Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị, cô chú công tác tại công ty TNHH
Scanwell logistics Việt Nam đã tận tình chỉ bảo, giúp em phần nào hiểu được thực
tế của quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển. Đây chính là cơ sở giúp em
hoàn thiện, phát triển những kiến thức thu được khi còn ngồi trên ghế nhà trưởng.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn là PGS.TS.
Nguyễn Văn Minh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp này.
Tuy nhiên, do sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn cũng như sự
giới hạn về thời gian, bài viết của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót
cả về nội dung lẫn hình thức. Em mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý quý báu của
các thầy cô và các bạn để giúp em trong quá trình nghiên cứu và công tác sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Hương
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, MÔ HÌNH
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CRM Customer Relationsip Management Quản trị mối quan hệ khách hàng
FIATA Fédération internationale des associa-
tions de transitaires et assimilés
Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao
nhận
ROPMIS Resources – Outcomes - Process –
Management – Image – Social
responsibility
cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường giao nhận trong buôn bán quốc tế. Tuy nhiên dịch
vụ giao nhận đường biển vẫn còn là một ngành khá mới mẻ đối với các doanh
nghiệp Việt Nam, với nhiều bất cập mà nổi trội là chất lượng của hoạt động cung
cấp dịch vụ giao nhận.
Scanwell logistics Việt Nam là một trong số các công ty tham gia vào lĩnh vực
này với nhiều loại hình dịch vụ đa dạng, nhưng giao nhận bằng đường biển vẫn
được chú trọng nhất. Qua quá trình thực tập tại công ty, nhận thấy rằng chất lượng
của quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển là một vấn đề cần được quan
tâm và xem xét. Đây là một vấn đề cấp thiết không chỉ đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn (TNHH) Scanwell logistics Việt Nam mà còn đối với hầu hết các công ty
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
giao nhận nói chung khi đứng trước bối cảnh hội nhập cùng với sự gia tăng nhu cầu
xuất khẩu, sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Nhận thức được tầm quan trọng và thực trạng của quy trình giao nhận hàng
hóa nói chung và quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển nói riêng tại công
ty TNHH Scanwell logistics Việt Nam, tác giả đã quyết định nghiên cứu đề tài:
“Hoàn thiện quy trình giao hàng xuất khẩu vận chuyển bằng đường biển tại
công ty TNHH Scanwell logistics Việt Nam”.
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, hoạt động logistics nói chung và hoạt
động giao nhận nói riêng vẫn còn là lĩnh vực khá mới mẻ và cần được khai thác,
nâng cao, phát triển. Cho đến nay, đã có khá nhiều đề tài, công trình nghiên cứu của
sinh viên, giảng viên từ các trường đại học, cán bộ từ viện nghiên cứu liên quan đến
vấn đề nâng cao, đổi mới, phát triển hoạt động giao nhận, đặc biệt là đối với
phương thức vận tải bằng đường biển. Nhưng khả năng ứng dụng thực tế của các đề
tài này chưa thực sự đem lại hiệu quả cao. Đặc biệt là trong những năm trở lại đây,
với các luận văn của khoa Thương mại quốc tế - trường đại học Thương Mại, ta có
thể tìm thấy được một số đề tài nghiên cứu về mảng giao nhận vận tải hàng hóa xuất
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài đi sâu nghiên cứu nghiệp vụ giao hàng xuất khẩu tại
công ty TNHH Scanwell logistics Việt Nam, với cảng giao nhận là cảng Hải Phòng.
Trong đó nghiên cứu về công ty TNHH Scanwell logistics Việt Nam với vai trò là
người môi giới hải quan, là đại lý và là người gom hàng.
-Về thời gian: đề tài nghiên cứu nghiệp vụ giao hàng đường biển của công ty
TNHH Scanwell logistics Việt Nam và lấy số liệu trong 3 năm, từ 2009-2011. Giải
pháp cho đề tài được định hướng áp dụng trong 5 năm, từ 2013- 2018.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Nguồn dữ liệu này được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau:
- Dữ liệu tại thư viện của trường đại học Thương mại: gồm các luận văn
chuyên đề về đề tài giao nhận vận tải đường biển
- Các dữ liệu trên internet: trang web của công ty (scanwell.com), trang web
về hải quan như diễn đàn vietship.com, hoặc trang web về luận văn chuyên đề.
- Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng như một số tài liệu liên quan
đến hoạt động của công ty
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
3
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
Từ việc tìm kiếm các dữ liệu này ta có thể: xây dựng đúng kết cấu của khóa
luận, tìm hiểu và nghiên cứu được lý thuyết liên quan đến đề tài, đánh giá chung
được tình hình hoạt động của công ty.
1.6.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
Nguồn dữ liệu này được nghiên cứu qua 2 phương thức sau:
- Quan sát: phương pháp này nhằm giúp người nghiên cứu thấy rõ quy trình
hoạt động tại công ty, và quan sát này được tiến hành trong quá trình thực tập tại
công ty
- Phỏng vấn trực tiếp: phương pháp này sẽ được thiết kế nhằm giúp người
nghiên cứu thấy rõ được thực trạng thực hiện quy trình giao hàng xuất khẩu bằng
bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như cũng như các dịch vụ tư vấn
hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua
bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”.
Theo đó, ta có thể hiểu giao hàng xuất khẩu với ý nghĩa là một dịch vụ kinh
doanh như sau: Giao hàng xuất khẩu là một dịch vụ mà theo đó người làm dịch vụ
giao nhận sẽ thay mặt người xuất khẩu đứng ra thực hiện các nghiệp vụ nhận hàng,
gom hàng, tổ chức giao hàng, thực hiện các thủ tục chứng từ với các bên liên quan
và các dịch vụ khác nhằm đảm bảo hàng hóa được giao cho người vận tải vận
chuyển đến địa điểm quy định theo thỏa thuận với chủ hàng để hưởng thù lao.
Nói tóm lại, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến
giao hàng trong quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi
hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
2.1.1.2 Khái niệm về người giao nhận
Tuy đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất nào về người giao nhận được
quốc tế chấp nhận nhưng người ta thường hiểu người kinh doanh dịch vụ giao nhận
hay các doanh nghiệp giao nhận là người giao nhận.
Trước đây, người giao nhận thường chỉ làm đại lý thực hiện một số công việc
do các nhà xuất nhập khẩu uỷ thác như: xếp dỡ hàng hoá, lưu kho, chuẩn bị giấy
tờ, Với khái niệm giao nhận đang được ngày càng mở rộng và trong vai trò người
kinh doanh logistics như hiện nay, người giao nhận còn cung cấp những dịch vụ
trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá. Vì thế, người giao nhận
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
không chỉ còn được biết đến như là đại lý như trước kia mà còn như là người gom
hàng, người chuyên chở chính ,
2.1.2 Đặc điểm của dịch vụ giao hàng xuất khẩu
Dịch vụ giao hàng xuất khẩu mang những đặc điểm chung của một loại hình
dịch vụ, đó là một sản phẩm vô hình nên không có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
đồng nhất, không thể cất giữ, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, chất lượng
2.1.4 Các chủ thể tham gia vào quy trình giao hàng xuất khẩu
Giao nhận là một quá trình thực hiện hàng loạt các các nghiệp vụ khác nhau
liên quan đến quá trình tổ chức chuyên chở hàng hóa từ người gửi hàng đến người
nhận hàng. Quá trình giao hàng xuất khẩu thường bắt đầu khi người chủ hàng thực
hiện hay ủy thác cho người giao nhận và thanh toán xong cho mọi chi phí liên quan
đến giao nhận. Các chủ thể tham gia vào quy trình giao hàng xuất khẩu bao gồm:
- Người xuất khẩu: là người ủy thác cho người khác thực hiện công tác giao
hàng xuất khẩu.
