TÓM LƯỢC
Ở Việt Nam, DVPL mới khởi động và phát triển từ những năm 90 của thế kỷ 20 trở
lại đây. So với bề dầy truyền thống nghề luật ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Anh,
Pháp…thì kinh nghiệm hành nghề của giới luật gia Việt Nam là quá ít ỏi và chưa bài bản.
Các tổ chức, cá nhân cũng chưa có thói quen sử dụng DVPL cho các hoạt động của mình.
Tình trạng quan liêu, hách dịch, cửa quyền của một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước
ở Việt Nam vẫn còn, với sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân nên rất cần có sự
trợ giúp của nhà cung cấp DVPL. Pháp luật điều chỉnh HĐDVPL ở Việt Nam hiện nay
còn chưa hoàn chỉnh và được quy định ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như: Bộ
luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005. Các đạo luật chuyên ngành và một số
văn bản dưới luật, bước đầu đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động DVPL của các nhà cung cấp
DVPL ký kết HĐDVPL với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng DVPL.
Các văn bản pháp luật nêu trên quy định về hợp đồng, HĐDV và DVPL chứ
không quy định trực tiếp về HĐDVPL. Điều đó dẫn đến một thực tế là trong một số
trường hợp cùng một vấn đề nhưng lại được điều chỉnh bằng nhiều quy định của các
văn bản khác nhau và những quy định đó lại chồng chéo, mâu thuẫn với nhau. Ngược
lại, có nhiều vấn đề lại không được quy phạm pháp luật nào điều chỉnh hoặc quy định
không rõ ràng hoặc quá chung chung…gây khó khăn, lúng túng cho các chủ thể
HĐDVPL, cho hoạt động QLNN và hoạt động giải quyết tranh chấp về HĐDVPL.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng các
HDDVPL vì vậy để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về vấn đề giao kết và thực
hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla: Những mặt thuận lợi, tích
cực cũng như những khó khăn, hạn chế. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm góp
phần vào việc hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
trong thương mại nói chung đồng thời nâng cao hiệu quả quá trình giao kết và thực
hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla đối với các khách hàng.
Vấn đề về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý trong thương mại rất rộng lớn và còn
nhiều vấn đề. Với khoảng thời gian nghiên cứu không nhiều, em chưa thể đề cập được chi
tiết, mọi khía cạnh vấn đề nghiên cứu và không tránh khỏi những sai sót, em rất mong
nhận được sự chỉ bảo cũng như ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô. Đây là một đề
tài có tính thời sự và thực tiễn cao. Hoàn thành đề tài này sẽ là một đóng góp đáng kể vào
HĐDVPL Hợp đồng dịch vụ pháp lý
TMDVPL Thương mại dịch vụ pháp lý
LDN Luật doanh nghiệp
LTM Luật thương mại
LLS Luật luật sư
VPLS Văn phòng luật sư
CCHN Chứng chỉ hành nghề
HĐDV Hợp đồng dịch vụ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
DN Doanh nghiệp
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
WTO Tổ chức thương mại thế giới
GATS Hiệp định thương mại dịch vụ
iii
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một yêu cầu tất yếu,
cấp bách đối với Việt nam. Trong bối cảnh đó, các tổ chức và cá nhân cần có sự trợ
giúp pháp lý một cách thường xuyên nhằm đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý cho các
giao dịch của mình. Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển
của DVPL cho các tổ chức và cá nhân ở tầm quốc tế. Các chủ thể tham gia nhiều giao
dịch liên quan đến nhiều lĩnh vực được điều chỉnh bởi pháp luật trong nước và pháp
luật quốc tế. Hình thức pháp lý của các giao dịch đó là hợp đồng. Để các giao dịch của
các chủ thể diễn ra an toàn và hiệu quả thì cần phải có sự trợ giúp pháp lý từ phía các
nhà cung cấp DVPL. Việc trợ giúp pháp lý của nhà cung cấp DVPL đối với bên sử
dụng DVPL được thể hiện dưới hình thức HĐDVPL. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể HĐDVPL, đặc biệt là của bên sử dụng DVPL và phòng ngừa
tranh chấp xảy ra, đòi hỏi pháp luật về HĐDVPL phải không ngừng hoàn thiện. Đồng
thời hệ thống pháp luật quốc gia về HĐDVPL phải phù hợp với các Điều ước quốc tế
mà Việt Nam đã ký kết.
