Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Như chúng ta đã biết xuất khẩu luôn là một tiêu chí quan trọng phản ánh sự phát
triển của một nền kinh tế. Việt Nam hiện nay luôn khuyến khích các doanh nghiệp trong
nước sản xuất và xuất khẩu tạo ra nhiều nguồn lợi cho đất nước. Tuy nhiên để xuất khẩu
trong nước phát triển ngoài việc phải phát triển về sản xuất chúng ta cũng cần sự hỗ trợ
đắc lực của các công ty giao nhận. Chính vì những nhu cầu này mà các công ty giao nhận
của Việt Nam ngày càng phát triển rộng cả về quy mô và chất lượng, cung cấp ngày càng
nhiều dịch vụ về giao nhận quốc tế. Tuy nhiên ngành giao nhận hàng hóa bằng đường
biển của các công ty Việt Nam còn non trẻ và nhiều công ty còn thiếu chuyên nghiệp so
với trình độ phát triển của các công ty giao nhận trên thế giới, làm sao để các công ty có
thể cung cấp được những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn sự phát triển xuất nhập khẩu
hàng hóa luôn là câu hỏi quan trọng đối với mỗi công ty giao nhận quốc tế.
Trong các hình thức giao nhận, hình thức giao nhận bằng đường biển vẫn phát
triển nhất ở Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân của sự phát triển dịch vụ giao nhận bằng
đường biển ở Việt Nam như nước ta có chiều dài đường biển lớn, vận tải đường biển có
thể vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn, chi phí không cao và quãng đường vận chuyển
dài… là những ưu điểm mà nhiều phương thức vận chuyển khác khó có thể có được. Vận
chuyển đường biển thậm chí làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường trong
buôn bán quốc tế. Chính vì vậy trong quá trình thực tập và tìm hiểu tại công ty giao nhận
TNHH ELS ( ELS Group) tác giả đã nghiên cứu về quá trình giao hàng xuất khẩu bằng
đường biển tại công ty. Nhận thấy đây là một chủ đề rất cấp thiết bởi trong tình hình hiện
nay, công việc quan trọng nhất của công ty giao nhận nói chung và công ty TNHH ELS
nói riêng việc nâng cao chất lượng cho công tác giao nhận bằng đường biển, đó là yêu
cầu cần thiết trước sự gia tăng về nhu cầu xuất khẩu và việc các công ty giao nhận trong
và ngoài nước đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong ngành này. Việc hoàn thiện quá
trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển không chỉ quan trọng có tác dụng thu hút các
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
khách hàng là các nhà xuất khẩu trong nước mà còn từ đó có thể lôi kéo các khách hàng là
nghĩa như là bất ký loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc
xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên
quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh
toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”.
Theo luật thương mại Việt nam thì “Giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại,
theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận
chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao
hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người
giao nhận khác”.
Nói tóm lại, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ có liên quan đến quá trình vận
tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi) tới người nhận
hàng (người nhận). Người giao nhận có thể làm các dịch vụ trực tiếp hoặc thông qua đại
lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác.
1.5.1.2. Quyền hạn và nghĩa vụ của người giao nhận
- Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách
hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay
cho khách hàng.
- Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thể thực hiện được chỉ dẫn của khách
hàng thì phải thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn thêm.
- Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợp đồng
không thoả thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng.
