TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, KHẨU PHẦN ăn và một số yếu tố LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM HIV ĐANG điều TRỊ tại PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ BỆNH VIỆN BẠCH MAI, năm 2019 - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐẶNG ĐỨC NGỌC

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, KHẨU PHẦN ĂN VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM HIV
ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI, NĂM 2019

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐẶNG ĐỨC NGỌC

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, KHẨU PHẦN ĂN VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM HIV
ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI, NĂM 2019


1.6.2. Bệnh nhiễm trùng cơ hội........................................................................16
1.6.3. Kiến thức về dinh dưỡng........................................................................16
1.7. Tổng quan chung về tình hình dinh dưỡng và chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS tại Việt Nam.......................................................................................17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................20
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.................................................................20
2.2. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................20
2.3. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................20
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu................................................................................20
2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu......................................................................20
2.3.3. Các biến số nghiên cứu..........................................................................21
2.4. Biến số và chỉ số...........................................................................................22


2.4.1. Biến số nghiên cứu.................................................................................22
2.4.2. Chỉ số nghiên cứu...................................................................................22
2.5. Phương pháp, công cụ thu thập và các chỉ tiêu đánh giá :.............................23
2.5.1. Phương pháp, kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu :..............................23
2.5.2. Đánh giá.................................................................................................24
2.6. Xử lý, phân tích số liệu.................................................................................25
2.7. Các loại sai số và cách khắc phục.................................................................26
2.7.1. Các loại sai số.........................................................................................26
2.7.2. Khắc phục..............................................................................................26
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu.............................................................................26
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................28
3.1. Đặc điểm chung và một số yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu........28
3.1.1. Đặc điểm chung......................................................................................28
3.1.2. Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu.......29
3.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người nhiễm HIV.................................31
3.2.1. Tình trạng dinh dưỡng chung (TTDD) của đối tượng nghiên cứu:.........31

Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo giới................31

Bảng 3.6

Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo nhóm tuổi:...............................31

Bảng 3.7.

Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu theo t ình trạng sử
dụng ARV...........................................................................................31

Bảng 3.8.

Giá trị dinh dưỡng khẩu phần của đối tượng nghiên cứu:...................32

Bảng 3.10. Mối liên quan giữa đáp ứng khẩu phần khuyến nghị và tình trạng dinh
dưỡng của đối tượng nghiên cứu.........................................................33
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa đáp ứng khẩu phần khuyến nghị và các giai đoạn
lâm sàng..............................................................................................34
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa đáp ứng khẩu phần khuyến nghị và nhiễm trùng cơ hội...34
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng (BMI) và số lượng tế bào
T-CD4.................................................................................................35


DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1.

Vòng xoắn bệnh lý giữa HIV và dinh dưỡng kém ............................10


HIV, năm 2005 tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra bằng chứng về sự cần thiết của dinh
dưỡng bao gồm cả chất đa lượng và vi lượng đối với người nhiễm HIV/AIDS [4].
Tại Việt Nam, các dự án hỗ trợ các người nhiễm HIV về chăm sóc dinh dưỡng
vẫn còn hạn chế, người nhiễm HIV ít được biết đến chế độ dinh dưỡng hợp lý để tự
chăm sóc bản thân . Nghiên cứu nhằm cung cấp các bằng chứng về khẩu phần thực


2

tế và tình trạng dinh dưỡng để có những giải pháp hữu hiệu cho cải thiện tình trạng
dinh dưỡng của người có HIV, cung cấp sự chăm sóc toàn diện đặc biệt về thực
phẩm và dinh dưỡng cho người nhiễm HIV/AIDS và giúp họ có được hệ miễn dịch
tốt hơn, khả năng sống lâu hơn. Phòng khám ngoại trú (OPC) ở bệnh viện Bạch Mai
là một trong những OPC có lượng bệnh nhân đến khám đông nhất, hàng tháng tiếp
nhận hàng nghìn bệnh nhân đến khám và điều trị, đối tượng khách hàng có đủ các
thành phần trong xã hội. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình trạng dinh
dưỡng, khẩu phần ăn và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân nhiễm HIV
đang điều trị tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Bạch Mai, năm 2019”
MỤC TIÊU
1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn của bệnh nhân HIV đang điều trị
ở phòng khám ngoại trú bệnh viện Bạch Mai.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân HIV
trên


