TÓM LƯỢC
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã thực hiện rất nhiều đường lối đổi
mới cơ chế kinh tế. Quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay đã đạt được những
thành tựu nổi bật. Nhưng quá trình đó càng đi vào chiều sâu và bề rộng thì càng bộc
lộ rõ những vấn đề mới cần giải quyết. Tự do, năng động, sáng táo, nhạy bén là
thuộc tính khách quan và là yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhưng gắn liền với
nó là gian lận kinh doanh, thương mại… Hơn nữa, trong giai đoạn này nước ta đã
thực sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế thì càng cần thiết đòi hỏi Nhà nước phải có
một khung pháp lý Thương mại hoàn chỉnh để điều chỉnh các hoạt động đó đúng
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đang chuyển
sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu
công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, ngân hàng là ngành kinh tế chủ
chốt quan trọng, chi phối và có sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các ngành
kinh tế khác. Nhận thức được vị trí và vai trò của mình, các Ngân hàng thương mại
(NHTM) ở nước ta đang từng bước khẳng định sự lớn mạnh của mình trong mọi
phương diện hoạt động, đặc biệt là hoạt động cho vay nhằm phục vụ đắc lực về vấn
đề vốn cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
Là một sinh viên chuyên ngành luật thương mại cùng những kết quả thu
được trong quá trình thực tập tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Đầu tư và phát
triển Việt Nam chi nhánh Quảng Ninh, em quyết định lựa chọn đề tài: "Pháp luật về
hoạt động cho vay - Thực tiễn thực hiện tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh." làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp.
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Th.s Nguyễn Phụng Dương, giảng viên Bộ môn
Luật Căn bản, Khoa Kinh tế - Luật, trường Đại học Thương Mại trong thời gian qua
1
Ngân hàng nhà nước
TCTD
Tổ chức tín dụng
BLDS
Bộ Luật dân sự
BIDV
Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đầu tư và Phát
triển Việt Nam
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
HĐTD
Hợp đồng tín dụng
NĐ-CP
Nghị định chính phủ
3
thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu
như tình hình tăng trưởng, lạm phát…) Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi
một ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường
xuyên của nó là cho ai vay, và đầu tư vào đâu. Ở những nước này, đối tương cho
vay là điều làm bận tâm nhiều hơn, nếu không nói là vấn đề quan trọng nhất. Trong
khi đó ở các nước phát triển tình hình lại ngược lại. Vấn đề đặt ra cho các ngân
4
hàng không phải vấn đề cho ai vay, mà lợi tức có cao không và an toàn không. Cho
vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại, là
một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi
trường kinh tế. Vì vậy, nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải
có hệ thống ngân hàng vững mạnh. Muốn vậy, Chính phủ phải thiết lập được hệ
thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống ngân
hàng.
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài: "Pháp luật về hoạt động cho vay - Thực
tiễn thực hiện tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quảng Ninh." nhằm nghiên cứu những quy định cơ bản của pháp luật
Việt Nam về hoạt động cho vay của ngân hàng, cũng như thực tiễn thực hiện pháp
luật về hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam - chi nhánh Quảng Ninh để từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về hoạt động cho vay.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Hiện nay, ở Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực cho vay và một số lĩnh vực tín
dụng ngân hàng liên quan trực tiếp đến hoạt động cho vay đã có nhiều công trình
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình tiêu biểu như:
- TS. Phạm Văn Tuyết, TS. Lê Kim Giang (2012), “Hợp đồng tín dụng và
biện pháp bảo đảm tiền vay”, NXB Tư pháp.
- TS. Ngô Quốc Kỳ (2005), “Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân
hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, NXB Tư pháp.
Đoàn Thái Sơn (2007), “Bất cập của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức
tín dụng”, Tạp chí ngân hàng số 10/2007, Phan Thị Thu Hà (2006), “Rủi ro tín dụng
của ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam – cách tiếp cận từ tính chất sở hữu”
Tạp chí ngân hàng số 24/2006...
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn
cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay ngân hàng. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu đề tài pháp luật về hoạt động cho vay vẫn còn là cấp thiết, bởi lẽ các quy
định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập chưa phù hợp với thực tiễn và
thông lệ quốc tế trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Bên cạnh đó, các đề tài nghiên
cứu cũng hầu như chưa đi sâu nghiên cứu thực tiễn tại một ngân hàng cụ thể để có
cái nhìn thực tế, khách quan hơn.
Vì vậy, em quyết định lựa chọn đề tài này với mong muốn góp phần làm rõ
hơn những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay của ngân hàng, chỉ ra những
bất cập của việc thực hiện các quy định đó trong thực tiễn tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Quảng Ninh, từ đó đề ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng ở
Việt Nam hiện nay.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Hoạt động cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận trực tiếp cho NHTM, đồng
thời cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro. Hoạt động này luôn được đặt trong
mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ và bản thân các NHTM bởi nó ảnh hưởng
lớn đến sự tồn tại và phát triển của NHTM cũng như đảm bảo cung ứng vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, việc bảo đảm an
toàn cho nó đang là vấn đề hết sức bức bối tại hầu hết các NHTM trên thế giới nói
chung và tại Việt Nam nói riêng. Chính vì tầm quan trọng như vậy nên bài khóa
luận sẽ muốn đi sâu nghiên cứu đề tài về cho vay để có thể tìm hiêủ thêm về bản
chất và hoạt động của hoạt động chứa đầy những yếu tố rủi ro bất ngờ này.
6
như: Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
và Quy chế cho vay 2001 được sửa đổi, bổ sung bởi quyết định 127/2005/QĐNHNN ngày 3/2/2005.
- Không gian: Thực tế áp dụng vấn đề trên tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Quảng Ninh.
- Thời gian: từ khi luật các tổ chức tín dụng 2010, luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam 2010, quy chế cho vay 2001 được sửa đổi, bổ sung bởi quyết định
127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 , những quy định liên quan kí kết và thực hiện
hợp đồng tín dụng .... được ban hành và có hiệu lực.
7
Với việc giới hạn phạm vi nghiên cứu trên sẽ ta giúp dễ dàng hơn trong việc
xác định vấn đề nghiên cứu đồng thời chỉ rõ đề tài, tập trung nghiên cứu và phân
tích nhằm đưa ra những nhận định khách quan, phân tích, đánh giá để tìm ra những
giải pháp giúp hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chủ yếu là nghiên cứu các văn bản Quy
phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của NHTM: Luật các tổ chức tín dụng
2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 và Quy chế cho vay 2001 được
sửa đổi, bổ sung bởi quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tình huống: phân tích, đánh giá những
tình huống phát sinh trong thực tiễn và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất liên quan
tới quy định pháp luật về hoạt động cho vay nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề
nêu trên.
- Ngoài ra khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu so sánh,
thống kê, quy nạp, diễn dịch.
Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng các nguồn bài nghiên cứu, sách báo để
tạo nền tảng cơ sở cho việc nghiên cứu về hoạt động cho vay để tạo được tính mới
và tính cấp thiết cho khóa luận.
Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của đề tài thì các
Luật các tổ chức tín dụng 2010 “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho
vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi”.
Cho vay theo quy định của pháp luật hoạt động cho vay chính là một trong
những hình thức cấp tín dụng của các NHTM hiện nay, và là một hoạt động mang
tính chất nghề nghiệp kinh doanh các NHTM. Khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng
cho khách hàng của mình, các NHTM sẽ giao cho khách hàng một khoản tiền nhất
định hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền nhất định để sử dụng theo
hợp đồng tín dụng đã được kí kết giữa các bên để khách hàng sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc là hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng “phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng
vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo
đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các
bên thoả thuận” (Điều 17 Quy chế cho vay 2001 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết
định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005.)
1.1.2 Đặc điểm về hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại
Thứ nhất: chủ thể của hoạt động cho vay
Trong hoạt động cho vay thì luôn luôn xuất hiện hai bên chủ thể tham gia
vào hoạt động cho vay đó là chủ thể đi vay và chủ thể cho vay. Trong quan hệ cho
vay này thì chủ thể cho vay chính là các NHTM được phép cấp tín dụng theo quy
định của pháp luật, và chủ thể đi vay là các khách hàng có nhu cầu vay vốn tại các
NHTM.
Thứ hai: hình thức pháp lí của hoạt động cho vay
Hình thức pháp lí của việc cho vay chính là hợp đồng tín dụng, ghi nhận sự
thỏa thuận giữa NHTM với khách hàng có nhu cầu vay vốn tại các NHTM. Pháp
9
luật quy định các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tín dụng ngân hàng phải thỏa
quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan
nên mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là điều tất yếu mà còn là động lực giúp
NHTM, TCTD duy trì hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.3 Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng hiện nay có thể phân loại dựa vào
nhiều tiêu chí khác nhau:
1.1.3.1. Theo thời hạn cho vay
10
- Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến một năm và được sử dụng để bổ
sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu tiêu dùng
ngắn hạn của các cá nhân.
- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn
chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời
gian thu hồi nhanh. Bên cạnh đó, nó còn được dùng để đầu tư tài sản lưu động
thường xuyên của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới thành lập.
- Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Loại tín dụng này dùng để
đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận
tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
1.1.3.2. Theo mục đích sử dụng vốn
- Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dich vụ.
- Cho vay công nghiệp, thương mại, dịch vụ: Loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
- Cho vay nông nghiệp: Loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông
nghiệp như mua phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao
động, nguyên nhiên liệu…
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: là hình thức cho vay ngắn và trung hạn với lãi
suất thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Việc trả nợ thường được trả hàng
tháng với số tiền cố định. Cho vay tiêu dùng cá nhân thường là cho vay để mua
phương tiện đi lại hoặc du lịch hoặc cho vay đối với sinh viên. Đối với những khách
hàng tốt, ngân hàng còn cấp cho khách hàng một tập séc để rút tiền.
- Tín dụng tuần hoàn: là hình thức tín dụng mà khách hàng được vay một
khoản tiền cố định, khi hoàn trả sẽ được vay lại.
- Tín dụng thuê mua: cho vay dưới hình thức cho thuê tài sản mà khách hàng
cần sử dụng, sau một thời gian khách hàng có thể mua lại tài sản này.
- Tín dụng nhà ở: Bao gồm cho vay thanh toán, cho vay tiết kiệm nhà ở, cho
vay tự do.
- Mua các khoản nợ của doanh ngiệp: hình thức phổ biến nhất của factoring
là mua các hóa đơn bán hàng của doanh nghiệp.
1.1.4 Vai trò của hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại
- Hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa
Phần lớn nguồn vốn của nhiều thành phần trong kinh tế đi vay từ ngân hàng
để bắt tay vào ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (Ví dụ: kinh tế ngoài
quốc doanh chiếm tới trên 70%). Do vậy bằng các chính sách cho vay, định hướng
chung của nhà nước góp phần tạo cho nền kinh tế một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân
đối.
Bằng những công cụ tín dụng mà ngân hàng có thể cho vay ưu đãi những
nghành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước trong từng giai đoạn cụ thể.
- Hoạt động cho vay góp phần điều hòa cung – cầu dịch vụ, hàng hóa
Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh
mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của ngân hàng. Nhưng doanh nghiệp
chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ ngân hàng khi doanh nghiệp
12
đồng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công nghệ hiện đại, đổi mới dây truyền
sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm thoả mãn nhu cầu
trong và ngoài nước. Như vậy hoạt động cho vay mở rộng ứng dụng công nghệ mới
vào các doanh nghiệp, thông qua đó giúp doanh nghiệp sản xuất ngày càng có hiệu
quả, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng và thúc đẩy các
hoạt động khác của ngân hàng
Cho vay là một trong những hoạt động lớn của ngân hàng. Ở các nước phát
triển, doanh thu từ hoạt động này thường chiếm 70%, hay đến 90% doanh thu
13
của ngân hàng, ở các nước đang phát triển. Hiện nay 80% doanh thu của các NHTM
là từ hoạt động tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn.
Nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của ngân hàng
để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được
không những đủ tiền trả cho ngân hàng mà còn có tiền gửi vào ngân hàng, nghĩa là
làm tăng hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác, khi sản xuất kinh doanh
phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hoạt động cho
vay của Ngân hàng Thương mại
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hoạt động cho vay của Ngân
hàng Thương mại
Những quy định pháp luật về cho vay là những quy định của luật pháp về các
quan hệ phát sinh giữa các bên khi tham gia vào hoạt động cho vay của NHTM. Các
quy định này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay, bởi vì nó chi phối tính
chất, quy mô, phạm vi giao dịch, trạng thái rủi ro và an toàn trong hoạt động của
NHTM nói chung và hoạt động cho vay của NHTM nói riêng. Vì lẽ đó, các tổ chức
tín dụng và khách hàng vay trong quan hệ vay vốn thường ưu tiên lựa chọn biện
pháp bảo đảm thế chấp tài sản. Đây cũng là những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ
hợp chủ thể tham gia ký kết hợp đồng tín dụng là bên cho vay là các TCTD. Hợp
đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức,
cá nhân có đủ những điều kiện do pháp luật quy định (bên vay). Căn cứ vào hợp
đồng, TCTD chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất
định, với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi. Không những hoạt động cho vay của
TCTD nói chung và NHTM nói riêng ngoài việc tuân thủ các quy định chung của
pháp luật mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng, cụ thể ở đây là hợp
đồng tín dụng. Từ đó có thể khẳng định rằng chủ thể, nội dung, hình thức, vấn đề hiệu
lực, trách nhiệm pháp lý... mọi khía cạnh mà quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động
cho vay cũng chính là các quy định pháp luật điều chỉnh về hợp đồng tín dụng.
Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Bên cho vay
Trong quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, bên cho vay
thông thường là tổ chức tín dụng có đủ những điều kiện do pháp luật quy định.
Ngoài ra, các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng nếu được NHNN cho
phép thực hiện hoạt động tín dụng thì cũng có thể là bên cho vay và cũng phải thỏa
mãn các điều kiện chủ thể giống như đối với bên cho vay là NHTM.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành
chủ thể cho vay phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
- Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng
với khách hàng.
Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng (TCTD), muốn trở thành chủ
thể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện
như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
có người đại diện hợp pháp. Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt
động ngân hàng đươc phép thực hiện.
• Hình thức của hợp đồng tín dụng
HĐTD là loại hợp đồng ưng thuận nên pháp luật quy định tại thời điểm phát
sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng chính là thời điểm các bên đã thoả thuận xong
các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu (nếu có) và được
lập thành văn bản.
• Nội dung của hợp đồng tín dụng
Căn cứ vào điều 51 luật các TCTD quy định về nội dung của HĐTD: “Việc cho
vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về
điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình
thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác
được các bên thỏa thuận.”
• Giao kết hợp đồng tín dụng
Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng
16
Khi một chủ thể muốn thiết lập một hợp đồng tín dụng (HĐTD), thì ý muốn
đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định. Chỉ có như vậy, phía
đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến giao kết
hợp đồng. Đề nghị giao kết HĐTD là hành vi pháp lý do một bên thực hiện dưới
hình thức văn bản chính thức gửi bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn
giao kết HĐTD.
Để chủ thể mà mình muốn giao kết HĐTD biết được nguyện vọng giao kết
HĐTD của mình, chủ thể đề nghị giao kết (thông thường là các tổ chức cá nhân có
nhu cầu vay vốn) phải gửi cho bên được đề nghị (thông thường là các TCTD,
NHTM) văn bản đề nghị giao kết HĐTD, tức đơn xin vay, kèm các giấy tờ, tài liệu
chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn để
TCTD, NHTM xem xét, thẩm định. Về bản chất pháp lý, hành vi này của bên vay
được xem là một đề nghị giao kết HĐTD và các tài liệu bên vay gửi cho TCTD,
NHTM được coi như bằng chứng đề nghị giao kết HĐTD.
ra dưới dạng một văn bản chính thức gửi cho bên đề nghị giao kết hợp đồng, với nội
dung thể hiện sự đồng ý giao kết HĐTD.
Trong giai đoạn này, TCTD, NHTM và bên vay vốn thỏa thuận và ký kết
HĐTD thông qua quá trình thương lượng, đàm phán trực tiếp để soạn thảo từng
điều khoản của HĐTD. Thời điểm giao kết HĐTD là thời điểm người đại diện có
thẩm quyền của bên cuối cùng trực tiếp ký tên vào văn bản HĐTD.
Trong thực tiễn ký kết HĐTD ở Việt Nam, các TCTD, NHTM thường đưa ra
hợp đồng mẫu với các điều khoản chủ yếu, khách hàng chỉ đóng vai trò là người
nghiên cứu, xem xét các điều khoản đó. Nếu khách hàng chấp nhận việc giao kết
HĐTD, chỉ cần ký tên vào văn bản hợp đồng mẫu đã được soạn thảo sẵn. Kể từ khi
các bên đã ký đầy đủ vào văn bản HĐTD, HĐTD chính thức có hiệu lực pháp luật.
•
Thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng
Thực hiện hợp đồng tín dụng là mục đích của việc giao kết hợp đồng tín
dụng. Đây là giai đoạn quan trọng nhất, bởi lẽ chỉ khi nào hợp đồng tín dụng được
thực hiện nghiêm chỉnh thì quyền và lợi ích hợp pháp của các bên mới được thoả
mãn và bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, xuất phát từ nhu cầu
bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, các bên thường quan tâm đặc biệt đến những vấn
đề sau:
- Thoả thuận áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng, trong đó chủ yếu là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cho tổ
chức tín dụng. Thoả thuận này nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên chủ nợ là tổ chức
tín dụng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, nếu bên vay không thực hiện
được nghĩa vụ trả nợ tiền vay khi đến hạn và không được tổ chức tín dụng cho gia
hạn nợ thì tài sản bảo đảm tiền vay có thể được xử lý theo thoả thuận của các bên
hoặc theo quy định của pháp luật.
- Thoả thuận việc gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Thoả thuận này
+ Thanh lý hợp đồng tín dụng: Thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng theo
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết; khi bên vay trả xong nợ gốc và lãi thì
hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản
thanh lý hợp đồng. Trường hợp bên vay yêu cầu, cán bộ tổ chức tín dụng soạn thảo
biên bản thanh lý hợp đồng trình trưởng phòng tín dụng kiểm soát và trưởng phòng
tín dụng trình lên lãnh đạo ký biên bản thanh lý.
+ Thực hiện xử lý rủi ro bảo đảm tiền vay: Các bên thoả thuận về việc thực
hiện các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay.
- Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng
Bảo đảm tiền vay là việc NHTM, TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng
ngừa rủi ro tạo cơ sở pháp lý và kinh tế để thu hồi nợ đã vay. Tín dụng là một trong
những hoạt động chính, cơ bản mang lại lợi nhuận chủ yếu của NHTM, TCTD.
Kinh doanh tín dụng luôn gắn liền rủi ro tín dụng, ngoài việc xác định khả năng
thanh toán của người đi vay thì việc xác định tài sản thế chấp của người đi vay có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy, phải có tài sản thế chấp để vay vốn ngân
hàng. Các biện pháp thường được sử dụng là: bảo lãnh, cầm cố, thế chấp.
19
Thế chấp tài sản trong quan hệ HĐTD ngân hàng được hiểu là việc một cá
nhân hay pháp nhân dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho
khoản vay tại NHTM, TCTD. Thế chấp tài sản phải làm thành văn bản dưới hình
thức hợp đồng thế chấp tài sản, phải được cơ quan công chứng Nhà nước chứng
thực. Trong hợp đồng đó phải ghi rõ khối lượng, giá trị tài sản thế chấp, thời hạn thế
chấp, phương thức xử lý tài sản thế chấp…Nếu số tiền phát mại tài sản thế chấp
không đủ để trả nợ thì phỉa tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng các nguồn tài sản
khác. Nếu bên đi vay không trả nợ, NHTM, TCTD có quyền khởi kiện bên vay
trước pháp luật.
Cầm cố trong quan hệ HĐTD ngân hàng là việc người đi vay dùng số động
sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản tiền vay. Về phía NHTM,
Giải quyết tranh chấp từ HĐTD bằng cơ chế tài phán: Để tiến hành giải quyết
tranh chấp phát sinh từ HĐTD, các bên tranh chấp cần phải xác định được việc giải
quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán nào. Thực tế ở Việt Nam có hai loại cơ quan
tài phán có thẩm quyền giải quyết tranh chap là trọng tài và Tòa án. Việc phân định
thẩm quyền tài phán giữa các cơ quan này được áp dụng theo nguyên tắc: Trọng tài
thương mại có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng trọng tài với những tranh
chấp phát sinh từ HĐTD được ký kết giữa TCTD, NHTM với khách hàng mà các
bên thỏa thuận yêu cầu giải quyết khi có tranh chấp. Với các tranh chấp từ HĐTD
nhưng các bên không có thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp thì về nguyên
tắc, những tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố
tụng dân sự.
1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh về hoạt động cho
vay của Ngân hàng Thương mại
Chính vì quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay cũng là những quy
định pháp luật điều chỉnh về HĐTD nên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều
chỉnh hoạt động cho vay và hợp đồng tín dụng đều là một.
- Nguyên tắc tự nguyện
Theo nguyên tắc này một hợp đồng tín dụng ngân hàng được hình thành phải
hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí), không do
sự áp đặt ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Mọi sự tác động làm mất tính tự nguyện
của các bên trong quá trình ký kết đều làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.