Nam” của TS. Nguyễn Văn Tuân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Chuyên
đề Pháp luật về Doanh nghiệp.
Tóm lại, các nhóm công trình trên đã nghiên cứu, đánh giá những vấn đề có liên
quan đến HĐDVPL ở những khía cạnh khác nhau và là tài liệu tham khảo hữu ích cho
việc nghiên cứu pháp luật HĐDVPL. Tuy nhiên, do có những mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu khác nhau nên các tác giả chưa đề cập một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ
thống các vấn đề lý luận về DVPL cũng như pháp luật về HĐDVPL, mà chưa đi sâu
vào nghiên cứa các qui định về giao kết và thực HĐDVPL nên các thông tin về
HĐDVPL còn bị hạn chế. Do đó có nhiều cách khác nhau trong việc áp dụng các qui
định của pháp luật về HĐDVPL vào thực tiễn cũng là điều tất yếu. Nhằm hiểu và áp
dụng các qui định của pháp luật về giao kết và thực hiện các HĐDVPL trong các hoạt
động thương mại như thế nào? Thực trạng áp dụng các qui định của pháp luật về hợp
đồng dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla diễn ra như thế nào? Các đề xuất
giải pháp hoàn thiện các qui định pháp luật về giao kết và thực HĐDVPL.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế từ ngày 05/01/2015 đến ngày 29/04/2015 về các hợp
đồng dịch vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla cho thấy bên cạnh những kết quả đạt
2
được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong việc hoàn thiện về hợp đồng dịch
vụ pháp lý của văn phòng luật sư Interla. Do vậy để vấn đề giao kết và thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý trở thành đòn bẩy đối với văn phòng luật sư Interla, thực sự phát huy
vai trò của mình thì cần phải có những biện pháp để hoàn thiện hơn việc giao kết và thực
hiện HĐDVPL của văn phòng luật sư hiện nay là cần thiết. Trên cơ sở đó em lựa chọn đề
tài: “ Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Thực tiễn áp dụng tại
văn phòng luật sư Interla” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu của khóa luận
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là: Các quan điểm, tư tưởng luật
học về DVPL và HĐDVPL, các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về
HĐDVPL, cam kết của Việt Nam trong các Điều ước quốc tế về DVPL, pháp luật
luận và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử được sử dụng
xuyên suốt khóa luận để phân tích, đối chiếu so sánh những quy định pháp luật về
HĐDVPL để thấy sự phát triển của pháp luật về HĐDVPL của nước ta cũng như
những điểm tương đồng và khác biệt, những hạn chế, bất cập của pháp luật về
HĐDVPL của Việt nam so với các quy định của WTO và pháp luật quốc tế. Để hoàn
thành mục đích nghiên cứu thì có sự kết hợp giữa các phương pháp trong từng phần
của khoá luận. Đối với mỗi mục thì có một số phương pháp nghiên cứu chủ đạo để
làm rõ mục đích nghiên cứu.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết
luận, nội dung khóa luận kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng
dịch vụ pháp lý tại văn phòng luật sư Interla.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý.
4
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ
1.1. Một số khái niệm cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý.
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng
Hợp đồng là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu và hiện tại có khá nhiều khái
niệm về hợp đồng. Trên thực tế, sự tiếp cận khái niệm hợp đồng trong các hệ thống
pháp luật cũng khác nhau. Quan niệm của các luật gia thuộc hệ thống Civil Law xem
hợp đồng như một kết quả phức hợp của ý chí tự do cá nhân cùng nhiều nguyên tắc
pháp lý cơ bản của Luật Tư. Theo Geoffrey Samuel: “Khái niệm hợp đồng trong hệ
thống Civil law bị chi phối bởi ba nguyên tắc. Thứ nhất, hợp đồng được xem là kết
quả chung của sự gặp gỡ ý chí của các bên. Thứ hai, đó là pháp luật do các bên lập ra
để ràng buộc chính các bên trong hợp đồng. Vì sự ràng buộc của hợp đồng không chỉ
quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện”.
3
Ở Việt Nam, khái niệm hợp đồng không được định nghĩa cụ thể trong văn bản
pháp luật nào, BLDS 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự như sau: “Hợp đồng dân sự
là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”.
4
Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả
của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp
luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên. Xét
về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại giao dịch dân
sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
Như vậy: Hợp đồng là phương tiện pháp lý để các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ.
Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả dấu hiệu mang tính bản chất của hợp
đồng và thể hiện rõ chức năng, vai trò của hợp đồng trong việc làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật.
