Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị, cô chú công tác tại công ty TNHH
Nissin Logistics Việt Nam đã tận tình chỉ bảo, giúp em phần nào hiểu được thực tế
của quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển. Đây chính là cơ sở giúp
em hoàn thiện, phát triển những kiến thức thu được khi còn ngồi trên ghế nhà
trưởng.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo hướng dẫn là
TS. Nguyễn Bích Thủy, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Tuy nhiên, do sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn cũng như
sự giới hạn về thời gian, bài viết của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
xót cả về nội dung lẫn hình thức. Em mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý quý báu
của các thầy cô và các bạn để giúp em trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
MỤC LỤC
Cơ cấu doanh thu của công ty TNHH Nissin Logistics VN
Bảng 3.3
Sản lượng khai thác hàng năm của công ty TNHH Nissin Logistics VN
(2013-2015)
Quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển của công ty TNHH Nissin
Sơ đồ 3.2
Bảng 4.1
Logistics VN
Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Nissin Logistics (2016-2020)
3
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
STT
1
2
3
4
1
Viết đầy đủ
Association of
Nghĩa Tiếng Việt
Southeast Asian
ASEAN
Nations
Asia Pacific
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Economic
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
APEC
Cooperation
World Trade
Dương
WTO
Organization
Khu vực Mậu dịch Tự
Arrival
Estimated Time of
Ước tính thời gian tàu đến
ETD
POL
POD
Delivery
Port of loading
Port of discharging
Inland Container
Ước tính thời gian giao hàng
Cảng bốc hàng
Cảng dỡ hàng
ICD
Depot
Cost, Insurance and
Cảng nội địa
CIF
CO.,LTD
C/O
USD
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Để xây dựng đất nước giàu mạnh và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa khu
vực, hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta không thể xem nhẹ hoạt động ngoại thương vì
nó đảm bảo sự giao lưu hàng hóa, thông thương với các nước bè bạn năm châu, giúp
chúng ta khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của cả nguồn lực bên trong và
bên ngoài. Nhắc đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chúng ta không thể không
nhắc đến dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế.
Trong các hình thức giao nhận, hình thức giao nhận bằng đường biển vẫn là phát
triển nhất ở Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân của sự phát triển dịch vụ giao nhận bằng
đường biển ở Việt Nam như nước ta có chiều dài đường biển lớn, vận tải đường biển
có thể vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn, chi phí không cao và quãng đường vận
chuyển dài… Đó là những ưu điểm mà nhiều phương thức vận chuyển khác khó có thể
có được. Vận chuyển đường biển thậm chí làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị
trường trong buôn bán quốc tế.
Tuy nhiên dịch vụ giao nhận đường biển vẫn còn là một ngành khá mới mẻ đối
với các doanh nghiệp Việt Nam, với nhiều bất cập mà nổi trội là chất lượng của hoạt
động cung cấp dịch vụ giao nhận. Làm sao để các công ty có thể cung cấp được những
1.2.
Nissin Logistics Việt Nam”.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài cùng với thực trạng quy trình giao hàng
xuất khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH Nissin Logistics Việt Nam, em thấy rằng
một quy trình dù giản đơn hay phức tạp, hiện đại hay cơ bản khó có thể hoạt động hiệu
quả trong mọi điều kiện mà nó cần phải được hoàn thiện theo thời gian, cho phù hợp
với từng hoàn cảnh, nhu cầu hiện tại,
Khi lựa chọn đề tài này, em đã tìm hiểu một số khóa luận của các sinh viên khóa
trước và thấy có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
của hoạt động giao nhận hàng hóa của doanh nghiệp như:
- Quản trị quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty cổ phần
thương mại và vận chuyển Châu Giang (Nguyễn Thị Hoài Thanh, năm 2008)
- Hoàn thiện quy trình giao hàng xuất khẩu vận chuyển bằng đường biển tại
công ty TNHH ELS (Nguyễn Thị Hợp, năm 2009)
Các vấn đề được nghiên cứu qua các đề tài này chưa thực sự được đặt trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, với sự thay đổi của hoạt động giao nhận nói riêng và
hoạt động ngoại thương nói chung. Mặt khác, các bài viết này chưa đưa ra được những
giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển, từ đó
đẩy mạnh hoạt động giao nhận nói chung.
Vì vậy, từ việc nghiên cứu các tài liệu cùng với quá trình thực tập tại công ty
TNHH Nissin Logistics Việt Nam, nhận thấy đề tài “Hoàn thiện quy trình giao hàng
xuất khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH Nissin Logistics Việt Nam” là một đề tài
rất cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
1.3.
