Thực trạng Stress của sinh viên điều dưỡng năm thứ 2 và 3 Trường Đại học Thăng Long năm 2015 và một số yếu tố liên quan. - Pdf 35

Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần II

THỰC TRẠNG STRESS CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG NĂM
THỨ 2 VÀ 3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NĂM 2015
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Vũ Dũng
Bộ môn Điều dưỡng, Đại học Thăng Long
Email: [email protected]
Tóm tắt: Stress (căng thẳng tâm lý) ở mức bình thường (Eustress) là những căng
thẳng có lợi, tuy nhiên nếu ở mức độ cao (Disstress) sẽ dẫn đến những vấn đề về sức khỏe thể
chất cũng như tinh thần của con người. Để đánh giá thực trạng stress của sinh viên cũng như
tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực trạng này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt
ngang có phân tích trên 153 sinh viên Điều dưỡng hệ chính quy năm thứ 2 và thứ 3 tại trường
Đại học Thăng Long trong năm học 2014-2015. Chúng tôi đánh giá thực trạng stress của sinh
viên bằng thang PSS-10. Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng thang MPSSS để đánh giá hỗ trợ xã
hội cho sinh viên, thang ESSA để đánh giá áp lực học tập của sinh viên. Và những câu hỏi tự
thiết kế nhằm tìm hiểu thông tin nhân khẩu học, tình trạng kinh tế, tình trạng học tập và một
số thói quen của sinh viên. Số liệu được thu thập bằng việc phát vấn và nhập liệu cũng như xử
lý số liệu bằng phần mềm SPSS 14.0. Kết quả cho thấy điểm trung bình strees là 19,64 ± 4,72,
trong đó 32% sinh viên có stress ở mức độ cao. Điểm trung bình áp lực học tập là 53,29
±8,78 và điểm trung bình hỗ trợ xã hội là 43,95 (± 7,63). Các yếu tố áp lực học tập cao, thiếu
tiền học phí và sinh hoạt phí là những yếu tố nguy cơ gây stress mức độ cao ở sinh viên.
Trong khi đó việc có bạn thân, có sự chia sẻ của bạn bè, thói quen tập thể dục là những yếu tố
bảo vệ sinh viên khỏi stress ở mức độ cao.
1. Đặt vấn đề
Stress (căng thẳng tâm lý) là một phần tất yếu, không thể tránh khỏi trong cuộc sống
mỗi người. Stress ở mức độ bình thường (Eustress) là phản ứng thích nghi của cơ thể trước
những tác nhân từ môi trường sống, đồng thời là động cơ thức đẩy sự phát triển cá nhân, đó là
những căng thẳng có lợi [12]. Tuy nhiên, nếu stress với cường độ cao, kéo dài, lặp đi lặp lại sẽ
phá vỡ sự cân bằng sinh học của cơ thể, từ đó làm nảy sinh những vấn đề về sức khỏe thể chất
cũng như tinh thần thì đó là những căng thẳng có hại hay stress bệnh lý (Disstress) [12].