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về HIV

Cũng năm 1986, Montagnier và cộng sự lại phân lập được HIV-2 ở Tây Phi có
cùng phương thức lây truyền, nhưng thời gian ủ bệnh dài hơn HIV-1 và chủ yếu gặp
ở tây Phi.
Tháng 3/1985 người ta bắt đầu sử dụng các bộ sinh phẩm để phát hiện kháng
thể kháng HIV bằng kỹ thuật gắn men ELISA.
Như vậy, HIV tuy phân lập được từ năm 1983 nhưng khi thử lại với HIV-1,
HIV-2 trên huyết thanh của những bệnh nhân ở Zaire được cất giữ từ năm 1959 và
trên bệnh phẩm của một bệnh nhân Zaire cất giữ từ năm 1976 người ta thấy dương
tính với HIV-1. Điều này chứng tỏ HIV có thể đã xuất hiện từ thập kỷ 60-70 của thế
kỷ trước, nhưng phải đến những năm của thập kỷ 80 mới bùng nổ thành đại dịch
[8], [9].
1.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Nhiễm HIV ở người được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xem như đại dịch.
Việc chủ quan với HIV càng tăng nguy cơ lây bệnh. Theo báo cáo của UNAIDS và
WHO, kể từ khi phát hiện năm 1981 đến cuối năm 2008 có trên 60 triệu người
nhiễm HIV, trong đó có trên 25 triệu người chết do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV mới
đang gia tăng ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Kenya, Mozambique,
Papua New Guinea, Liên bang Nga, Ukraine và Việt Nam. Việc gia tăng những ca
nhiễm HIV mới cũng quan sát được ở một số quốc gia nơi dịch được phát hiện sớm
nhất cũng như số các ca mới nhiễm cũng tăng ở những quốc gia như Ðức, Anh và
Australia. Ước tính khoảng 33 triệu (dao động từ 30,3 - 36,1 triệu) người sống với
HIV trên toàn thế giới. 2,7 triệu (dao động từ 2,2 triệu - 3,2 triệu) trường hợp nhiễm
mới trong năm 2007. Hai triệu (dao động từ 1,8 triệu - 2,3 triệu) người chết vì AIDS
trong năm 2007.
Cho dù những năm gần đây chúng ta đã đạt được nhiều tiến bộ trong công tác
phòng chống AIDS, bao gồm cả việc tiếp cận điều trị ART và chăm sóc người
nhiễm HIV/AIDS ở nhiều khu vực trên thế giới, nhưng trong năm 2009 đại dịch
AIDS vẫn lấy đi 1,8 triệu sinh mạng, trong đó có khoảng 260.000 trẻ em [10]. Dù
trong hai năm qua số ca tử vong có liên quan đến AIDS đã giảm từ 2,2 triệu xuống


97,8% số quận/huyện trong toàn quốc đã có báo cáo về người nhiễm HIV/AIDS.