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu các vấn đề sau:
bằng đường biển tại công ty TNHH Nissin Logistics Việt Nam. Trong đó nghiên cứu
về công ty TNHH Nissin Logistics Việt Nam với vai trò là người môi giới hải quan, là
đại lý và là người gom hàng.
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu nghiệp vụ giao hàng xuất khẩu bằng đường
biển của công ty TNHH Nissin Logistics Việt Nam và lấy số liệu trong 3 năm, từ 20132015. Giải pháp cho đề tài được định hướng áp dụng trong 5 năm, từ 2016- 2020.
- Về không gian: đề tài nghiên cứu tại công ty TNHH Nissin Logistics Việt Nam
Địa chỉ: Phòng 201, Tòa Nhà Ocean Park Số 1 Đào Duy Anh, Q. Đống Đa, Hà
Nội
1.6. Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Nguồn dữ liệu này được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau:
- Dữ liệu tại thư viện của trường đại học Thương mại: gồm các luận văn chuyên
đề về đề tài giao nhận vận tải đường biển.
- Các dữ liệu trên internet: trang web của công ty, trang web về hải quan như
diễn đàn vietship.com, hoặc trang web về luận văn chuyên đề.
- Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng như một số tài liệu liên quan
đến hoạt động của công ty.
Từ việc tìm kiếm các dữ liệu này ta có thể: xây dựng đúng kết cấu của khóa
luận, tìm hiểu và nghiên cứu được lý thuyết liên quan đến đề tài, đánh giá chung được
tình hình hoạt động của công ty.
1.6.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
Nguồn dữ liệu này được nghiên cứu qua 2 phương thức sau:
- Quan sát: phương pháp này nhằm giúp người nghiên cứu thấy rõ quy trình hoạt
động tại công ty, và quan sát này được tiến hành trong quá trình thực tập tại công ty
- Phỏng vấn trực tiếp: phương pháp này sẽ được thiết kế nhằm giúp người
nghiên cứu thấy rõ được thực trạng thực hiện quy trình giao hàng xuất khẩu bằng
đường biển tại công ty. Đây sẽ là những dữ liệu quan trọng trong quá trình thực hiện đề
tài. Các câu hỏi phỏng vấn trực tiếp nhằm tìm hiểu sâu hơn về hoạt động giao hàng
xuất khẩu đường biển.
Khoa Thương mại quốc tế
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY TRÌNH GIAO HÀNG
XUẤT KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
2.1 Khái quát về giao hàng xuất khẩu
2.1.1 Khái niệm về giao hàng xuất khẩu
2.1.1.1. Khái niệm về giao hàng
Trong hoạt động thương mại quốc tế, người bán và người mua thường ở cách xa
nhau. Sau khi hợp đồng được kí kết, người bán thực hiện việc giao hàng, nghĩa là hàng
hóa phải di chuyển từ nước người bán sang nước người mua. Để cho quá trình vận
chuyển được bắt đầu, tiếp tục, kết thúc, tức là hàng hóa đến được với người mua, thì
cần thực hiện hàng loạt các công việc khác liên quan đến quá trình vận chuyển như đưa
hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp/ dỡ, giao hàng cho người nhận ở nơi
đến. Tất cả những công việc này được gọi chung là nghiệp vụ giao hàng..
Dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding Service), theo Quy tắc mẫu của FIATA
về dịch vụ giao nhận, “là bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng,
lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có
liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm,
thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”.
Theo Luật Thương mại 1997, “giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo
đó người làm dịch vụ giao nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu
bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người
nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người giao nhận khác”.
Như vậy, giao hàng là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá
trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng)
đến nơi nhận hàng (người nhận hàng), trong đó người giao hàng ký hợp đồng vận
chuyển với chủ hàng, đồng thời cũng ký hợp đồng đối ứng với người vận tải để thực
hiện dịch vụ. Người giao hàng có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông
qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác.
Trước đây, người giao hàng là một đại lý thay mặt người xuất khẩu thực hiện
các công việc thông thường như bốc/ dỡ hàng hóa, lưu kho hàng hóa, sắp xếp viêc vận
chuyển trong nước…
Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và của các phương thức vận
chuyển khác nhau trong nhiều năm qua mà việc giao hàng cũng được mở rộng hơn.
Ngày nay, người giao hàng không chỉ lưu khoang tàu (booking space) hay khai hải
quan (customs clearance) mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải
và phân phối hàng hóa.