- Người giao nhận: là người nhận sự ủy thác của các doanh nghiệp có nhu cầu
xuất khẩu hàng hóa
- Các ga, cảng chịu trách nhiệm giao nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, xếp dỡ
- Các công ty vận tải vận chuyển hàng hóa và sắp xếp thực hiện giao nhận
cùng với chuyến hàng
- Các công ty đại lý tàu biển là người thay mặt cho người vận chuyển thực
hiện các thủ tục chứng từ liên quan đến giao nhận và vận chuyển hàng hóa
- Công ty bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi
thường cho hàng hóa nếu có rủi ro xảy ra.
- Ngân hàng là trung gian thực hiện nghiệp vụ thanh toán và bảo lãnh.
- Các cơ quan chức năng đại diện cho Chính phủ như: Bộ Thương mại, cơ
quan hải quan, cơ quan giám định, cơ quan quản lý ngoại hối, kiểm dịch, y tế,…
2.1.5 Vai trò của giao nhận và người giao nhận trong thương mại quốc tế
Trước đây, khi sản xuất và lưu thông chưa phát triển, giao nhận là một khâu
trong quá trình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Khi sản xuất lưu thông phát triển
ở mức độ cao, hoạt động giao nhận được tách riêng thành một nghề. Hiện nay giao
nhận đã trở thành một ngành kinh doanh rất phát triển, sự ra đời của các công ty
giao nhận đã mang đến nhiều sự lựa chọn cũng như giá trị gia tăng cho khách hàng.
Và trong bối cảnh kinh tế phát triển như hiện nay, hoạt động giao nhận cũng như
người làm giao nhận càng đóng vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở:
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
7
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
- Bên cạnh luật pháp quốc tế, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến vận tải, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu như
Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990, Luật thương mại Việt Nam 2005…
- Các loại hợp đồng làm cơ sở cho hoạt động giao nhận bao gồm hợp đồng
mua bán ngoại thương, hợp đồng thuê tàu, hợp đồng ủy thác giao nhận, hợp đồng
bảo hiểm.
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc chung trong giao nhận
hàng hóa, bao gồm:
- Việc bốc dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng là do
cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy
thác với cảng. Người được chủ hàng ủy thác thường là người giao nhận.
- Đối với hàng không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì chủ hàng hoặc
người được ủy thác có thể giao nhận trực tiếp với tàu, chỉ thỏa thuận với cảng về địa
điểm bốc dỡ, thanh toán chi phí bốc dỡ và các chi phí phát sinh khác.
- Việc bốc dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng do cảng tổ chức thực hiện. Nếu
chủ hàng đưa phương tiện và nhân công vào cảng để bốc dỡ thì chủ hàng phải thỏa
thuận với cảng và phải trả lệ phí liên quan, nếu có.
- Khi được ủy thác nhận hàng từ tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức nào
thì phải giao hàng bằng phương thức ấy.
- Người giao nhận hàng phải xuất trình chứng từ hợp lệ xác nhận quyền được
nhận hàng và phải nhận liên tục trong một thời gian nhất định khối lượng hàng hóa
ghi trong chứng từ. Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa khi đã ra khỏi cảng.
- Việc giao nhận được tiến hành trên cơ sở ủy thác của chủ hàng tức là chủ
hàng ủy thác việc gì thì chỉ làm việc đó.
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giao hàng xuất khẩu vận chuyển bằng
đường biển
2.3.1 Các yếu tố bên ngoài
hoạt động chuyên nghiệp. Vì vậy hoàn thiện và nâng cao chất lượng của quy trình
thực hiện trong hoạt động giao hàng xuất khẩu là một giải pháp quan trọng khi đứng
trước thách thức này.
- Khách hàng
Khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, đồng thời cũng là một trong
những lực lượng chi phối mang tính quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Đối với hoạt động giao hàng xuất khẩu, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
dịch vụ thì sự hài lòng của khách hàng sẽ là chỉ tiêu quan trọng giúp cho doanh
nghiệp duy trì hoạt động.