1.5.2 Các tổ chức giao nhận trên thế giới, khu vực và Việt Nam
1.5.2.1. Các tổ chức giao nhận trên thế giới
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
Cùng với sự phát triển và buôn bán quốc tế, giao nhận dần trở thành ngành kinh
doanh độc lập, số lượng các công ty giao nhận hiện nay rất lớn và cạnh tranh gay gắt. Các
hiệp hội giao nhận ra đời ở nhiều quốc gia. Hiện nay trên phạm vi thế giới có :
Hiệp hội hoạt động với mục đích là liên kết, hỗ trợ phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu
quả hoạt động và bảo về quyền lợi hợp pháp các hội viên. Các thành viên của hội như:
Cosfi, Draco, Everich, Falcon, Hoang Ha, North Feight, Transimex, Vietrans, Vinalink…
1.5.3. Cơ sở pháp lý, nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại cảng
Việc giao nhận hàng hoá XNK phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm pháp
luật quốc tế, Việt nam
- Các Công ước về vận đơn, vận tải; Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng
hoá
Ví dụ: Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế
- Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt nam về giao nhận vận tải;
Các loại hợp đồng và L/C mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng XNK
+ Bộ luật hàng hải 2005
+ Luật thương mại 2005
+ Nghị định 14/2011 về đại lý làm thủ tục hải quan, thông tư số 79/2009
+ Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định 149/2005/QĐ-TTg về việc
thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử
+ Quyết dịnh của bộ trưởng bộ giao thông vận tải: quyết định số 2106 (23/8/1997)
liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hoá tại cảng biển Việt nam…
Nguyên tắc:
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại
các cảng biển Việt nam như sau:
- Việc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở
hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng.
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
- Ðối với những hàng hoá không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do
các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận tải
(tàu) .Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác phải kết toán
trực tiếp với người vận tải và chỉ thoả thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các
- Hợp đồng ủy thác xuất khẩu (nếu nhận ủy thác xuất khẩu) (1 bản sao)
- Bản định mức sử dụng nguyên liệu của mã hàng (nếu là hàng gia công, sản xuất
xuất khẩu và chỉ nộp một lần đầu xuất khẩu) (1 bản chính)
- Giấy chứng nhận mã số kinh doanh xuất khẩu (1 bản sao)
Ngoài ra có thể kèm theo một số giấy tờ khác như :
- Giấy giới thiệu chưa đề tên: 2 bản
- Giấy chứng nhận phẩm chất (1 bản chính)
- Giấy chứng nhận xuất xứ (1 bản chính)
- Tờ khai trị giá tính thuế (1 bộ)
b. Khai báo hải quan
Khai báo và làm thủ tục hải quan theo quy trình sau:
- Nhân viên giao nhận sẽ giao hồ sơ cho cán bộ hải quan để kiểm tra sơ bộ, đăng
ký tờ khai, quyết định hình thức.
- Nhân viên hải quan kiểm tra chi tiết hồ sơ thuế giá
- Nhân viên giao nhận cùng nhân viên hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa
- Nhân viên giao nhận nộp lệ phí hải quan, đóng dấu “ Đã làm thủ tục hải quan”
và lấy tờ khai hải quan.
1.5.4.2 Giao hàng
a. Đối với hàng rời
• Nhận hàng của khách hàng
Như đã thỏa thuận với khách hàng, người giao nhận sẽ nhận hàng của khách hàng
đưa đến cảng.
Nhân viên giao nhận vận chuyển phải làm các công việc :
- Kiểm tra kho hàng
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
- Kiểm tra hàng
- Kiểm tra bao gói
- Kiểm tra khối lượng
- Ghi chú về tình trạng hàng hóa vào phiếu nhận hàng
cán bộ giao nhận, tàu và cảng.
b. Đối với hàng xuất khẩu đóng trong container
• Đối với hàng nguyên container (FLC/FLC)
- Tiến hành nhận hàng
Nhân viên của công ty giao nhận có thể nhận hàng và kiểm hàng tại kho của khách
hàng hoặc của công ty, tùy theo khả năng đáp ứng các kho của công ty giao nhận và điều
kiện của khách hàng.
- Đóng hàng vào container
Nhân viên giao nhận tiến hành nhận container sau khi ký đơn xin khoang (Booking
note) nhận packing list, seal (chì) và lệnh vỏ container rỗng. Tùy theo số lượng và kiểu
cách hàng hóa mà công ty giao nhận đã lên phương án mượn loại container thích hợp.
Trong bước kiểm tra container thì yêu cầu nhân viên giao nhận là người có khả năng kiểm
tra đầy đủ về container để tránh các tình trạng hỏng hàng hoặc các rủi ro trong quá trình
vận chuyển.
Nhân viên giao nhận hoặc vận tải sau đó kéo container về kho của khách hàng
hoặc kho của công ty giao nhận để xếp hàng.