6

Tính riêng trong 9 tháng đầu năm 2017, toàn quốc đã phát hiện mới 6.883
người nhiễm HIV, 3.484 bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS và 1.260 người tử
vong do AIDS. Phân tích hình thái nguy cơ lây nhiễm cho thấy, trong số những
người mới được phát hiện nhiễm HIV trong 9 tháng đầu năm có 32% bị nhiễm qua
đường máu, 58% qua đường tình dục, 2,6% qua đường mẹ - con và 8% không rõ
đường lây. Tỷ lệ người nhiễm HIV là nam chiếm 78% và nữ chiếm 22%. Phần lớn
người nhiễm HIV được phát hiện trong 9 tháng qua ở nhóm tuổi 20-29 (chiếm 82%)
[12]. Số người mới được phát hiện nhiễm HIV giảm 1,1%, số mới chuyển thành
AIDS (bệnh nhân AIDS mới) giảm 39%, số trường hợp mới tử vong do AIDS giảm
15% so với cùng kỳ năm năm 2016. Tuy nhiên số liệu báo cáo đến tháng 9/2017
chưa phản ánh hết tình hình nhiễm HIV/AIDS trên phạm vi toàn quốc do một số địa
phương chưa báo cáo về Bộ Y tế.
Dịch lan rộng ở hầu khắp các tỉnh thành phố trên cả nước, tập trung ở các
nhóm đối tượng có nguy cơ cao: nghiện chích ma túy, gái mại dâm, bệnh nhân
lao… Qua điều tra, khoảng 60% người nhiễm HIV ở Việt Nam là do tiêm chích ma
túy, số còn lại phát sinh từ gái mại dâm và các đối tượng khác. Hành vi tình dục
không an toàn và sử dụng ma túy theo con đường tiêm chích chính là yếu tố làm
dịch HIV lan tràn ở Việt Nam. Ước tính vào năm 2012 tổng số người nhiễm HIV tại
Việt nam sẽ là khoảng 280.000 [13].
Hiện nay, bộ Y tế Việt Nam đang thực hiện rất nhiều chương trình nhằm làm
giảm tỷ lệ mắc HIV và nâng cao hiệu quả điều trị HIV/AIDS như chương trình
giám sát dịch, chương trình giáo dục thay đổi hành vi, chương trình dự phòng lây
truyền... và đặc biệt là chương trình tiếp cận điều trị ARV đang tiếp tục được mở
rộng, tính đến tháng 9/2010, toàn quốc có 315 cơ sở điều trị ARV, trong đó có 287
phòng khám ngoại trú người lớn (gồm 2 cơ sở thuộc tuyến Trung ương, 130 cơ sở

vô hiệu và cơ thể dần dần yếu đi tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội. Đồng
thời việc hủy diệt các tế bào T-CD4 gây suy giảm miễn dịch cả miễn dịch dịch thể
và miễn dịch tế bào. Do đó gây ra các rối loạn đáp ứng miễn dịch ở bệnh nhân
HIV/AIDS [18].
Hậu quả của các rối loạn đáp ứng miễn dịch này là bệnh nhân bị các nhiễm
trùng cơ hội (thường do nấm, vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng sinh sản trong tế bào)


8

hoặc các loại ung thư đặc biệt (Sarcoma Kaposi). Hầu hết những người nhiễm HIV
nếu không được điều trị sẽ tiến triển sang giai đoạn AIDS. Người bệnh thường chết
do bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc bệnh ác tính liên quan đến sự suy giảm hệ thống
miễn dịch [19], [20]. HIV tiến triển sang AIDS theo một tỷ lệ biến thiên phụ thuộc
sự tác động của vi rút, bản thân cơ thể người bệnh (tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng
cũng như bệnh tật kèm theo..) và yếu tố môi trường; Hầu hết chuyển sang AIDS sau
10 năm: một số sớm hơn còn một số lâu hơn [21], [22], [23].
Do vậy, tình trạng dinh dưỡng không phù hợp càng khiến cho sức khỏe họ
giảm sút, hệ miễn dịch càng suy yếu và họ dễ bị tử vong vì nhiễm trùng cơ hội
nhiều hơn là do bệnh AIDS [24], [25], [26], [27].
1.3. Dinh dưỡng đối với người nhiễm HIV
Từ xa xưa, Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác đã xác định rõ tầm quan trọng
của dinh dưỡng và dùng thuốc. Theo ông: ″Có thuốc mà không có ăn thì cũng sẽ đi
đến chỗ chết″[28]. Chế độ ăn và một nếp sinh hoạt điều độ có thể giúp bệnh nhân
kéo dài được tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống [29]. Đặc biệt với người
nhiễm HIV, dinh dưỡng còn đóng vai trò quan trọng hơn, nhất là ở người mới bắt
đầu được điều trị bằng ART. Hiện nay chăm sóc người nhiễm HIV toàn diện thì
không thể thiếu việc chăm sóc về mặt dinh dưỡng [30].
Sự liên quan giữa HIV và suy dinh dưỡng đã được nhiều nghiên cứu trên thế
giới chứng minh theo như nghiên cứu ở Malawi năm 2005 ước tính có 14.4% người