Trong nhiều nước, người giao hàng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như
“Đại lý hải quan”, “Đại lý khai hải quan”, “Người môi giới hải quan”, “Đại lý gửi hàng
và giao hàng”, …nhưng dù gọi bằng tên gì đi nữa, người giao hàng vẫn chỉ là người
bán dịch vụ.
2.1.2.2. Vai trò của người giao hàng
Người giao hàng với những thoả thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình
(người xuất khẩu) những công việc sau:
- Lựa chọn truyến đường vận tải.
- Ðặt/ thuê địa điểm để đóng hàng theo yêu cầu của người vận tải.
- Giao hàng hoá và cấp các chứng từ liên quan (như: biên lai nhận hàng - the
Forwarder Certificate of Receipt hay chứng từ vận tải - the Forwarder Certificate of
Transport).
- Nghiên cứu các điều kiện của thư tín dụng (L/C) và các văn bản luật pháp của
chính phủ liên quan đến vận chuyển hàng hoá của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, kể
cả các quốc gia chuyển tải (transit) hàng hoá, cũng như chuẩn bị các chứng từ cần thiết.
11
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Tuỳ theo chức năng của người giao hàng xuất khẩu, người giao hàng phải thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải chịu trách nhiệm
về:
- Giao hàng không đúng chỉ dẫn.
- Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hoá mặc dù đã có hướng dẫn.
- Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan.
- Chở hàng đến sai nơi quy định.
- Giao hàng cho người không phải là người nhận.
- Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng.
- Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế.
- Những thiệt hại về tài sản và người của người thứ ba mà anh ta gây nên.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý người giao nhận không chịu trách nhiệm về
hành vi lỗi lầm của người thứ ba như người chuyên chở hoặc người giao nhận khác...
12
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
nếu anh ta chứng minh được là đã lựa chọn cần thiết. Khi là đại lý người giao hàng
phải tuân thủ “Điều kiện Kinh doanh tiêu chuẩn” (Standard Trading Conditions) của
mình.
b, Khi là người chuyên chở
Khi là một người chuyên chở, người giao hàng xuất khẩu đóng vai trò là một
nhà thầu độc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ mà khách
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
doanh nghiệp trong lĩnh vực giao hàng. Muốn vậy phải đầu tư thích đáng cơ sở vật
chất, xây dựng và hoàn chỉnh các định mức, các tiêu chuẩn hao phí, đào tạo đội ngũ
cán bộ nghiệp vụ.
2.1.4 Các chủ thể tham gia vào quy trình giao hàng xuất khẩu
Các chủ thể tham gia vào quy trình giao hàng xuất khẩu bao gồm:
- Người xuất khẩu: là người ủy thác cho người khác thực hiện công tác giao
hàng xuất khẩu.
- Người giao hàng: là người nhận sự ủy thác của các doanh nghiệp có nhu cầu
xuất khẩu hàng hóa
- Các ga, cảng chịu trách nhiệm giao nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, xếp dỡ
- Các công ty vận tải vận chuyển hàng hóa
- Các công ty đại lý tàu biển là người thay mặt cho người vận chuyển thực hiện
các thủ tục chứng từ liên quan đến giao và vận chuyển hàng hóa
- Công ty bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi
thường cho hàng hóa nếu có rủi ro xảy ra.
- Ngân hàng là trung gian thực hiện nghiệp vụ thanh toán và bảo lãnh.
- Các cơ quan chức năng đại diện cho Chính phủ như: Bộ Thương mại, cơ
quan hải quan, cơ quan giám định, cơ quan quản lý ngoại hối, kiểm dịch, y tế,…
2.2 Khái niệm, đặc điểm, cở sở pháp lý và nguyên tắc giao hàng xuất khẩu
bằng đường biển
2.2.1 Khái niệm giao hàng xuất khẩu bằng đường biển
cụ khác.
- Thường sử dụng các thiết bị đặc trưng: container, xe đầu kéo, rơ mooc,.. để đóng
gói, vận chuyển hàng hóa. Nơi diễn ra hoạt động giao hàng thường là các cảng biển.
- Giao hàng xuất khẩu bằng đường biển đòi hỏi nhiều loại chứng từ khác nhau.
Tuy nhiên, vận tải đường biển cũng có những hạn chế nhất định:
- Đi qua nhiều khu vực chính trị, xã hội khác nhau, do đó chịu chi phối bởi các
luật lệ, tập quán của các nước, các khu vực khác nhau.