- Kiểm hóa
Đồng thời với việc mang container rỗng về cơ sở, cán bộ giao nhận liên lạc với hải
quan để tiến hành kiểm hóa. Nhân viên hải quan tiến hành kiểm hóa ngay tại cơ sở của
công ty và giám sát quá trình xếp hàng vào container. Thông thường hải quan kiểm tra
khoảng 10% số lượng hàng hóa giao. Sau khi xếp hàng nhân viên hải quan tiến hành niêm
phong kẹp chì và xác nhận tờ khai hải quan để người vận tải đưa container đến bãi.
- Tiến hành giao hàng
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
Nhân viên giao nhận sẽ vận chuyển container đến bãi container và làm thủ tục hạ
bãi (chậm nhất 8 tiếng trước khi bắt đầu xếp hàng), xuất trình bộ chứng từ hải quan và lấy
biên lai thuyền phó. Sau khi hàng xếp lên tàu thì lấy biên lai thuyền phó đổi lấy vận đơn.
• Đối với hàng lẻ
- Nhận hàng:
2.1.1.1. Dữ liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
• Nguồn dữ liệu thứ cấp:
Chủ yếu dữ liệu sẽ dùng ở ba nguồn chính là:
- Dữ liệu tại thư viện tại trường Đại học Thương mại : gồm các luận văn về đề tài
giao nhận vận tải đường biển.
- Dữ liệu từ việc tìm kiếm trên internet: gồm các trang web về hải quan như
vietship.com, hoặc các trang về luận văn, chuyên đề như tailieu.vn…
- Các báo cáo về kết quả hoạt động kinh doanh cũng như các tài liệu về thủ tục
trong quá trình hoạt động tại công ty TNHH ELS
• Mục đích tìm kiếm dữ liệu thứ cấp:
- Việc xây dựng đúng kết cấu của bài chuyên đề
- Việc nghiên cứu về lý thuyết của chuyên đề
- Việc tìm kiếm số liệu thống kê về lĩnh vực nghiên cứu với quy mô rộng
- Việc đánh giá chung được tình hình hoạt động của công ty
2.1.1.2. Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu do chính người nghiên cứu thu thập.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Mục đích của tìm kiếm dữ liệu sơ cấp trong bài sẽ chủ yếu phục vụ cho việc
nghiên cứu về thực tế của đề tài. Trong đó gồm hai phần chính là thông tin về môi trường,
các nhân tố tác động và thông tin về ngiệp vụ giao hàng tại công ty. Đây là sẽ là những dữ
liệu quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài.
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
- Dữ liệu sơ cấp sẽ được nghiên cứu qua hai phương thức chính:
+ Quan sát: nội dung của phương pháp quan sát này là quan sát hoạt động và kinh
doanh của doanh nghiệp. Việc quan sát này được tiến hành trong thời gian tác giả thực tập
tại công ty.
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp và trắc nghiệm:
Câu hỏi trắc nghiệm và phỏng vấn được tác giả thiết kế nhằm mục đích tìm hiểu
Địa chỉ: 36A Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Tel: 0439747770
Fax: 0439747771
Thành lập năm 2003 và tập trung vào lĩnh vực giao nhận quốc tế. Năm 2008, ELS
đã mở rộng hoạt động của mình thông qua tất cả các cảng tại Việt Nam và có các đối tác
tin cậy trong hầu hết các cảng chính ở Châu Á, Châu Âu và Hoa Kỳ.
Lĩnh vực kinh doanh là giao nhận vận tải quốc tế. Ba dịch vụ chính của công ty
cung cấp đó là vận tải hàng không, dịch vụ vận tải biển và dịch vụ nội địa.
Đại lý mạng:
- Chi nhánh tại Việt Nam: Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng
- Bắc Mỹ: Mỹ , Canada
- Châu Phi: Ai Cập, Yemen, Morocco, Nam Phi
- Châu Á: Trung Quốc, Hồng Kông, Singapo, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan, Hàn
Quốc, Đài Loan.
- Châu Âu: Đức, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đan Mạch.
- Châu Đại Dương: Australia, New Zealand.