Ảnh hướng của sụt cân và suy dinh dưỡng với người nhiễm HIV:
Nguyên nhân chính khiến người nhiễm HIV bị sụt cân và suy dinh dưỡng là
do: nhu cầu năng lượng gia tăng do bị nhiễm trùng, hàm lượng các chất dinh dưỡng
và năng lượng đưa vào không đủ nhu cầu như khuyến cáo và giảm hấp thu các
khoáng chất.
Việc thiếu hụt năng lượng cũng như vi chất đều gây tổn hại đến hệ miễn dịch
và dẫn tới các nhiễm trùng cơ hội. Khi trọng lượng sụt giảm 5% họ đều có biểu hiện
gia tăng tình trạng bệnh tật cũng như tỷ lệ tử vong [42], [43].
Tình trạng suy dinh dưỡng, hội chứng suy kiệt còn khiến cho hàm lượng
khoáng chất bị sụt giảm, do đó gây thay đổi hằng tính nội môi và càng làm cho
người nhiễm HIV dễ bị tử vong hơn. Suy dinh dưỡng và sự hao mòn cũng làm cho
hệ miễn dịch của người nhiễm HIV càng suy yếu hơn, giảm tế bào T-CD4 [44], làm


10

cho họ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội [45], đặc biệt ở những người mới bắt
đầu được điều trị bằng ARV [46], thêm nữa sự phân bố mỡ trong cơ thể cũng bị
biến đổi gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [34], [35].
Khi suy dinh dưỡng và hội chứng hao mòn được coi như một tình trạng sức
khỏe cần được quan tâm trong chứng bệnh HIV/AIDS, thì các vấn đề khác liên
quan đến dinh dưỡng cần phải theo dõi : như hội chứng chuyển hóa, hàm lượng
cholesterol và lượng đường trong máu, sự béo trệ, cấu trúc xương bị hư tổn cũng
như các bệnh khác cũng đồng thời xuất hiện.
Được thể hiện qua sơ đồ của USAID, WHO: vòng xoắn bệnh lý của suy dinh
dưỡng và HIV [47]. Và tổ chức lương nông thế giới đã đưa ra các lời khuyên cũng
như các tác động của dinh dưỡng kém với người nhiễm HIV/AIDS.

Hình 1.1. Vòng xoắn bệnh lý giữa HIV và dinh dưỡng kém [48]
Vì thế, điều cấp thiết là người nhiễm HIV/AIDS cần phải theo một chế độ

cho người nhiễm HIV: giúp họ tăng cân trở lại, duy trì cân nặng; Giúp tăng cường hệ
miễn dịch do vậy cải thiện được khả năng chống lại vi rút HIV và các bệnh nhiễm
trùng cơ hội; Giảm tần suất mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và làm ngắn thời gian
mắc các bệnh này lại do vậy cũng làm chậm quá trình tiến triển sang AIDS. Điều này


12

rất có ý nghĩa với người nhiễm HIV – nó khiến cho tuổi thọ của họ được kéo dài hơn.
Và như vậy sẽ cắt đứt được vòng xoắn bệnh lý do thiếu hụt dinh dưỡng gây ra (bảng
1.1). Và chế độ dinh dưỡng tốt không chỉ giúp người nhiễm HIV kéo dài tuổi thọ mà
còn duy trì một cuộc sống khỏe mạnh, giảm thiểu sự thay đổi hình thức bên ngoài do
các phản ứng phụ của thuốc đặc trị bệnh, giảm tình trạng gầy mòn, giảm sự tiêu hao
khối nạc của cơ thể cũng như giảm tình trạng suy dinh dưỡng.
1.4. Chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV [57], [18]
1.4.1. Chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS (lâm sàng và cận lâm sàng)
Lâm sàng: Khác với các nhiễm trùng khác, mầm bệnh chỉ tồn tại một thời
gian ngắn trong cơ thể, HIV một khi đã tích hợp vào bộ gen của tế bào chủ nó sẽ tồn
tại cùng với vật chủ cả đời. Thậm chí sau khi tử vong, HIV vẫn tiếp tục sống trong
tử thi vài ngày, do vậy, người nhiễm HIV có thể truyền bệnh cho người khác suốt cả
đời mình. Nghiên cứu lịch sử tự nhiên của bệnh, người ta thấy nhiễm HIV diễn biến
qua nhiều giai đoạn từ sơ nhiễm qua giai đoạn cửa sổ đến giai đoạn nhiễm HIV
không có triệu chứng, rồi xuất hiện bệnh hạch dai dẳng toàn thân và cuối cùng là
các biểu hiện cận AIDS và AIDS. Thời gian từ khi nhiễm HIV đến khi diễn biến
thành trung bình khoảng 5-7 năm. Trong khi đó, người nhiễm HIV mặc dù không có
biểu hiện gì trên lâm sàng vẫn luôn có khả năng lây nhiễm cho người khác. Đến khi
có biểu hiện của AIDS và được phát hiện thì người đó đã gây bệnh cho nhiều người.
[58]
Cận lâm sàng: Cách duy nhất để khẳng định một người bị nhiễm HIV hay
không phải dựa vào kết quả xét nghiệm máu.

- Giai đoạn 1 (không có triệu chứng)
+ Hạch to toàn thân
- Giai đoạn 2 (triệu chứng nhẹ)
+ Sút cân không rõ nguyên nhân (< 10% trọng lượng cơ thể)
+ Viêm hầu họng, mũi
+ Zona, herpes, viêm bã nhờn, nhiễm nấm móng
+ Viêm miệng tái diễn, Phát ban sẩn ngứa
- Giai đoạn 3 (Triệu chứng tiến triển)
+ Sút cân nặng không rõ nguyên nhân (>10% trọng lượng cơ thể)
+ Tiêu chảy, Sốt không rõ nguyên nhân
+ Nhiễm nấm Candida miệng tái diễn, Lao phổi


14

+ Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn,
+ Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi.
+ Thiếu máu (Hb < 80g/l), giảm bạch cầu trung tính hoặc và giảm tiểu
cầu mạn tính.
- Giai đoạn 4 (triệu chứng nặng)
+ Hội chứng suy mòn do HIV (sụt cân > 10%, sốt > 1 tháng hoặc tiêu chảy
> 1 tháng không rõ nguyên nhân)
+ Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (PCP)
+ Candida thực quản hoặc phế quản, phổi.
+ Tiêu chảy mạn tính,
+ Nhiễm trùng huyết tái diễn…
1.4.5. Điều trị nhiễm HIV và AIDS
Hiện nay chưa có thuốc điều trị khỏi HIV/AIDS do vậy việc điều trị hiện nay
chủ yếu nhằm:
Hạn chế sự nhân lên của HIV bằng cách dùng các thuốc ức chế men sao chép

Hiện tại WHO khuyến cáo nên dùng BMI để nhận định về tình trạng dinh
dưỡng, chỉ số BMI có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể do đó là
một chỉ số được WHO khuyến nghị dùng để đánh giá mức độ béo gầy [42], [63].
Cân nặng (kg)
BMI =
(Chiều cao)2 (m)
1.5.1. Phương pháp điều tra khẩu phần, tập quán ăn uống
Một số phương pháp hay dùng hiện nay là hỏi ghi 24 giờ qua (trong 1 ngày
hoặc trong nhiều ngày), hỏi tần suất xuất hiện thực phẩm, hỏi tần suất xuất hiện
thực phẩm bán định lượng, điều tra hộ gia đình…
Điều tra cá thể: hay dùng phương pháp hỏi ghi khẩu phần 24 giờ qua và tần suất
xuất hiện thực phẩm. Hai phương pháp này nhằm đưa ra một bức tranh toàn cảnh của
đối tượng đặc biệt là ở người nhiễm HIV, dựa vào phương pháp này chúng ta có được
sự phản ánh sự có mặt của một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần của đối
tượng, định lượng được các chất dinh dưỡng đưa từ thực phẩm trong 24 giờ qua.
Tập quán ăn uống: phản ánh được thói quen ăn hay không ăn loại thức ăn nào
đó, cách chế biến thực phẩm, số lượng các bữa trong ngày (có ăn đủ 3 bữa chính
hay không), tính chất vùng miền…