[4].
Nhìn chung, khi bị stress con người có những thay đổi cả về thể chất và tâm lý (nhận
thức, cảm xúc, hành vi). Về thể chất đó là những thay đổi ở hệ tim mạch, thần kinh, tiêu hóa,
hô hấp, tiết niệu... như tim đập nhanh, vã mồ hôi, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ,
chán ăn, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau dạ dày và buồn nôn, nôn...[3], [6]. Về
mặt tâm lý thể hiện sự thay đổi hoạt động của các quá trình nhận thức, cảm xúc và hành vi.
Như giảm sự tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh hoạt, mệt mỏi về tinh thần và trí
lực giảm sút, cảm giác về học tập, công việc bị áp lực đè nặng, tinh thần hoang mang, buồn
chán...[3], [6].
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng stress của sinh viên, tuy nhiên
có thể tổng hợp các nguyên nhân này thành bốn nhóm nguyên nhân chính đó là: Những
nguyên nhân xuất phát từ sinh viên như sống xa gia đình, phải tự lập về hầu như tất cả các
mặt trong cuộc sống. Nhóm nguyên nhân gây stress do học tập như chưa quen với phương
pháp học tập đại học: tự nghiên cứu, có quá nhiều kỳ thi, bài kiểm tra và học quá nhiều môn
cũng như kết quả học tập không như kỳ vọng. Nhóm nguyên nhân thứ ba là những vấn đề
căng thẳng về tài chính và nhóm nguyên nhân cuối cùng là do gia đình, xã hội (tình yêu, tình
bạn, công việc) [9], [6], [13], [2].
Một số nghiên cứu về stress của sinh viên tại Việt Nam. Năm 2009, nghiên cứu của
Nguyễn Hưu Thụ tại Đại học Quốc gia Hà Nội có 79% sinh viên bị stress mức độ nhẹ, 3,2% ở
mức độ vừa còn lại không bị stress. Tại Đại học Sư Phạm Đà Nẵng có tới 96% sinh viên có
biểu hiện của stress tại thời điểm chuẩn bị thi giữa kỳ [1]. Cũng tại Đại học Đà Nẵng, trong
nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Anh năm 2009, 7,6% rất căng thẳng, 23,1% không căng
thẳng còn lại là căng thẳng ở mức độ nhẹ. Tại Đại học Y Dược Hồ Chí Minh, tỷ lệ sinh viên
stress mức độ vừa, nặng, rất nặng là 28%, 9,6%, 5,6%. Riêng tỷ lệ stress bệnh lý của sinh viên
Y tế công cộng là 24,2%, trong đó có 2,8% rất nặng có biểu hiện của bệnh lý tâm thần [10].
Tại Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ stress của sinh viên năm 2013 là 63,6%. Trong đó, tỷ lệ của sinh
viên Điều dưỡng là 72,5% [7]. Trường Đại học Y Thái Bình, tỷ lệ sinh viên có trạng thái căng
thẳng cảm xúc thường xuyên là 58,8%. Trong đó, căng thẳng cảm xúc ở mức cao là 37,5%
[2].
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Phần C gồm 16 câu hỏi đánh giá cảm nhận và thái độ của sinh viên về áp lực học tập
trong học kỳ vừa qua dựa vào thang đo áp lực học tập ở trường học cho thanh thiếu niên
ESSA (Educational stress scale for Adolescents) của Sun, Dume, Hou và Xu (2010). Thang
đo này đã được đánh giá tính giá trị và độ tin cậy ở vị thành niên và thanh niên Việt Nam với
Cronbach’s Alpha là 0,83. Chúng tôi quyết định sử dụng thang đo này để đánh giá áp lực học
tập của sinh viên.Trong phần tìm mối liên quan các cảm nhận về áp lực sẽ chia làm hai nhóm.
Nhóm có áp lực cao là nhóm có điểm từ mức 3/4 điểm tối đa trở lên. Còn lại là nhóm không
chịu áp lực học tập ở mức cao.
Phần D là bộ công cụ đánh giá sự hỗ trợ xã hội dành cho sinh viên. Bộ công cụ này
được dịch từ bộ công cụ Multidimensional Scale of Perceiced Social Support (MSPSS) được
phát triển bởi Zimet & Farley năm 1988. Bộ công cụ gồm 12 câu hỏi tự đánh giá và được chia
làm ba nhóm hỗ trợ từ phía gia đình, nhóm hỗ trợ từ phía bạn bè và nhóm hỗ trợ từ những
người đặc biệt. Mỗi câu hỏi có 5 mức trả lời đó là rất không đồng ý, không đồng ý, không có
ý kiến gì, đồng ý và rất đồng ý.Đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội, hỗ trợ từ gia đình, từ bạn bè và
từ những người khác dựa vào tổng điểm số của các câu tương ứng. Điểm số thấp cho thấy
nhận thức về sự hỗ trợ xã hội ở mức thấp và ngược lại nếu điểm số cao cho thấy sự hỗ trợ xã
hội ở mức cao. Trong phần tìm mối liên quan giữa sự trợ giúp xã hội với stress, hỗ trợ xã hội
chia làm hai nhóm: nhóm có hỗ trợ tốt có điểm từ mức 3/4 điểm tối đa trở lên. Còn lại là
nhóm có sự hỗ trợ chưa tốt.
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS
14.0. Chúng tôi sử dụng thống kê mô tả đơn biến (tần suất, tỷ lệ %) để mô tả mục tiêu nghiên
cứu 1. Thống kê phân tích sử dụng kiểm định Khi bình phương (OR, CI 95%) để tìm hiểu các
yếu tố liên quan ở mục tiêu 2. Sử dụng thống kê đa biến tìm các yếu tố liên quan đến stress
của sinh viên.
Trường Đại học Thăng Long

179


Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần II

Thứ hai

103

67,3

Nữ

121

79,1

Thứ ba

50

32,7

Điều kiện nhà ở (n =
153)

Khu vực sống
Nội thành

108

70,6

Phòng/nhà thuê


Có (Phật giáo, kito giáo,
tin lành)