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
2.2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Các chi nhánh trong công ty vừa hoạt động độc lập vừa phụ thuộc nhau, tất cả các
chi nhánh hạch toán độc lập nhưng phụ trợ nhau trong mỗi quy trình. Các chi nhánh tại
Hà Nôi, TP Hồ Chí Minh có khả năng tìm kiếm khách hàng cũng như cung cấp các dịch
vụ khách hàng về các bước đầu tiên trong quy trình giao hàng rồi chuyển tới các chi
nhánh ở Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh để các chi nhánh này cung cấp các dịch
vụ tiếp theo về Cảng và hãng tàu.
Đứng đầu các chi nhánh là giám đốc và các phó giám đốc phụ trách điều hành
chung chi nhánh. Phòng kinh doanh là phòng rất quan trọng trong các chi nhánh, phòng
kinh doanh gồm các nhân viên xuất nhập hàng, nhân viên khách hàng, nhân viên làm thủ
tục hải quan. Số lượng các nhân viên trong mỗi chi nhánh không nhiều nhưng chất lượng
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Phòng
kinh
doanh
Phòng
kế
Hoạch
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
các nhân viên trong công ty được đánh giá là rất tốt. Tổng số nhân viên trong công ty là
35 người, trong đó 100% các nhân viên nhân viên nghiệp vụ giao nhận vận tải là trình độ
đại học trở lên. Các nhân viên này đều chủ yếu học ở khối ngành kinh tế.
Về độ tuổi, nhân viên trong công ty có độ tuổi trẻ. Độ tuổi trung bình của nhân
viên trong công ty là 31 tuổi. Chính vì độ tuổi không chênh lệch nhau nhiều và còn khá
trẻ nên môi trường làm việc trong công ty rất năng động.
Nam giới chiếm 5/7 và nữ giới chiếm 2/7 số lượng nhân viên trong công ty, trong
đó phòng kế toán chiếm tỉ lệ nữ nhiều nhất, tiếp theo đó là nhân viên làm thủ tục hải quan
và nhân viên làm thủ tục hải quan. Nhân viên xuất nhập hàng có số lượng nam giới nhiều
nhất.
2.2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Sau đây là số liệu về hoạt động kinh doanh của công ty tại chi nhánh Hà Nội trong
các năm 2007, 2008, 2009.
Năm 2007, do suy thoái kinh tế, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó
khăn, tổng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp chỉ đạt
12.745.193.564 VNĐ, tổng nguồn vốn kinh doanh là 1.427.343.013 VNĐ.
Sang năm 2008, từ sự tăng lên của các hợp đồng và các đơn hàng, doanh thu thuần
về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng lên đến 30.240.462.741VNĐ và nguồn vốn của
doanh nghiệp là 1.937.303.424 VNĐ.
Năm 2009, vẫn giữ được đà kinh doanh khi thu về 28.857.269.725 VNĐ và tổng
nguồn vốn là 3.906.263.143 VNĐ.
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giao hàng xuất khẩu của công ty TNHH
ELS
Số lượng các doanh nghiệp trong ngành giao nhận khoảng 800 doanh nghiệp trong
đó doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 80%. Đa phần các doanh nghiệp tư nhân đều hạn
chế về nguồn vốn. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp ngày càng gia tăng đặt ra
cho doanh nghiệp đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắt hơn. Trong khi các doanh nghiệp
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
trong nước có nguồn vốn nhỏ đặt ra áp lực về số lượng cũng như nhiều cách thức kinh
doanh còn theo kiểu chụp giật thì các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường
Việt Nam trong ngành lại đe dọa về quy mô vốn và mức độ hoạt động chuyên nghiệp.
Trong vài năm gần đây do sự hạn chế của nhà nước về nguồn vốn nước ngoài khi thành
lập nên các doanh nghiệp chưa được đầu tư 100% vốn nước ngoài nhưng trong năm 2012
khi luật này được dỡ bỏ theo cam kết vào WTO thì khả năng mức độ cạnh tranh càng gay
gắt hơn.
Nguyên nhân quan trọng khiến số lượng doanh nghiệp trong ngành giao nhận tăng
là thị trường xuất nhập khẩu tại Việt Nam có mức hấp dẫn ngày càng tăng.
Nhìn vào bảng dưới đây ta sẽ thấy được sản lượng xuất nhập khẩu của Việt Nam
trong 4 năm gần đây nhất:
Năm Xuất khẩu (tỷ USD) Nhập khẩu (tỷ USD)
2007 48,38 60,83
2008 63 80,5
2009 56,59 68,83
2010 71,6 84
Có thể nhận xét sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu ở Việt Nam là khá cao và có
mức tăng liên tục. Như vậy đây là một nhân tố ảnh hưởng tốt đến thị trường cho các công
ty giao nhận. Thực tế thì số liệu doanh thu của công ty TNHH ELS trong năm 2008 cũng
tăng mạnh và có giảm nhẹ năm 2009. Điều đó chứng minh việc xuất nhập khẩu trong
nước ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của công ty.
2.2.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên trong
a. Công tác quản lý và nguồn nhân lực
Theo bảng điều tra về công tác quản lý và nguồn lực nhân lực thì mức độ ảnh
c. Mối quan hệ giữa công ty và các bên liên quan trong quy trình xuất khẩu hàng
hóa bằng đường biển
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
Ngành giao nhận hàng hóa nói riêng và các ngành kinh tế nói chung thì mối quan
hệ với các đối tác là một chìa khóa quan trọng làm nên thành công đối với mỗi công ty.
Theo nghiên cứu ở bảng điều tra cho thấy 80% số phiếu đánh giá mối quan hệ với hãng
tàu là rất tốt, 20% còn lại cho rằng mối quan hệ với hãng tàu là khá tốt. 60% cho rằng mối
quan hệ với khách hàng và cơ quan hải quan là rất tốt, 40% còn lại cho rằng mối quan hệ
khá tốt. 40% số phiếu cho rằng mối quan hệ với cảng là rất tốt, 60% cho rằng mối quan hệ
với cảng là khá tốt. Nhận xét chung mối quan hệ với các bên của công ty được đảm bảo
duy trì tốt.
2.3 Tổng hợp kết quả phân tích các dữ liệu thu thập
2.3.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh giao hang xuất khẩu bằng đường biển tại công
ty TNHH ELS
Đầu tiên chúng ta hãy nhìn vào một số dữ liệu về doanh thu và lợi nhuận của công
ty trong 3 năm gần đây:
Các chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ
Doanh thu 13.095.287 30.241.589 28.857.269
Mức tăng - 18.146.302 (1.384.320)
Doanh thu về giao nhận
hàng hóa bằng đường biển
Doanh thu 8.156.672 23.174.125 22.254.970
Mức tăng - 15.017.453 (919.155)
Doanh thu từ giao hàng xuất
khẩu bằng đường biển
Doanh thu 4.927.167 15.973.267 15.256.687
Mức tăng - 11046100 (716580)
2008 13.598 11.286 83% 2.311 17%
2009 13.460 11.037 82% 2.423 18%
(Nguồn: Phòng kế toán công ty TNHH ELS)
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
2.3.2 Kết quả điều tra về quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty
TNHH ELS
Dưới đây là kết quả tổng hợp từ phiếu điều tra về mức độ thực hiện các khâu trong
quá trình giao hàng xuất khẩu tại công ty TNHH ELS .
Số phiếu thu về 5/5
Đơn vị : Phiếu
CÁC KHÂU TRONG
QUY TRÌNH
MỨC ĐỘ THỰC HIỆN ĐIỂM TB
1 2 3 4
Chuẩn bị chứng từ - - - 5 4
Khai báo hải quan - - 3 2 3.4
Nhận hàng - 2 3 - 2.6
Vận chuyển hàng hóa tới
cảng
- 2 3 - 2.6
Giao hàng tại kho, bãi - - 2 3 3.6
Kiểm hóa - 1 2 2 3.2
Giao hàng lên tàu - - - 5 4
Kiểm tra giám sát - - 2 3 3.6
Giải quyết khiếu nại - - 1 4 3.8
Thanh toán với phía cung
cấp và khách hàng
- 1 3 1 3
Trong quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường biển khâu chuẩn bị chứng từ và
tốt, 40% đánh giá khâu này công ty là khá tốt, 20% còn lại đánh giá là trung bình. Khâu
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
kiểm hóa là khâu nhỏ trong quy trình và cũng theo kết quả điều tra không nhiều đánh giá
chú ý về khâu này, chủ yếu là đánh giá về việc giám sát kiểm hóa chặt chẽ và ghi nhận
chính xác nhằm tránh các rủi ro có thể xảy ra.
Điểm cho khâu khai báo hải quan là 3.6 tương ứng với mức đánh giá khá tốt.
Khâu được cho là khó khăn trong quy trình đó là khâu giải quyết khiếu nại, đa số
khâu này chỉ thực hiện khi có các tình huống bất ngờ có thể xảy ra. Tuy nhiên trong thực
tế điều tra tại công ty thì được biết phần lớn các khiếu nại mà công ty xảy ra là ở mức độ
nhỏ và có thể kiểm soát được. Chưa có tình trạng rủi ro lớn xảy ra bởi việc kiểm soát tốt
của công ty trong các khâu trước. Chính vì vậy khâu giải quyết khiếu nại đã được đánh
giá ở điểm số cao 3,8 với 80% phiếu đánh giá khâu này rất tốt, 20% còn lại đánh giá là
khá tốt.
Trên đây là thực trạng và một số số liệu trong quá trình điều tra về quy trình giao
hàng xuất khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH ELS.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN
QUY TRÌNH GIAO HÀNG XUẤT KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY
TNHH ELS
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế
3.1. Các kết luận và phát hiện qua quá trình nghiên cứu thực trạng quy trình xuất
khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH ELS
3.1.1. Những kết quả đạt được của công ty
Dù được thành lập mới khoảng 7 năm với số vốn không lớn nhưng công ty TNHH
ELS đã đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
đường biển nói chung và giao hàng hàng xuất khẩu nói riêng.
Trước tiên thành công của công ty là đã xây dựng được một môi trường làm việc
năng động, có cơ chế quản lý rõ ràng và hiệu quả. Xây dựng một đội ngũ nhân viên có
trình độ và khả năng chịu áp lực cao trong môi trường kinh tế quốc tế. Đây chính là yếu tố
lượng hàng hóa, giấy chứng nhận kiểm dịch Những giấy tờ này được kiểm tra kỹ lượng
nhưng trong quá trình hoàn thiện bộ chứng từ sai sót là điều khó tránh khỏi. Việc sai sót
có nhiều nguyên nhân gây nên có thể do phía khách hàng, có thể do nhân viên giao nhận
sai sót và cả yêu cầu khác nhau của bên người nhận cũng như bên phía người vận tải.
Chẳng hạn như trong quá trình làm vận đơn HB/L cho khách hàng, nhân viên giao hàng
sau khi đã fax lệnh cấp container cho khách hàng và khách đã đóng hàng xong nhân viên
phải báo ngay cho khách hàng thông báo chi tiết để nhân viên làm HB/L, nhưng nếu chỉ
một sai sót là nhân viên giao nhận không nhắc nhỏ bên khách hàng, khâu làm vận đơn có
thể bị chậm trễ. Hoặc một số trường hợp khác các chi tiết trong các giấy tờ nếu không
kiểm tra kỹ gây sai sót như báo nhầm tên hãng tàu hoặc số hiệu tàu Việc chuẩn bị này
cần đòi hỏi kinh nghiệm xử lý của nhân viên giao nhận, khi các chứng từ xử lý càng nhiều
lần thì sai sót cũng trở nên ít đi. Nhân viên giao nhận trong công ty là người có kinh
nghiệm trong quá trình này cho nên việc lưu ý của họ là chú ý hơn nữa để giảm các sai
sót. Vì khâu chuẩn bị chứng từ còn có thể mắc sai sót nên trong quá trình khai báo hải
quan sẽ gặp khó khăn hơn. Tuy nhiên thực tế doanh nghiệp khó khăn trong khai báo hải
quan do nguyên nhân chứng từ chưa làm tốt là rất ít. Hầu hết việc khai báo hải quan diễn
ra nhanh, chậm hơn thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là mối
quan hệ với hải quan.
Nguyễn Thị Hợp Lớp 43E1