2.3.2 Các yếu tố bên trong
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào cũng đều là yếu tố
quyết định sự thành công của doanh nghiệp đó trên thương trường. Đối với hoạt
động giao hàng xuất khẩu thì trình độ kinh nghiệm, kiến thức của đội ngũ giao nhận
là yếu tố đáng được quan tâm nhất. Doanh nghiệp nào có được đội ngũ nhân viên
giỏi nghiệp vụ, thông thạo các tuyến đường, nắm vững mức cước trên thị trường với
từng dịch vụ, thông tường luật phát, có kiến thức về tính chất hàng hóa, có khả năng
thuyết phục khách hàng thì doanh nghiệp đó sẽ thành công.
- Cơ sỏ vật chất
Cơ sỏ vật vật chất là một trong những yếu tố quyết định tới quy mô và chất
lượng của hoạt động giao hàng xuất khẩu. Vì vậy các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ giao nhận cần phải đầu tư các phương tiện hệ thống kho bãi, xây dựng trang thiết
bị, ứng dụng hệ thống thông tin nhằm mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt
động, từ đó đáp ứng tối đa nhu cầu của mọi khách hàng.
- Nguồn tài chính
Nguồn tài chính cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động
giao hàng xuất khẩu và giúp cho doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh của
phương tiện khai báo xuất trình cho cơ quan hải quan trước khi hàng hoặc phương
tiện xuất hoặc nhập qua lãnh thổ quốc gia.
- Hợp đồng mua bán ngoại thương (1 bản sao): Hợp đồng mua bán ngoại
thương là sự thoả thuận giữa những đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
Thực hiện sau khi giao hàng
Tiến hành quy trình giao hàng
12
Chuẩn bị giao hàng
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
nhau, theo đó bên xuất khẩu có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của bên nhập
khẩu một tài sản nhất định gọi là hàng hoá.
- Bản kê chi tiết hàng hóa (1 bản chính,1 bản sao): Bản kê chi tiết hàng hoá
là chứng từ về chi tiết hàng hoá trong kiện hàng. Nó tạo điều kiện thuận tiện cho
việc kiểm tra hàng hoá. Ngoài ra nó có tác dụng bổ sung cho hoá đơn khi lô hàng
bao gồm nhiều loại hàng có tên gọi khác nhau và phẩm cấp khác nhau.
- Hóa đơn thương mại (1 bản chính)
- Hợp đồng ủy thác xuất khẩu (1 bản sao)
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số
doanh nghiệp (1 bản sao)
Các bước tiếp theo bao gồm:
- Nhân viên giao nhận sẽ giao hồ sơ cho cán bộ hải quan đẻ kiểm tra và đăng
kí tờ khai.
- Nhân viên giao nhận cùng nhân viên hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa
- Nhân viên giao nhận nộp lệ phí hải quan và lấy tờ khai hải quan
2.4.2 Giao hàng
2.4.2.1 Đối với hàng rời
Thuật ngữ ‘rời’ được sử dụng để mô tả hàng hóa như dầu thô, ngũ cốc, quặng
sắt và than mà đặc tính vật chất thuần nhất của nó thích hợp để làm hàng và vận
chuyển dưới dạng rời. Một định nghĩa khác về ‘hàng rời’ tập trung vào tính kinh tế
đơn xin khoang và đưa cho đại diện hãng tàu hoặc đại lý tàu biển để xin ký cùng
với danh mục hàng xuất khẩu.
- Bước 2: Sau đó, hãng tàu sẽ cấp lệnh giao vỏ container, phiếu đóng gói và
số chì.Tùy theo số lượng và loại hàng hóa của khách hàng ủy tác mà công ty giao
nhân đã lên phương án mượn loại container thích hợp
- Bước 3: Nhân viên giao nhận hoặc vận tải sau đó kéo container về kho của
khách hàng hoặc kho của công ty giao nhận.
- Bước 4: Nhân viên giao nhận mời đại diện hải quan, kiểm nghiệm, kiểm
dịch, giám định( nếu có) đến kiểm tra và giám sát việc đóng hàng vào container.
Sau khi đóng xong, nhân viên hải quan sẽ niêm phong kẹp chì container và xác
nhận tờ khai hải quan để người vận tải đưa container đến bãi.