1.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý
Quan hệ cung ứng DVPL được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là HĐDVPL. HĐDVPL có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng DVPL.
Theo nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành trong trường hợp cùng điều
chỉnh quan hệ HĐDVPL thì các nguyên tắc và quy định đối với HĐDV trong BLDS
và LTM 2005 cũng được áp dụng cho HĐDVPL.
BLDS 2005 định nghĩa: “HĐDV là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên làm
dịch vụ thực hiện một công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả
tiền công cho bên làm dịch vụ” (Điều 518). Điều 74 LTM 2005 không định nghĩa hợp
3
đích của bên sử dụng DVPL là nhằm thỏa mãn nhu cầu về DVPL; iv) HĐDVPL không
bắt buộc phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
HĐDVPL là loại HĐTMDV chứa đựng đặc điểm của một số loại HĐTMDV
khác. Cụ thể là một số HĐDVPL có những điểm tương đồng với hợp đồng đại diện
cho thương nhân, đó là bên đại diện được nhân danh và vì lợi ích của bên được đại
diện để tiến hành các công việc do bên được đại diện giao, mang lại quyền và nghĩa vụ
7
cho bên được đại diện. Tuy nhiên, đại diện trong hoạt động DVPL là để thực hiện các
công việc có liên quan đến pháp luật thuộc lĩnh vực hành nghề của bên cung ứng
DVPL (chẳng hạn luật sư đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn để khởi kiện và tham
gia tố tụng trong vụ kiện đòi nợ), còn đại diện cho thương nhân trong hoạt động
thương mại là để thực hiện các công việc thuộc lĩnh vực hoạt động của bên giao đại
diện (hợp đồng đại lý là một điển hình). Bên cạnh đó, hai loại hợp đồng này còn có sự
khác nhau ở yếu tố chủ thể. Chủ thể HĐDVPL chỉ yêu cầu bên cung ứng DVPL là tổ
chức hành nghề chuyên nghiệp (đa số trong số đó là thương nhân), chủ thể hợp đồng
đại diện cho thương nhân bắt buộc hai bên đều phải là thương nhân. HĐDVPL cũng
có nhiều điểm tương đồng với một số HĐDV khác (hợp đồng dịch vụ kiểm toán, hợp
đồng dịch vụ giám định, hợp đồng bán đấu giá hàng hóa ), đó là bên cung ứng dịch
vụ thực hiện cho bên sử dụng dịch vụ một công việc thuộc lĩnh vực hành nghề đã đăng
ký hoạt động của mình và những dịch vụ này phải do những cá nhân có CCHN của
bên cung ứng dịch vụ thực hiện. Tuy nhiên, công việc thuộc lĩnh vực hành nghề của
bên cung ứng dịch vụ trong những hợp đồng nêu trên không phải là DVPL và CCHN
của cá nhân thực hiện công việc là đối tượng hợp đồng không phải là CCHN cung ứng
DVPL. Người thực hiện DVPL trong HĐDVPL là người có CCHN cung ứng một loại
hình DVPL nhất định và để được cấp CCHN, người thực hiện DVPL phải đáp ứng
nhiều điều kiện gắn với nghề luật, trong đó có một điều kiện đặc trưng về trình độ
chuyên môn phải có bằng đại học luật và phải có kỹ năng hành nghề luật qua yêu cầu
phải tốt nghiệp lớp đào tạo nghề cung ứng DVPL (chẳng hạn lớp đào tạo nghề luật sư),
đã trải qua thời gian tập sự hành nghề cung ứng DVPL (để làm thử công việc cung ứng
DVPL dưới sự hướng dẫn của các cá nhân có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cung
Đa số các HĐDVPL được ký kết theo hai phương thức ký kết HĐDV truyền
thống đó là phương thức trực tiếp và phương thức gián tiếp và tồn tại dưới các hình
thức do pháp luật quy định. Tuy nhiên, có một số loại HĐDVPL, phương thức ký kết
và hình thức tồn tại rất đặc biệt nhưng vẫn thể hiện được đầy đủ sự thỏa thuận của các
bên. Việc đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng được thể hiện bằng những cách thức
và dưới những hình thức rất đặc thù hay nói cách khác hoàn toàn không tồn tại một
bản HĐDVPL độc lập, chứa đựng đầy đủ nội dung của một HĐDVPL và không được
thể hiện dưới một hình thức truyền thống nhất định nào mà tồn tại dưới hình thức sự
pha trộn các hình thức tồn tại của một HĐTMDV. HĐDVPL loại này được giao kết và
phát sinh hiệu lực khi bên sử dụng DVPL có yêu cầu và bên cung ứng chấp nhận thực
9
hiện một hoặc nhiều công việc thuộc lĩnh vực hành nghề của mình cho bên yêu cầu.