16

1.5.2. Các biểu hiện lâm sàng về tình trạng dinh dưỡng
Khám thực thể là phương pháp nhằm xác định được những bệnh thiếu dinh
dưỡng qua các triệu chứng điển hình xuất hiện cả trong bệnh viện và trên cộng đồng.
1.6. Các yếu tố khác có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ.
Kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, sinh học,khí hậu,…và công tác y tế cũng
như bệnh tật kèm theo.
1.6.1. Điều kiện kinh tế
Điều kiện kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng dinh dưỡng của người

cải thiện tình trạng dinh dưỡng qua tăng cường kiến thức và thực hành nấu ăn hợp
lý đã giúp các phụ nữ tăng cân và hỗ trợ chế độ chữa trị kháng vi-rút được tốt hơn.
1.7. Tổng quan chung về tình hình dinh dưỡng và chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS tại Việt Nam
Bên cạnh những nỗ lực trong việc thúc đẩy các can thiệp giảm tác hại cho
nhóm có hành vi nguy cơ cao, một phần quan trọng và cơ bản không thể thiếu được
của đáp ứng đối với dịch là chăm sóc dinh dưỡng cho người nhiễm HIV. Số lượng
người nhiễm HIV ngày càng tăng nhanh như hiện nay sẽ kéo theo nhu cầu chăm sóc
dinh dưỡng và điều trị rất lớn. Do khó khăn về thuốc điều trị, phương pháp điều trị,
chế độ, chính sách cho các cán bộ y tế trực tiếp chăm sóc, điều trị người nhiễm
HIV/AIDS …thì chăm sóc, dinh dưỡng tại nhà và cộng đồng vẫn là giải pháp chủ
đạo và trước mắt. Chăm sóc tại cộng đồng và thành lập những nhóm người nhiễm
HIV hỗ trợ lẫn nhau sẽ giúp cho người nhiễm HIV sống tốt hơn. Ngoài ra, việc
hướng dẫn cho những gia đình đang chăm sóc người nhiễm biết cách phòng chống
lây truyền sang những người chưa nhiễm tại gia đình là rất cần thiết để họ khỏi lúng
túng và biết cách chăm sóc, điều trị một cách an toàn cho người thân của họ đồng
thời với việc tư vấn, hỗ trợ tinh thần cho người nhiễm để họ hiểu được trạng thái
nhiễm của mình và bảo đảm tiêm chích và quan hệ tình dục an toàn. Những hỗ trợ
này cần thiết thực như: hỗ trợ về y tế, hỗ trợ về kinh tế cũng như hỗ trợ về tâm lý
cho người nhiễm HIV.
Một nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Khoát và CS tại Đà Nẵng năm 1997 đã
cho thấy chỉ có 33,3% người dân cộng đồng xung quanh tán thành, đối xử bình
thường với người nhiễm HIV/AIDS; có 48,9% gia đình của người nhiễm được biết
chính thức về tình hình người nhiễm trong gia đình, như vậy vấn đề đặt ra ở đây là


18

người nhiễm HIV sẽ không có cơ hội được chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ như những
người bình thường. Phần lớn những phụ nữ mang thai nhiễm HIV là những người


sữa thay thế vì trẻ sẽ bị chịu tác động của 2 nguồn nhiễm : HIV+ từ mẹ và ô nhiễm từ
sữa pha không hợp vệ sinh [65]. Một mô hình chăm sóc dinh dưỡng lần đầu tiên được
thử nghiệm cho bà mẹ nhiễm HIV do 2 tác giả Pauline Oosterhoff và Phạm Thị Thúy
Hoà -Viện Dinh dưỡng vừa thử nghiệm với nội dung “Lý thuyết dễ tiếp thu hơn bài
học nấu ăn cho phụ nữ nhiễm HIV ở Việt Nam”, thông qua việc giúp đỡ tư vấn dinh
dưỡng và các bài học thực hành nấu ăn các phụ nữ HIV+ ở Hà nội, kết quả lên cân
mức tăng cân nặng trung bình trong 25 phụ nữ sau 10 bài giảng là 1,2kg, họ trở nên
tự tin hơn và những người chồng của họ cùng tìm cách tham gia khoá học. Tăng cân
được duy trì (sau 12 tháng) và một số phụ nữ tiếp tục tăng cân. Phụ nữ trong khóa
học nói rằng họ tự tin hơn bởi vì họ biết nấu ăn giỏi hơn [54]. Tuy nhiên nghiên cứu
này chỉ mới được áp dụng trên 25 phụ nữ đang nuôi con nhỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status