59

38,6

Không

94

61,4

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ sinh viên nữ (79,1%) gấp 4 lần sinh viên nam. Tỷ lệ này là
phù hợp với ngành điều dưỡng, tuy nhiên tỷ lệ sinh viên nữ lớn hơn so với một số nghiên cứu
về stress ở sinh viên của các tác giả trước đây. Đa phần sinh viên sống ở nội thành (70,6%).
Số lượng sinh viên năm thứ hai gấp đôi năm thứ nhất là do số lượng tuyển sinh đầu vào khác
nhau. Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu của hai khóa đều trên 90%. Gần một nửa sinh viên
đang sống ở nhà trọ, nhà thuê. Các sinh viên này có thể gặp các vấn đề gây căng thẳng như
điều kiện chật chội, thiếu thốn, chi phí thuê ở tốn kém...
4.1.2 Đặc điểm áp lực học tập và hỗ trợ xã hội đối với sinh viên
Điểm trung bình áp lực học tập theo thang ESSA = 53,29 ±8,78. Theo phân loại của
thang đo, mức điểm này tương ứng với áp lực ở mức trung bình (51-58). Điểm trung bình áp
lực học tập cao hơn hẳn so với nghiên cứu của Đặng Thị Anh Thư trên học sinh tại Huế
(49,99 ± 9,636). Nguyên nhân có sự khác nhau này là do khác nhau về đối tượng nghiên cứu
(Sinh viên so với học sinh) và do chương trình học, khối lượng kiến thức, lượng thi cử và
kiểm tra ở Đại học lớn hơn hẳn Phổ Thông. Khi phân tích các mức độ áp lực cho kết quả
trong bảng 01. Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu khác khi tỷ lệ giảm dần ở các
mức độ trung bình, thấp và cao


4.1.3 Thực trạng stress của sinh viên
Điểm trung bình mức độ stress của sinh viên là 19,64 ± 4,72, điểm tối đa là 33 điểm,
tối thiểu là 8.Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu stress của sinh viên Điều dưỡng ở
Trường Đại học Thăng Long

181


Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần II

Croatia của Gordana Brunmini (2008) (20,3 ± 4,3) [10]. Trong đó stress mức độ cao chiếm tới
32% (Biểu đồ 03). Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ stress mức độ cao ở sinh viên Y Thái Bình
(37,5%) [2]. Có thể là do sự khác nhau ở đối tượng nghiên cứu giữa sinh viên Điều dưỡng và
sinh viên Y khoa nói chung. Ngoài ra, kết quả này cao hơn hẳn so với một số nghiên cứu khác
là do sự khác nhau về thang đo và trên các cách phân loại mức độ stress khác nhau.

Biểu đồ 03: Thực trạng stress của sinh viên (n=153)
4.2
Mối liên quan đơn biến
4.2.1 Mối liên quan giữa stress và đặc điểm cá nhân
Bảng 02: Mối liên quan đơn biến giữa stress và đặc điểm cá nhân của sinh viên
(n=153)
Tình trạng Stress
Không có
stress mức
độ cao

Stress mức
độ cao



31 (62,0)

19 (38,0)

Nội thành

76 (70,4)

32 (29,6)

Ngoại thành

28 (62,2)

17 (37,8)

0,916

1,05

0,45-2,42

1,49

0,73-3,04

0,273

1,44

1,72

0,17-17,39

0,645

18 (78,3)

5 (21,7)

1,33

0,13-13,82

0.809

3 (75,0)

1 (25,0)

0,83

0,07-9,85

0,885



39 (66,1)


mức độ cao

Stress mức
độ cao

SL (%)

SL (%)

Bố mẹ

99 (69,2)

44 (30,8)

Anh chị

2(66,7)

1 (33,3)

3 (42,9)

4 (57,1)

4 (30,8)

9 (69,2)

3 (60,0)


24 (35,3)

6,00

0,60 - 60,44

0,128

Đủ

35 (74,5)

12 (25,5)

4,90

1,05 – 22,97

0,043

Thoải mái

18 (90,0)

2 (10,0)

3,08

0,62 – 15,30

84 (69,4)

37 (30,6)

0,73

0,32-1,66

0,460

0,51 – 2,02

0,962

0,76-3,19

0,223

Xếp loại học tập
Trung bình trở xuống
Khá trở lên

45 (68,2)

21
(31,8)

59 (67,8)

28

Bảng 04: Mối liên quan giữa stress của sinh viên với tình bạn, thói quen giải trí, tập
thể dục (n=153)
Stress
Không có
stress mức độ
cao

Stress mức
độ cao

OR

CI
95%OR

p

0,38

0,18 – 0,78

0,008

3,3

1,0 – 10,9

0,05

SL (%)

Trường Đại học Thăng Long

184


Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần II

Tập thể dục
Không bao giờ

7 (35,0)

13 (65,0)

70 (73,7)

25 (26,3)

Thường xuyên

15 (65,2)

Rất đều đặn

12 (80,0)

Thỉnh thoảng

7,43


4.2.4 Mối liên quan giữa thực trạng stress và yếu tố áp lực học tập
Bảng 05: Mối liên quan giữa thực trạng stress và yếu tố áp lực học tập(n=153)
Stress
Không có stress Stress mức
mức độ cao
độ cao
SL (%)

OR

CI 95%OR

p

3,34

1,42 – 7,83

0,003

SL (%)

Áp lực trong học tập
41 (83,7)

8 (16,3)

63 (60,6)

41 (39,4)

SL (%)

66 (66,0)

34 (34,0)

OR

CI 95%OR

p

0,766

0,37 – 1,59

0,470

1,07

0,44 – 2,60

0,873

1,27

0,58 – 2,79

0,549


13 (36,1)

Nghiên cứu chưa tìm được mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa thực trạng stress và
các yếu tố hỗ trợ.
4.3 Mô hình hồi quy đa biến giữa stress và các yếu tố liên quan
Bảng 07: Mô hình hồi quy đa biến giữa stress và các yếu tố liên quan (n=153)
Hệ số
hồi quy

OR

CI 95,0%
OR

p

(B)

Sai số
chuẩn
(Se)

-

-

1

-


12,826

1,567104,991

0,017

Gần đủ

0,395

1,299

1,485

0,116-18,931

0,761

Đủ

0,852

0,880

2,343

0,417-13,159

0,333


-

1

-

-

Lâu hơn 4 năm

0,221

0,453

0,626

0,513 –
3,029

0,626

-

-

1

-

-


1,702

0,293-9,892

0,554

-

-

1

-

-

-1,192

0,523

0,304

0,106-0,873

0,027

Mức độ cao

-


-

Mức độ thấp

0,377

0,492

1,458

0,556-3,824

0,444

Mức độ cao

-

-

1

-

-

Mức độ thấp

0,306


Mức độ tập thể dục
Không bao giờ

Áp lực học tập
Thấp
Trung bình, cao
Hỗ trợ từ bạn bè

Hỗ trợ từ gia đình

Hô trợ từ người đặc biệt

Tình trạng có bạn thân

Không

Cỡ mẫu phân tích (n) = 153; (*) = nhóm so sánh; (-) = Không áp dụng
Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer & Lemeshow test)
Chi-square = 11,096; df = 8; p = 0,196
Kết quả hồi quy đa biến cho thấy có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình hình tài
chính, mức độ tập thể dục và áp lực học tập và mức độ stress của sinh viên. Cụ thể sinh viên
không đủ đóng học phí có nguy cơ stress mức độ cao gấp gần 13 lần sinh viên đủ tiền đóng
học phí. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Sinh viên không tập thể dục bao
giờ có nguy cơ stress mức độ cao gấp hơn 8 lần sinh viên thỉnh thoảng có tập thể dục.Sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Sinh viên chịu áp lực học tập mức độ trung bình và
Trường Đại học Thăng Long

187


[1]. Võ Hoàng Anh (2010), "Mức độ biểu hiện stress của sinh viên trường ĐHSPĐHĐN", Tuyển tập báo cáo Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 7 Đại học Đà
Nẵng năm 2010.
[2]. Nguyễn Thị Hiền (2013), "Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch , tâm thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình”, Luận án Tiến sỹ Y học.
[3]. Đặng Phương Kiệt (2004), Stress và sức khoẻ, NXB Thanh Niên, Hà Nội.
[4]. Nguyễn Triệu Phong (2011), "Áp lực học tập và một số vấn đề về sức khỏe tâm
thần ở sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Hà Nội năm 2011", Kỷ yếu NCKH - đại học Y Hà
Nội 2011.
[5]. Bộ Y tế (2004), "Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt NamSAVY II".
[6]. Nguyễn Viết Thiêm (2003), Rối loạn lo âu, các rối loạn liên quan với stress và
điều trị học trong tâm thần, Bộ môn Tâm Thần, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh
Trường Đại học Thăng Long

188


Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần II

[7]. Sandor szabo et al (2012), "Selye and the origins of stress research", Informa
Healthcare USA. 15(5), tr. 472-478.
[8]. M.S Elizabeth Scott (2014), Stress In College: The Many Causes of Stress in
College, About health.
[9] Nancy W. Dahlem, Gregory D. Zimet (1991), The Multidimrnsional scale of
perceived social support: a confimation study; Journal of clinical psychology, November
1991, Vol 47,
[10]. Gordana Brunmini et al (2008), The Perception of stress among students of the
professional study of nursing medical facutly of Rijeka
[11]. Rebecca J Frye (2003), Stress, Gale Encyclopedia of Mental Disode.
[12]. Marry Gormandy White (2014), "Stress Causes of college students", About
health.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status