Quá trình thực hiện cũng đồng thời là quá trình các bên tiếp tục đưa ra những thỏa
thuận và đề nghị mới thuộc nội dung hợp đồng. HĐDVPL của Công chứng viên và
Thừa phát lại là những loại hợp đồng có phương thức ký kết và hình thức tồn tại điển
hình của trường hợp này.
1.1.3.3. Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân và tính rủi ro cao.
Thứ nhất: Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính đối nhân
Tính đối nhân của HĐDVPL thể hiện ngay trong yếu tố hình thức tổ chức của các tổ
chức cung ứng DVPL. Hiện nay, pháp luật qui định cho hầu hết tổ chức hành nghề cung
ứng các loại hình DVPL dưới hình thức Văn phòng hoặc công ty hợp danh. Đối với hình
thức Văn phòng, các luật chuyên ngành qui định “hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp tư nhân” (Điều 33 LLS), mà DNTN là loại hình DN phải chịu trách nhiệm vô hạn
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh trong kinh doanh. Đối với hình thức công ty
hợp danh, cũng đồng nghĩa với việc các thành viên của tổ chức hành nghề phải chịu trách
nhiệm liên đới và vô hạn về các nghĩa vụ tài sản của tổ chức hành nghề. Ngoài ra, pháp
luật cũng cho phép các tổ chức hành nghề tổ chức dưới hình thức Công ty TNHH để được
hưởng chế độ chịu TNHH trong kinh doanh nhưng các công ty luật TNHH đăng ký kinh
doanh DVPL ngoài việc tuân theo các quy định của LDN cho loại hình công ty TNHH thì
còn phải tuân thủ các qui định của các luật chuyên ngành về DVPL để nhà nước quản lý
thể HĐDVPL không có cơ sở pháp lý để thỏa thuận chất lượng công việc. Mặt khác, là
một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng mà chủ yếu là từ
phía cung ứng DVPL nhưng bên sử dụng DVPL không có căn cứ pháp lý để bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của mình.
- Kết quả DVPL trong một số trường hợp bị phụ thuộc vào trình độ công nghệ
của các phương tiện kỹ thuật có liên quan.
Quá trình cung ứng một số DVPL, bên cung cấp không chỉ cần sử dụng những tri
thức pháp lý và kỹ năng nghề nghiệp, mà còn cần phải dựa trên kết quả hoạt động của
các phương tiện kỹ thuật hoặc kết quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức chuyên môn.
Do đó, chất lượng DVPL phụ thuộc phần lớn vào mức độ hiện đại của khoa học công
nghệ tương ứng (giả thiết kỹ thuật viên khách quan, công tâm và không có bất kỳ tác
động nào đến kết quả). Ví dụ: Dịch vụ tranh tụng của luật sư tại các cơ quan tiến hành tố
tụng hiện nay trong một số trường hợp phải dựa trên kết quả giám định của cơ quan
11
chức năng có thẩm quyền với việc sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại như: Giám định
tâm thần tư pháp, giám định pháp y, giám định ADN,…
- Trong một số trường hợp chủ thể HĐDVPL không kiểm soát được kết quả công
việc. Gồm:
Trường hợp việc thực hiện bị phụ thuộc vào hoạt động của bên thứ ba
Đối với những loại hình DVPL khi thực hiện bị phụ thuộc vào hoạt động của bên
thứ ba thì chủ thể HĐDVPL bị phụ thuộc vào bên thứ ba ngay từ giai đoạn bàn bạc,
thương lượng để đi đến ký kết HĐDVPL. Giai đoạn này, hai bên chủ thể đã phải chú ý
để điều chỉnh những điều khoản của HĐDVPL phù hợp với quy định của pháp luật về
tổ chức và hoạt động của bên thứ ba. Có như vậy thì thỏa thuận của chủ thể HĐDVPL
mới hợp pháp và đảm bảo khả năng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Trong quá trình
thực hiện HĐDVPL, nhiều DVPL là những hoạt động phối hợp với hoạt động của bên
thứ ba trong một hoạt động tổng thể nhất định vì thế kết quả công việc nằm ngoài sự
kiểm soát của chủ thể hợp đồng và phụ thuộc có chất quyết định vào chất lượng hoạt
động của bên thứ ba trong đó có các yếu tố chủ yếu như chất lượng của nền hành
chính nhà nước và nền tư pháp. Bởi lẽ, kết quả công việc không chỉ là kết quả thực
1.1.4.1. Căn cứ vào loại hình tổ chức hành nghề cung cấp DVPL
HĐDVPL có thể chia thành 5 loại: HĐDVPL của tổ chức hành nghề luật sư;
HĐDVPL của tổ chức hành nghề công chứng; HĐDVPL của tổ chức hành nghề Thừa
phát lại; HĐDVPL của Trung tâm tư vấn pháp luật và HĐDVPL của các tổ chức khác.
1.1.4.2. Căn cứ vào nội dung của HĐDVPL
HĐDVPL có thể chia thành 8 loại: hợp đồng dịch vụ tranh tụng, hợp đồng dịch
vụ tư vấn pháp luật, hợp đồng dịch vụ công chứng, hợp đồng dịch vụ lập vi bằng, hợp
đồng dịch vụ tống đạt giấy tờ của tòa án và cơ quan thi hành án, hợp đồng xác minh
điều kiện thi hành án, hợp đồng thi hành án và HĐDVPL khác.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung điều chỉnh vấn đề giao kết và thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý.
1.2.1. Pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp
lý.
13
Theo Điều 518 BLDS thì Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo
đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch
vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
Như vậy hoạt động dịch vụ pháp lý không chỉ chịu sự điều chỉnh của bộ LDS mà
còn chịu sự điều chỉnh của LTM năm 2005. Tùy từng lĩnh vực cụ thể như giám định,
tư vấn, đấu thầu, xúc tiến thương mại chịu sự điều chỉnh của các qui định cụ thể khác
nhau. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có qui định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có
qui định khác với quy định của LTM, BLDS thì áp dụng quy định của Điều ước quốc
tế. Các bên trong giao dịch nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài,
tập quán quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái
với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Như vậyHĐDVPL chịu sự điều chỉnh của LTM 2005, BLDS 2005, Điều ước
quốc tế và tập quán thương mại quốc tế có liên quan.
1.2.2. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng
dịch vụ pháp lý.
mại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
trở thành thương nhân.
Ngoài ra, chủ thể của hợp HĐDV có thể là chi nhánh của thương nhân nước
ngoài. Theo khoản 3, điều 19, LTM 2005 thì chi nhánh của thương nhân nước ngoài
có quyền giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động quy định
trong giấy phép thành lập chi nhánh và theo quy định của pháp luật.
• Đối tượng của hợp đồng
Đối tượng của HĐDV là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật
cấm, không trái với đạo đức xã hội. Theo điều 75, LTM 2005, thương nhân có quyền
cung ứng các dịch vụ sau: cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng
trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử
dụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam và sử
dụng trên lãnh thổ nước ngoài; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt nam
sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.
• Hình thức của hợp đồng
Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập bằng
hành vi cụ thể.
15
- Đối với các loại hợp HDVĐ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn
bản thì phải tuân theo các quy định đó.
16
• Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận của các bên. Các bên có
thể thỏa thuận về các nội dung chủ yếu (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005) như:
+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không
được làm
+ Số lượng, chất lượng
+ Giá, phương thức thanh toán
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
+ Quyền, nghĩa vụ của các bên
có yêu cầu cần giữ bí mật về thông tin mà mình biết thì trong quá trình cung ứng dịch
vụ phải giữ bí mật theo đúng thỏa thuận. Trường hợp mất mát, hư hỏng tài liệu, phương
tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin thì phải bồi thường thiệt hại.
5
Để thực hiện tốt công việc của mình, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu
khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện có liên quan. Hoặc được thay đổi
điều kiện dịch vụ vì lợi ích của khách hàng mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của
khách hàng, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, nhưng phải báo ngay
cho khách hàng.
6
Theo điều 82, LTM 2005 quy định về thời hạn hoàn thành dịch vụ. Cụ thể: bên
cung ứng dịch vụ phải hoàn thành đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạn hoàn thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch
vụ phải hoàn thành dịch vụ trong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất cả các
điều kiện và hoàn cảnh mà bên cung ứng dịch vụ biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu cụ thể nào của khách hàng có liên quan đến thời gian
hoàn thành dịch vụ. Trường hợp một dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi khách
hàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cung
ứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều
kiện đó được đáp ứng.
Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoàn
thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng
dịch vụ theo nội dung đã thỏa thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ (khách hàng):
Khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền cung ứng dịch vụ như đã
thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho
5
Điều 78, LTM 2005 & Điều 522 , BLDS 2005 về: “Nghĩa vụ của bên cung ứng
dịch vụ”
6
hội: Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng. Theo nguyên tắc
này thì các bên đủ tư cách chủ thể có quyền tự do quyết định việc giao kết hợp đồng
theo ý muốn chủ quan và vì lợi ích của chính họ. Các bên chủ thể có quyền tự do lựa
chọn việc giao kết với ai, với nội dung như thế nào, hình thức ra sao. Mọi cam kết thoả
7
Điều 520, BLDS 2005 về: “Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ”
8
Điều 521, BLDS 2005 về: “Quyền của bên thuê dịch vụ”
9
Điều 389, BLDS 2005 về “Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự”
19
thuận hợp pháp đều được nhà nước bảo hộ và khi không có sự tự nguyện của các bên
có thể bị tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, sự tự do đó không được trái với pháp luật và
đạo đức xã hội. Khi đó thì hợp đồng giao kết mới được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Thứ hai, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay
thẳng: Theo nguyên tắc này các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng và
bảo đảm nội dung của quan hệ đó. Hợp đồng phải thể hiện được sự tương ứng về
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các bên. Các bên khi giao kết không được đe
dọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng với mình mà không theo ý chí của họ. Nếu
phát hiện hợp đồng được giao kết mà bị đe dọa, cưỡng ép, lừa dối để giao kết thì hợp
đồng đó sẽ bị vô hiệu.
Bên cạnh đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thể
hiện rõ thái độ trung thực và ngay thẳng. Trung thực và ngay thẳng có nghĩa là các
phải nói rõ cho nhau biết về tình trạng và đặc tính của đối tượng, không được lừa dối
nhau, nếu che dấu khuyết tật của đối tượng hợp đồng nhằm mục đích tư lợi mà gây
thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường.
Ngoài ra, các bên phải có tinh thần hợp tác lẫn nhau. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng, các bên tương trợ, giúp đỡ và thông tin cho nhau để đáp ứng nhu cầu và bảo đảm
lợi ích cho các bên. Theo nguyên tắc này, các bên phải luôn quan tâm đến nhau, tạo điều
kiện giúp nhau khắc phục khó khăn trong quá trình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Hơn
cạnh những quy định chung về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005 thì LTM 2005
cũng chứa đựng rất nhiều những quy định về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Ngoài ra còn
một số các văn bản dưới luật khác như thông tư 06/2003/TT-BTP ngày 29 tháng 10
năm 2003 qui định về DVPL nước ngoài tại Việt Nam, Luật công chứng năm 2006,
nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009, về thí điểm thực hiện thừa phát
lại tại thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba, nhóm các quy định về hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài: (điển
hình là hiệp định về thương mại dịch vụ GATS) Cùng với tiến trình tự do hóa thương
mại, Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nên việc thực hiện các giao dịch
có yếu tố nước ngoài là tương đối phổ biến. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
21
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước
ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của LTM
2005, BLDS 2005 thì áp dụng qui định của Điều ước quốc tế. Các bên trong giao dịch
nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu pháp
luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam.
2.2. Thực trạng các qui phạm pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý.
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Đáp ứng nhu cầu hội nhập của nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt là khi
Việt Nam trở thành thành viên của WTO, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi pháp luật
cho phù hợp với nhu cầu thực tế, trong đó có Luật luật sư theo đó ban hành các quy
định phù hợp với các loại hình luật sư trên thế giới, nhằm giúp cho pháp luật của
chúng ta được thi hành một cách triệt để và chuyên nghiệp. Theo đó, hình thức tổ chức
hành nghề luật sư được mở rộng so với trước kia và phù hợp với thế giới, cụ thể là: tại
điểm b khoản 1 Điều 32 Luật luật sư năm 2006 qui định: Các luật sư có thể hành nghề
luật sư dưới dạng Công ty Luật. Như vậy không giới hạn là Văn phòng luật sư hay
Công ty hợp danh như trước kia mà bây giờ có thêm Công ty trách nhiệm hữu hạn 1
thành viên hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên (theo quy định tại