- Quy trình tổ chức chuyên chở khá phức tạp, tốc độ chậm,…
- Vận tải đường biển không thích hợp với chuyên chở hàng hóa đòi hỏi thời gian
giao hàng nhanh do quá trình chuyên chở bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro,
nguy hiểm (phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết, khí hậu,…)
2.2.3 Cơ sở pháp lý, nguyên tắc giao hàng xuất khẩu tại cảng biển
2.2.3.1 Cơ sở pháp lý
Việc giao hàng hoá xuất khẩu phải dựa trên cơ sở pháp lý như: các quy phạm
pháp luật quốc tế (các công ước về vận đơn, vận tải, công ước về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế…), các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt nam về giao
nhận vận tải, các loại hợp đồng và L/C… thì mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng xuất
nhập khẩu.
* Các quy phạm pháp luật quốc tế có thể kể ra như:
- Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế.
- Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, ký tại
Brussels ngày 25/08/1924.
- Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận
đơn đường biển (Nghị định thư Visby 1968).
15
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
trong một thời gian nhất định khối lượng hàng hoá ghi trên chứng từ.
Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan....
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa ở bên trong nếu bao, kiện hoặc dấu
xi, chì vẫn còn nguyên vẹn và không chịu trách nhiệm về những hư hỏng, mất mát mà
người nhận phát hiện ra sau khi đã ký nhận với cảng.
- Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện.
Trường hợp chủ hàng hoặc người vận chuyển muốn đưa người và phương tiện vào
cảng xếp dỡ thì phải được cảng đồng ý và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho
cảng.
- Cảng có trách nhiệm bảo quản hàng hóa lưu tại kho, bãi cảng theo đúng kỹ
thuật và thích hợp với từng vận đơn, từng lô hàng. Nếu phát hiện thấy tổn thất của hàng
16
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
hóa đang lưu kho bãi, cảng phải báo ngay cho chủ hàng biết, đồng thời áp dụng các
biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất.
- Việc xếp dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hóa tại cảng được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng ký kết giữa cảng và chủ hàng hoặc người vận chuyển hoặc người được ủy
thác.
2.3 Quy trình giao hàng xuất khẩu vận chuyển bằng đường biển
Quy trình giao hàng xuất khẩu gồm các bước nghiệp vụ: nhận yêu cầu từ khách
hàng, hỏi giá/ chào giá cho khách hàng, liên hệ hãng tàu để đặt chỗ, chuẩn bị chứng từ
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
Nhân viên kinh doanh căn cứ vào giá chào của các hãng tàu tính toán chi phí và
tiến hành chào giá cho khách hàng. Các giao dịch liên quan đến giá cả và lịch trình tàu
đều phải lưu lại để đối chứng khi cần thiết. Nếu giá cước và lịch trình tàu chạy đưa ra
được khách hàng chấp nhận thì khách hàng sẽ gửi Booking request (yêu cầu đặt chỗ)
cho bộ phận kinh doanh. Booking request này xác nhận lại thông tin hàng hóa liên
quan: Người gửi hàng, người nhận hàng, tên hàng, trọng lượng, loại container, nơi
đóng hàng (đóng kho người gửi hàng hay đóng tại bãi container của cảng), cảng hạ
container có hàng để thông quan xuất khẩu, cảng đến (nước nhập khẩu), ngày tàu
chạy...
2.3.3. Liên hệ với hãng tàu để đặt chỗ
Bộ phận kinh doanh sẽ căn cứ trên Booking note của khách hàng và gửi
Booking note đến hãng tàu để đặt chỗ. Sau đó hãng tàu sẽ xác nhận việc đặt chỗ đã
thành công cho bộ phận kinh doanh bằng cách gửi Booking confỉmation. Booking
confirmation chứa đựng những thông tin cần thiết như sau: Số booking, tên tàu, cảng
xếp hàng (port of loading), cảng dỡ hàng (port of discharge), giờ cắt máng,...
Sau khi có Booking confirmation của hãng tàu, nhân viên kinh doanh sẽ gửi
Booking này cho khách hàng để họ sắp xếp đóng hàng và làm thủ tục xuất khẩu.