- Bước 5: Nhân viên giao nhận sẽ vận chuyển và giao container cho tàu tại
điểm quy định hoặc hải quan cảng, trước khi hết thời gian quy định của từng chuyến
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
14
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
tàu (thường là 8 tiếng trước khi bắt đầu xếp hàng) và lấy biên lai thuyền phó. Sau
khi hàng đã được xếp lên tàu thì mang biên lai thuyền phó để đổi lấy vận đơn.
b. Đối với hàng lẻ
Hàng lẻ là những lô hàng đóng chung trong một container mà người gom hàng
phải chịu trách nhiệm đóng hàng và dỡ hàng vào hoặc ra container. Khi gửi hàng,
nếu hàng không đủ để đóng nguyên một container, có thể gửi hàng theo phương
pháp hàng lẻ. Đối với hàng lẻ thì quy trình giao hàng được tiến hành theo các bước
sau:
- Bước 1: Trước khi nhận hàng của khách hàng, nhân viên giao nhận sẽ gửi
đơn xin khoang cho hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu, cung cấp cho họ những
thông tin cần thiết về hàng xuất khẩu. Sau đó, nhân viên giao nhận sẽ thoả thuận với
hãng tàu về ngày, giờ, địa điểm giao nhận hàng.
- Bước 2: Người giao nhận mang hàng đến giao cho người chuyên chở hoặc
thông quan nội địa
thành lập theo Quyết định số 010234144 của Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà
Nội cấp ngày 02 tháng 04 năm 2008.
Loại hình doanh nghiệp : Công ty trách nhiệm hữu hạn
Nhiệm vụ : Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Scanwell
Logistics Việt Nam được thành lập để thực hiện việc chăm sóc và quản lý các lô
hàng hóa xuất và nhập khẩu của hệ thống công ty Scanwell trên toàn thế giới tại thị
trường Việt Nam.
Điện thoại: (84-04) 3 5122590
Email: sin-han-sales@ scanwell.com
Website:
Năm 1981, Scanwell Logistics được thành lập, là một công ty vận tải và giao
nhận lớn ở khu vực Châu Á, với mạng lưới văn phòng quốc tế và hàng trăm đại lý ở
các thành phố lớn trên toàn thế giới. Năm 1988, SCANWELL/SINGAPORE được
thành lập, sau đó đã được mở rộng thêm và trở thành trụ sở chính của các nước:
Indo, Việt nam, Ấn độ, Singapore…
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
16
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
Công ty TNHH Scanwell Logistics Việt Nam là một trong sáu (06) công ty
con trực thuộc công ty Scanwell Logistics Singapore tại châu Á và thuộc hệ thống
tập đoàn Scanwell trên toàn thế giới hệ.
+ Năm 2001, Công ty TNHH Scanwell Logistics Việt Nam thành lập trụ sở
đầu tiên tại Tp.HCM dưới hình thức văn phòng đại diện.
+ Năm 2005, Công ty TNHH Scanwell Logistics Việt Nam mở thêm trụ sở
tại Hà Nội cũng dưới hình thức văn phòng đại diện.
+ Năm 2008 văn phòng đại diện tại Hà Nội phát triển thành công ty trách
nhiệm hữu hạn lấy tên là CÔNG TY TNHH SCANWELL LOGISTICS VIET
NAM.
+ Tháng 01 năm 2011 Công ty TNHH Scanwell Logistics Việt Nam thành
lập thêm chi nhánh tại Hải Phòng. Cả hai chi nhánh tại Hải Phòng và Hồ Chí Minh
toán phát sinh, báo cáo các số liệu chính xác định kì, theo dõi và tổ chức cho hoạt
động kinh doanh liên tục và hiệu quả.
- Phòng nội địa: chuẩn bị các chứng từ liên quan đến khai báo hải quan, phối
hợp chặt chẽ với phòng chứng từ và phòng kinh doanh để lấy thông tin cần thiết cho
khai báo, tiếp nhận phản hồi của bộ phận hải quan, nhận hàng và liên hệ hãng vận
tải để giao hàng.
