BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRỊNH PHƢƠNG THẢO
TÌNH TRẠNG LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM
UNG BƢỚU – BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRỊNH PHƢƠNG THẢO
T×NH TR¹NG LO ¢U Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N
QUAN
TR£N BÖNH NH¢N UNG TH¦ §IÒU TRÞ T¹I
TRUNG T¢M
UNG B¦íU – BÖNH VIÖN B¹CH MAI N¡M 2015
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Trịnh Phương Thảo
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
-
Ban Giám hiệu Trƣờng Đại học Y Hà Nội.
-
Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, Trƣờng Đại học Y Hà Nội.
-
Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng _ Trƣờng Đại học Y
Hà Nội.
-
Bộ môn Tổ chức và quản lý y tế - Trƣờng Đại học Y Hà Nội.
-
Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ năm học 2015-2016.
Em xin cam đoan đây là nghiên cứu của em. Các số liệu, cách xử lý, phân
Tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu
HADS
Thang đánh giá lo âu và trầm cảm tại bệnh viện
ICD – 10
Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
Min
Giá trị nhỏ nhất
Max
Giá trị lớn nhất
NC
Nghiên cứu
OR
Tỷ suất chênh
SAS
Thang tự đánh giá lo âu của Zung
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................ 18
2.2. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 18
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân ...................................................... 18
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ .......................................................................... 18
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 18
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................ 18
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu ..................................... 18
2.4. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin ................................................. 19
2.4.1. Công cụ thu thập thông tin .............................................................. 19
2.4.2. Kỹ thuật thu thập thông tin ............................................................. 20
2.5. Biến số và chỉ số nghiên cứu ................................................................ 20
2.6. Khống chế sai số trong nghiên cứu ....................................................... 22
2.7. Xử lý và phân tích số liệu ..................................................................... 22
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ......................................................... 23
CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 24
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu .......................................... 24
3.2. Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu ........................................... 31
3.2.1. Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu ............................................. 31
3.2.2. Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu ............................................. 33
3.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh .................... 40
CHƢƠNG 4 BÀN LUẬN ............................................................................. 47
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. ......................................... 47
4.2. Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu ........................................... 51
4.2.1 Tỉ lệ lo âu chung .............................................................................. 51
4.2.2. Tỉ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học .... 52
4.2.3. Tỉ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh ....... 53
4.2.4. Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm môi trường
bệnh viện ................................................................................................... 54
Bảng 3.4.
Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang HADS ........... 31
Bảng 3.5.
Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang SAS .............. 32
Bảng 3.6.
Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm thông tin
cá nhân ........................................................................................ 33
Bảng 3.7.
Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh ... 36
Bảng 3.8.
Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm môi
trường bệnh viện ......................................................................... 38
Bảng 3.9.
Mối liên quan giữa các yếu tố về nhân khẩu học đến tình trạng lo
âu của bệnh nhân ......................................................................... 40
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa các yếu tố về kinh tế đến tình trạng lo âu của
người bệnh................................................................................... 41
đoạn III hoặc IV dẫn đến những tổn thất rất nặng nề đối với toàn xã hội [7].
Ngày nay, nền y học và khoa học kĩ thuật phát triển hiện đại với những
phương pháp điều trị tiên tiến, hiệu quả đã mang thêm niềm hi vọng cho bệnh nhân
ung thư nhưng những gánh nặng mà họ phải chịu đựng vẫn là rất lớn [8]. Bên cạnh
việc đối mặt với các vấn đề về kinh tế như trang trải viện phí hay đau đớn về thể
xác, suy giảm sức khỏe thì những tổn thương về tinh thần, lo lắng, căng thẳng cũng
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư.
2
Theo nghiên cứu của Bottomley A (1998), những triệu chứng lo âu rất phổ biến trên
bệnh nhân ung thư nhưng lại thường ít được chẩn đoán và điều trị dẫn đến nhiều
trường hợp người bệnh không tuân theo sự chăm sóc y tế tốt nhất để có thể phát huy
tối đa hiệu quả phục hồi [9]. Một nghiên cứu khác của Malekian A và cộng sự
(2008) cho thấy lo âu, trầm cảm có thể mang đến những tác động tiêu cực sâu sắc
với người bệnh ung thư về cả tình trạng chức năng, chất lượng cuộc sống, thời gian
nằm viện và hiệu quả điều trị do đó việc đánh giá đúng mức và điều trị những rối
loạn này là rất quan trọng [10].