Trường hợp khách hàng sử dụng dịch vụ khai thuê hải quan và vận chuyển nội địa của
công ty thì khách hàng sẽ gửi thông tin chi tiết lô hàng xuất khẩu, thời gian đóng hàng
cho bộ phận giao nhận của công ty. Sau khi tiếp nhận hân viên phòng giao nhận sẽ theo
dõi và phối hợp với khách hàng để sắp xếp đưa container rỗng đến đóng hàng và vận
chuyển ra cảng hoặc vận chuyển hàng đến đóng vào container ở cảng. Sau đó tiến hành
- Giấy đăng ký kinh doanh: bản sao y kèm bản chính đối chiếu (nếu doanh
nghiệp mới xuất khẩu lần đầu)
- Giấy giới thiệu của công ty xuất khẩu: 1 bản
Khi đã chuẩn bị hoàn chỉnh hồ sơ, nhân viên giao nhận mang bộ hồ sơ đó đến
cơ quan hải quan để đăng ký hải quan. Nhân viên tiếp nhận sẽ kiểm tra bộ hồ sơ, nếu
thấy đầy đủ sẽ ký và đóng dấu vào giấy đăng ký. Một sai sót nhỏ trong bộ chứng từ
cũng sẽ ảnh hưởng đến tiến độ giao nhận của lô hàng. Vì vậy, để quá trình được diên ra
trôi chảy đòi hỏi nhân viên phải làm việc hết sức cẩn thận và chuyên nghiệp.
Khi hàng đến cảng, nhân viên giao nhận sẽ đưa nhân viên hải quan đến vị trí
container và tiến hành kiểm tra hàng.
2.3.5. Thông quan hàng xuất khẩu
Dựa trên những chứng từ mà khách hàng cung cấp cũng như những thông tin về
hàng hóa mà công ty thu thập được, nhân viên chứng từ sẽ dùng phần mềm khai báo
hải quan điện tử “ECUSS/ VNACCS” để truyền số liệu tờ khai hải quan qua mạng.
Nếu truyền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số
19
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
tờ khai và phân luông hàng hóa. Nhờ bước cải tiến này mà thời gian làm thủ tục nhanh
hơn so với thủ công trước đây vì nhân viên hải quan không phải nhập lại số liệu trên tờ
khai vào máy.
2.3.6. Phát hành vận đơn
20
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
và chuyển cho bộ phận kế toán để theo dõi thu công nợ. Chỉ khi nào người gửi hàng
thanh toán cước phí và các khoản phí liên quan (Bill fee, Seal fee,...) thì nhân viên
chứng từ mới cấp phát vận đơn cho họ.
Trong trường hợp cước phí trả sau (freight collect) nhân viên chứng từ sẽ làm
Debit note (giấy báo nợ) thu cước người nhận hàng gửi đại lý tại cảng đến nhờ thu hộ,
người gửi hàng chỉ đóng phụ phí tại Việt Nam và nhận vận đơn.
Sau khi hoàn thành thut tục xong, người giao nhận sẽ trả lại chứng từ cho khách
hàng và công ty cũng lưu 1 bộ.
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giao hàng xuất khẩu bằng đường biển
2.4.1 Các yếu tố bên ngoài
- Môi trường kinh tế
Như chúng ta đã biết, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa có quan hệ mật thiết
với hoạt động giao nhận hàng hóa. Điều này xuất phát từ môi trường kinh tế quốc tế, sự
biến động của nền kinh tế thế giới nói chung sẽ ảnh hưởng tới nến kinh tế Việt Nam và
kéo theo đó là ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước. Và quan
trọng hơn, nó có tác động không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu và nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận
- Môi trường chính trị - pháp luật
Những biến động phức tạp trong môi trường chính trị và pháp luật sẽ tạo ra cơ
hội và rủi ro đối với doanh nghiệp. Về chính trị, trong những năm gần đây tình hình bất
trong hoạt động giao hàng xuất khẩu là một giải pháp quan trọng khi đứng trước thách
thức này.
- Khách hàng
Khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, đồng thời cũng là một trong những
lực lượng chi phối mang tính quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với hoạt động giao hàng xuất khẩu, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thì
sự hài lòng của khách hàng sẽ là chỉ tiêu quan trọng giúp cho doanh nghiệp duy trì hoạt
động.
2.4.2 Các yếu tố bên trong
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào cũng đều là yếu tố
quyết định sự thành công của doanh nghiệp đó trên thương trường. Đối với hoạt động
giao hàng xuất khẩu thì trình độ kinh nghiệm, kiến thức của đội ngũ giao nhận là yếu tố
đáng được quan tâm nhất. Doanh nghiệp nào có được đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp
vụ, thông thạo các tuyến đường, nắm vững mức cước trên thị trường với từng dịch vụ,
thông tường luật phát, có kiến thức về tính chất hàng hóa, có khả năng thuyết phục
khách hàng thì doanh nghiệp đó sẽ thành công.
- Cơ sở vật chất
Cơ sở vật vật chất là một trong những yếu tố quyết định tới quy mô và chất
lượng của hoạt động giao hàng xuất khẩu. Vì vậy các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
giao nhận cần phải đầu tư các phương tiện hệ thống kho bãi, xây dựng trang thiết bị,
ứng dụng hệ thống thông tin nhằm mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động, từ
đó đáp ứng tối đa nhu cầu của mọi khách hàng.
- Nguồn tài chính
Nguồn tài chính cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động
giao hàng xuất khẩu và giúp cho doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh của mình.
Một doanh nghiệp có nguồn tài chính ổn định sẽ trở thành sự lựa chọn của nhiều khách
hàng hơn, sẽ tạo niềm tin cho khách hàng, có thể chủ động hơn trong nghiệp vụ thanh
toán, đáp ứng được nhu cầu mở rộng và phát triển quy mô hoạt động khi cần đầu tư các
trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động giao hàng xuất khẩu.
pháp nhân, có con dấu riêng, hạch toán độc lập. Cũng như các Công ty dịch vụ khác,
công ty luôn hoạt động theo phương châm: “Đảm bảo uy tín, phục vụ nhanh chóng, an
toàn chất lượng, mọi lúc mọi nơi, giá cả cạnh tranh” làm phương châm phục vụ khách
hàng. Công ty đã tạo dựng cho mình một vị thế khá vững trong ngành dịch vụ giao
nhận hàng hóa xuất nhập khẩu và đã được nhiều khách hàng lớn cả trong, ngoài nước
tin cậy và chọn lựa.
3.1.1.2. Lĩnh vực kinh doanh
Công ty hoạt động chủ yếu trong 5 ngành nghề kinh doanh sau:
• Hoạt động vận tải quốc tế đường biển
• Hoạt động vận tải đường không
• Đại lý giao nhận vận tải
• Dịch vụ giao nhận
• Dịch vụ lưu kho bãi
3.1.1.3. Cơ cấu tổ chức
Là một công ty chuyên về dịch vụ, Nissin Logistics VN không cần quá nhiều
nhân sự nhưng tất cả liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi người được phân bổ một nhiệm vụ
rõ ràng cụ thể, kết nối công việc của từng người thành một công việc. Hoạt động từng
23
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
thành viên ở công ty đều được chỉ dẫn và giám sát của Giám đốc với một cơ cấu tổ
chức gọn nhẹ, đơn giản mà hoạt động rất hữu ích.
tàu, hãng hàng không để có giá cước tốt nhất cho khách hàng … Sau đó tiến hành xem
xét và báo giá, hai bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng giao nhận.
Phòng giao nhận
24
GVHD: TS.Nguyễn Bích Thủy
SVTH: Đỗ Thị Hạnh Ngân
Trường Đại học Thương Mại
Khoa Thương mại quốc tế
Thực hiện tất cả các nội dung công việc trong hoạt động kinh doanh XNK: từ
khi lên chứng từ đến khi hoàn tất thủ tục xuất hàng đi nước ngoài hoặc nhập hàng về
kho của doanh nghiệp đăng ký làm dịch vụ; giải quyết mọi vướng mắc của khách hàng
một cách nhanh gọn và dứt điểm cho từng lô hàng; tiết kiệm chi phí mức thấp nhất, tạo
uy tín tốt đối với khách hàng.
Phòng chứng từ
Quản lý lưu trữ chứng từ và các công văn, soạn thảo bộ hồ sơ Hải quan, các công
văn cần thiết giúp cho bộ phận giao nhận hoàn thành tốt công việc được giao. Thường
xuyên theo dõi quá trình làm hàng, liên lạc tiếp xúc với khách hàng để thông báo những
thông tin cần thiết cho lô hàng. Theo dõi booking hàng hóa, thông báo tàu đến, tàu đi cho
khách hàng, chịu trách nhiệm phát hành vận đơn, lệnh giao hàng...
Phòng kế toán
Phụ trách công việc thu chi của công ty, hoạch toán đầy đủ các nghiệp vụ kế
toán phát sinh, báo cáo các số liệu chính xác định kỳ, theo dõi và tổ chức cho hoạt
động kinh doanh liên tục và hiệu quả, chi tạm ứng cho nhân viên giao nhận hoàn thành
công tác. Cung cấp các số liệu, thông tin phục vụ công tác dự báo.