3.1.1.3 Nguồn lực của công ty
Về nguồn nhân lực thì có hơn 30 nhân viên trong công ty đều là những người
có chuyên ngành về xuất nhập khẩu và thương mại quốc tế. Nguồn lao động của
công ty chủ yếu từ các sinh viên tốt nghiệp đại học ngoại thương, kinh tế và tài
chính. Ngoài ra có một số nguồn lao động thuyên chuyển từ cùng ngành logistics.
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
18
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
Về cơ sở vật chất, do đặc thù là công ty kinh doanh về mặt hàng dịch vụ do
đó không có dây chuyền sản xuất bằng máy móc. Mà công ty sử dụng lợi thế là một
trong các công ty xuyên quốc gia, có hơn 74 văn phòng trên thế giới và hàng trăm
hệ thống đại lý. Tất cả các văn phòng và hệ thống đại lý đều giao dịch và liên kết
với nhau bằng hệ thống công nghệ thồng tin, hệ thống web mail và các phương tiện
truyền thông dùng trong cả nội bộ và bên ngoài. Tất cả các hệ thống liên kết và phối
hợp rất chặt chẽ với nhau để thông báo thông tin và thực hiện các nghiệp vụ về vận
tải được suôn sẻ và đúng theo thông lệ cũng như các quy tắc trong thương mại quốc
tế.
Về nguồn tài chính thì vốn của công ty chủ yếu là vốn lưu động vì là công ty
kinh doanh dịch vụ, do đó về các tài sản cố định chủ yếu phục vụ cho hoạt động văn
phòng, không có tài sản phục vụ cho sản xuất. Nên số vốn lưu động chiếm nhiều
hơn so với vốn cố định.Và đặc biệt là tiền gửi Ngân hàng chiếm 90% tổng vốn lưu
động. Do các hoạt động về thanh toán, thu chi của công ty đều thực hiện qua tài
khoản ngân hàng.
3.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty những năm vừa qua
Chi phí 776.492.000 1.106.329.000 1.206.000.000
Lợi nhuận trước
thuế
777.136.000 705.671.000 791.854.000
Lợi nhuận sau thuế 582.852.000 588.253.250 593.890.500
(Nguồn: Báo cáo tài chính công ty TNHH Scanwell Logistics Việt Nam)
Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu hoạt động của công ty trong 3 năm không
ngừng tăng. Năm 2010 doanh thu tăng 305.671.000 VND so với 2009, năm 2011
tăng 185.854.000 so với năm 2010. So sánh mức tăng doanh thu trong 2 năm 2010
và 2011, ta nhận thấy mức tăng doanh thu 2011 giảm đi 119.817.000VNĐ. Nguyên
nhân làm cho doanh thu 2011 giảm là ảnh hưởng của khủng hoảng nền kinh tế
chung, kéo theo những ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,
khiến cho nhu cầu sử dụng các dịch vụ giao nhận của công ty giảm đáng kể.
Về chi phí, năm 2011 đã tăng so với năm 2010 là 99.671.000VNĐ. Nguyên
nhân là do công ty đã đầu tư một khoản chi phí lớn để mở rộng phạm vi hoạt động
và trang thiết bị máy móc phục vụ cho công tác văn phòng.
Về lợi nhuận thì công ty vẫn đảm bảo ở mức tăng ổn định. Năm 2010 tăng
5.401.250VNĐ so với 2009, năm 2011 tăng 5.637.250VNĐ. Dù có chịu tác động và
ảnh hưởng không nhỏ của của khủng hoảng kinh tế, song công ty vẫn đảm bảo được
lợi nhuận cho hoạt động của mình trong lĩnh vực có tính cạnh tranh này. Điều này
chứng tỏ tầm nhìn, chiến lược và hoạch định mà ban lãnh đạo của công ty đưa ra là
đúng đắn.
Vũ Thị Hương Lớp: K44E3
20
Khóa luận tốt nghiệp Khoa thương mại quốc tế
3.2 Thực trạng quy trình giao hàng xuất khẩu vận chuyển bằng đường biển tại
công ty TNHH Scanwell logistics Việt Nam
3.2.1 Đặc thù của hoạt động giao hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty
TNHH Scanwell logistics Việt Nam
- Hoạt động mang tính thời vụ: