung quan trọng cần phải xem xét khi nghiên cứu
pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý. Việc giao kết HĐ DVPL cũng tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản đối với một hơp đồng dân sự thông thường. Cụ thể như sau:
• Nguyên tắc về giao kết HĐDVPL
Giao kết hợp đồng có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên
theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận
nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ giữa các bên.
Việc giao kết được xác lập trên cơ sở của sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa
các bên. Quá trình giao kết diễn ra với hai yếu tố: sự bày tỏ ý chí và sự chấp nhận ý
Theo nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên toàn tự nguyện.
Khi giao kết hợp đồng, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn
cản bên nào. Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng đến sự tự nguyện của chủ thể có thể
làm cho hoạt động mà các chủ thể giao kết bị vô hiệu.
Nguyên tắc bình đẳng là một trong những nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến
pháp 1992. Trong quan hệ hợp đồng, sự bình đẳng luôn luôn được pháp luật của các
quốc gia thừa nhận. Theo nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên đều
bình đẳng, không được lấy lý do khắc biệt về dân tộc, giới tính, tôn giáo, trình độ văn
hóa…để đối xử không bình đẳng với nhau.
Nguyên tắc thiện chí, trung thực được quy định tại Điều 6 BLDS 2005. Khi các
chủ thể tự nguyện giao kết hợp đồng thì phải thể hiện sự thiện chí trước các chủ thể
khác. Ngoài việc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình thì cũng cần tạo điều
kiện để bên kia thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của họ.
Nguyên tắc trung thực, thẳng thắn cũng là yêu cầu đặt ra đối với các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng. Trong việc tham gia giao kết hợp đồng, một bên không
được lừa dối bên kia, không được cố ý đưa ra các thông tin không đúng để bên kia
giao kết hợp đồng của mình.
• Căn cứ giao kết HĐDVPL
Căn cứ để giao kết HĐDVPL đó là: theo định hướng kế hoạch của nhà nước,
các
chính sách chế độ, các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành; căn cứ theo nhu cầu thị
trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng; căn cứ vào khả năng phát triển
sản
xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế của đơn vị mình; căn cứ vào tính hợp
pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng bảo đảm về tài sản của các bên
cùng ký kết hợp đồng.
• Ðề nghị giao kết HĐDVPL
Ðề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu
sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể
(khoản 1 Điều 390 BLDS 2005).
giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi, bổ sung đề nghị thì coi như
người này đã đưa ra đề nghị mới, không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của những
thay đổi, bổ sung đó.
Theo nguyên tắc, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không có giá trị pháp lý
nếu bên đề nghị chấp nhận được sự chấp nhận đó sau khi hết thời hạn chờ trả lời và
được coi là đề nghị giao kết hợp đồng mới trừ trường hợp bên đề nghị thông báo ngay
cho bên được đề nghị về việc chấp nhận của mình.
1.4.2 Pháp luật điều chỉnh vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ thỏa thuận ghi
nhận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý
* Quyền, nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ pháp lý
- Nghĩa vụ của bên cung cấp DVPL
Khi thực hiện công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ
cần phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản sau:
19
Thứ nhất, bên cung ứng dịch vụ pháp lý sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa
vụ cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc đúng số lượng, chất lượng, thời
hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác. Đây là nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất của
bên cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, tùy theo tính chất và yêu cầu của mỗi công việc, nếu
các bên có thỏa thuận khác liên quan đến việc thực hiện công việc thì bên cung ứng
dịch vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận đó. Nếu vi phạm nghĩa vụ này thì bên
thuê dịch vụ có quyền hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Thứ hai, không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không
có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ. Đây là một quy định đặc thù của HĐDVPL. Do đó
bên cung ứng dịch vụ phải có trách nhiệm về việc thực hiện công việc trước bên thuê
dịch vụ. Bên cung ứng dịch vụ không được bàn giao công việc cho người khác khi
không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ. Nếu vi phạm nghĩa vụ này thì bên thuê dịch
có quyền hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Thứ ba, phải bảo quản và giao lại cho khách hàng những tài liệu và phương tiện
bảo quyền lợi của bên thuê dịch vụ.
Ngoài ra bên cung ứng dịch vụ cũng có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ cung
cấp thông tin, tài liệu … để hoàn thiện công việc một cách tốt nhất và yêu cầu bên thuê
dịch vụ trả tiền dịch vụ.
* Quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ pháp lý
- Nghĩa vụ của bên sử dụng DVPL
Khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền cung ứng dịch vụ như đã
thảo thuận trong hợp đồng. Nếu có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho
việc thực hiện thì phải cung cấp kịp thời. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung
ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng
có nghĩa vụ điều phối hoạt động của bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến
công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.
Ngoài ra, bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng
dịch vụ theo đúng giá tiền và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận.
- Quyền của bên sử dụng DVPL
Bên sử dụng dịch vụ pháp lý có quyền yêu cầu bên cung cấp DVPL thực hiện
công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác.
Trong trường hợp bên cung cấp DVPL cung cấp không đạt được như thỏa thuận
hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì bên sử dụng dịch vụ pháp lý
có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
* Về trách nhiệm khi vi phạm HĐDVPL
Trong quá trình thực hiện HĐDVPL, nếu một bên không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ của mình mà gây ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại thì
phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm đó. Trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận hoặc hành vi vi phạm đó thuộc trường hợp miễn trách nhiệm, bên bị vi phạm có
thể áp dụng các chế tài quy định tại Điều 292 LTM 2005 đối với bên vị phạm. Các chế
tài bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại,
tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng.
21
Thứ ba, nhóm các quy định về hợp đồng dịch vụ pháp lý có yếu tố nước ngoài.
Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại, Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế nên việc thực hiện các giao dịch có yếu tố nước ngoài là tương đối phổ biến.
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy
định khác với quy định của LTM 2005, BLDS 2005 thì áp dụng Điều ước quốc tế. Các
bên trong giao dịch nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập
22
quán quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giao kết và thực hiện HĐDVPL
Trong quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, Công ty Luật TNHH Á
Châu Việt và các đối tác của mình chịu những ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
•
Hệ thống pháp luật
Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước về giao kết và thực hiện
HĐDVPL thực hiện nhiệm vụ ban hành văn bản, quy định hướng dẫn về giao kết và
thực hiện HĐDVPL, đây là cơ sở cho việc tổ chức thực hiện việc giao kết và thực hiện
HĐDVPL.Thực tiễn cho thấy, hệ thống khung khổ pháp lý giao kết và thực hiện
HĐDVPL bao gồm các luật, nghị định, thông tư và các quyết định quy định về giao
kết và thực hiện HĐDVPL không phải bao giờ cũng bao quát được các vấn đề phát
sinh liên quan đến HĐDVPL trong thực tế. Việc giải quyết các vấn đề, tùy thuộc vào
từng tình huống cụ thể để áp dụng luật và các văn bản có liên quan, tuy nhiên, cũng có
những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được quy định trong luật, do đó, cần
phải có văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý về giao kết và thực hiện HĐDVPL.
2.2 Thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp
đồng DVPL.
2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ pháp lý
* Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ pháp lý
Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ hoàn thành công việc theo đúng chất lượng,
số lường và thời hạn mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu tính chất của công
việc được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định
thì bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành công việc đó sao cho kết quả phù hợp với
điều khoản và mục đích của hợp đồng, “trong trường hợp hợp đồng không quy định cụ
thể về tiêu chuẩn kết quả đạt được, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng
dịch vụ với kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường của loại dịch vụ đó” (Điều
79, LTM 2005). Bên cạnh đó, “nếu tính chất của công việc được cung ứng yêu cầu
bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mong muốn thì bên
cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng đó với nỗ lực và khả năng cao
nhất” (Điều 80, LTM 2005), tuy nhiên trong thực tiễn, có rất nhiều trường hợp bên
cung ứng dịch vụ đã nỗ lực cao nhất để hoàn thành công việc nhưng công việc đó vẫn
không đạt được đúng yêu cầu mà bên thuê dịch vụ mong muốn, điều này dẫn đến việc
bên thuê dịch vụ đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lý do bên
cung ứng dịch vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình và việc này cấu thành một
vi phạm cơ bản đối với việc cung ứng dịch vụ đó.
Trong quá trình thực hiện công việc, để hoàn thiện công việc theo đúng yêu cầu
mà bên thuê dịch vụ đưa ra thì bên cung ứng dịch vụ có thể “hợp tác với một bên cung
ứng khác” hoặc “giao cho người khác thực hiện công việc đó nếu như bên thuê dịch
vụ đồng ý” (Điều 522, BLDS 2005 và Điều 81, LTM 2005). Đây là một lợi thế giúp
cho bên cung ứng vừa có thể giữ uy tín đồng thời giúp cho khách hàng của mình đạt
được mục tiêu mong muốn. Bên cạnh lợi ích của việc kết hợp hay bàn giao cho bên
thứ ba thì nó cũng còn có nhiều bất cấp xảy ra, nếu bên thứ ba không hoàn thành nghĩa
vụ thì trách nhiệm sẽ thuộc về bên thứ ba hay bên cung ứng dịch vụ, tuy nhiên pháp
luật Việt Nam chưa có văn bản pháp lý nào quy định về vấn đề này.
24
dịch vụ phải thanh toán tiền theo đúng như thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo thói
quen của hai bên.
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ pháp lý
• Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ pháp lý
Bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán tiền cho bên cung ứng dịch vụ khi họ
đã hoàn thành công việc.
Ngoài ra, bên thuê dịch vụ cần phải trung thực hợp tác trong tất cả những vấn
đề cần thiết để bên cung ứng dịch vụ có thể thực hiện việc cung ứng không bị gián
25