Quyền tự do hợp đồng bao gồm những nội dung chính sau:
+ Tự do lựa chọn đối tác
+ Tự do thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng
+ Tự do lựa chọn thời điểm giao kết hợp đồng
- Nguyên tắc cùng có lợi, hợp tác trung thực và ngay thẳng
Trong nền kinh tế thị trường mỗi bên tham gia vào quan hệ hợp đồng đều
xuất phát từ lợi ích riêng của mình. Khi ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng các
bên cùng nhau thoả thuận những điều khoản hợp đồng có lợi nhất cho cả hai bên,
dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ người khác bảo lãnh về tài sản
để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc đảm
bảo lợi ích kinh tế của các bên trong quan hệ hợp đồng.
22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NINH
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chi nhánh Quảng Ninh và các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện
quy định pháp luật về hoạt động cho vay tại chi nhánh
2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam - chi nhánh Quảng Ninh.
Sơ lược về ngân hàng
- Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt
Nam - Chi nhánh Quảng Ninh
- Tên giao dịch quốc tế: Joint Stock Commercial Bank for Investment and
Development of Vietnam
- Tên gọi tắt: BIDV
- Địa chỉ: Trụ sở chính: Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: 04.2220.5544 - 19009247. Chi nhánh Quảng Ninh: số 737, đường Lê
Thánh Tông, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Fax: 04. 2220.0399
- Email: [email protected]
Ngân hàng BIDV là ngân hàng thương mại lâu đời nhất Việt Nam. Chi nhánh
Quảng Ninh của ngân hàng BIDV được thành lập theo Nghị định số 233/NĐ-TCTCCB ngày 27/5/1957 của Bộ Tài Chính, là một trong những chi nhánh đầu tiên được
thành lập, trong quá trình hoạt động và trưởng thành ngân hàng chi nhánh Quảng Ninh
đã mang nhiều tên gọi khác nhau theo hệ thống và phù hợp với từng thời kỳ xây dựng,
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi: Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam và đồng
ngoại tệ. Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với nhiều hình thức tiết kiệm
phong phú, đa dạng như: tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang...
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế về mậu
dịch và phi mậu dịch
- Mua bán chuyển đổi ngoại tệ, Séc du lịch, chi trả kiều hối.
- Cho vay: Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và đồng
ngoại tệ, cho vay hợp vốn đối với các dự án lớn, có thời gian hoàn vốn dài, cho vay
trả góp, cho vay tiêu dung, chiếu khấu bộ chứng từ.
- Dịch vụ thẻ ATM và Ngân hàng điện tử: Phát hành, thanh toán ATM; phát
hành, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Visa, Master Car
- Dịch vụ Ngân hàng điện tử: Internet Banking, Phone banking, Mobile
- Dịch vụ khác: đại lý chứng khoán, tư vấn đầu tư, tài trợ thương mại, thẩm
định dự án, thu chi hộ ngân quỹ, giử hộ tài sản quý
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện quy định pháp luật về hoạt
động cho vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quảng Ninh
Nguồn vốn
Vốn kinh doanh của một ngân hàng thực chất là tiền gửi của người ký thác. Quy
mô nguồn vốn của một NHTM quyết định đến quy mô của khối lượng tín dụng mà
ngân hàng đó có thể phát ra, ảnh hưởng đến số lượng rủi ro mà ngân hàng có thể chấp
nhận. Một ngân hàng có quy mô lớn có thể phát ra một khối lượng tín dụng lớn với kỳ
hạn dài hơn nhưng đi kèm theo đó là rủi ro cũng nhiều hơn. Mục đích lớn nhất của
ngân hàng là lợi nhuận. Do vậy, tất cả các ngân hàng đều xem xét đến yếu tố quan
trọng này,các chính sách tín dụng thường tìm cách nâng cao tỉ phần sinh lợi của tài
sản,đặc biệt là nâng cao khả năng cung cấp tín dụng. Các ngân hàng có nhu cầu lớn
hơn về lợi nhuận thường áp dụng chính sách cho vay năng động hơn so với các ngân
24
hàng không xem lợi nhuận là quan trọng nhất. Chẳng hạn như các ngân hàng này sẽ
dụng vào những phạm vi mà nhân viên của mình có thể quản lý được. Bởi lẽ, cho vay
luôn đi liền với những rủi ro nếu như các nhân viên không đủ trình độ, khả năng đánh
giá sự trung thực của các hồ sơ khách hàng, tính khả thi của các dự án xin vay thi sẽ
đem lại rủi ro rất lớn cho hoạt động của ngân hàng.
Nhu cầu của khu vực phục vụ
Ngân hàng muốn được cấp giấy phép hoạt động thì cần phải đáp ứng phục vụ
được nhu cầu tín dụng của cộng đồng. Tại khu vực mà nền kinh tế chủ yếu là trồng
25