Như vậy có thể thấy bên cạnh việc điều trị về thể chất thì người bệnh ung thư
rất cần được quan tâm chăm sóc về mặt tinh thần. Những cảm xúc tiêu cực, lo âu,
buồn phiền mà bệnh nhân ung thư đang trải qua hàng ngày cần phải được chú ý phát
hiện, tìm hiểu và có những giải pháp chăm sóc phù hợp nhằm mang đến hiệu quả
điều trị tốt nhất và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy vậy việc nghiên cứu các vấn
đề này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu –
Bệnh viện Bạch Mai được thành lập từ tháng 12 năm 2008 và đã có những thành
tựu to lớn trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư với những kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới. Hiện nay, chưa có nghiên
cứu nào về vấn đề lo âu của bệnh nhân ung thư được điều trị tại đây, do đó chúng
tôi thực hiện đề tài “Tình trạng lo âu và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân
Ít biệt hóa
Hiếm có phân bào
Luôn có gián phân
Phát triển chậm
Phát triển nhanh
Không xâm lấn
Xâm lấn lan rộng
Không có hoại tử
Hay có hoại tử trung tâm
Có vỏ bọc
Không có vỏ hoặc ranh giới
Rất ít tái phát
Luôn tái phát
Không di căn
Di căn
quan lân cận, ung thư phế quản chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên gây phù áo khoác.
Khối u vòm mũi họng chèn ép vào các dây thần kinh sọ gây liệt dây thần kinh sọ.
Ung thư cổ tử cung chèn ép niệu quản gây phù, vô niệu, ure huyết cao…
- Triệu chứng di căn: theo đường bạch mạch di căn hạch, theo đường máu gây
di căn các tạng gan phổi, di căn phúc mạc gây cổ trướng, di căn xương gây gãy
xương bệnh lý…
Hội chứng cận ung thư
Là một nhóm các triệu chứng lâm sàng và sinh học do hoạt động mang tính chất
5
nội tiết của một số ung thư. Một số hội chứng cận ung thư thường gặp như : hội
chứng Cushing (là hội chứng thường gặp nhất), hội chứng Schwartz – Bartter, hội
chứng cường calci huyết, hội chứng cường giáp trạng, các biểu hiện thần kinh cơ,
biểu hiện xương khớp, biểu hiện bệnh lý da [11].
1.1.3. Các nguyên tắc và phương pháp điều trị ung thư
Ung thư là bệnh rất đa dạng về chủng loại, khác nhau về nguyên nhân, sự phát
triển, vị trí tổn thương, giai đoạn và tiên lượng bệnh, do đó để điều trị đạt hiệu quả
cần áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau và chỉ định trên từng trường hợp
cụ thể theo các nguyên tắc:
-
Nguyên tắc phối hợp
-
Xác định rõ mục đích điều trị
-
Hóa trị liệu là phương pháp điều trị toàn thân bằng cách đưa các loại thuốc hóa
chất vào cơ thể (uống, tiêm, truyền, tĩnh mạch, truyền động mạch…) nhằm mục
đích tiêu diệt tất cả các tế bào ung thư đã và đang lưu hành trong cơ thể người
bệnh. Tuy nhiên hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư cũng gây hủy hoại tế bào lành,
6
và có nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân, vì vậy liều lượng hóa
chất đưa vào cơ thể bị hạn chế, có nhiều bệnh bản thân hóa chất không điều trị triệt
để được mà phải phối hợp với các phương pháp điều trị khác.
-
Phương pháp nội tiết, miễn dịch là biện pháp điều trị hỗ trợ các phương pháp
khác, bản thân nó không có tác dụng điều trị triệt để căn bệnh ung thư.
Như vậy có thể thấy mỗi phương pháp chỉ giải quyết được một khâu trong quá
trình điều trị, do đó theo như nguyên tắc phối hợp, các phương pháp này sẽ bổ sung
cho nhau tạo thành một quá trình điều trị hoàn chỉnh mang lại hiệu quả tốt nhất cho
người bệnh. Và việc phối hợp các phương pháp điều trị cũng là chỉ định bắt buộc
đối với nhiều loại ung thư [11].
1.1.4. Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư
1.1.4.1.Trên thế giới:
Ung thư đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử
vong trên toàn thế giới, với khoảng 14 triệu người mới mắc và 8,2 triệu ca tử vong
vào năm 2012 [1] .Số lượng các trường hợp mới mắc dự kiến sẽ tăng khoảng 70%
trong 2 thập kỷ tớivà hiện nay hơn 60% tổng số các trường hợp mới mắc hàng năm
của thế giới xảy ra ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ. Các vùng này cũng
chiếm đến 70% các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới [1],[13].
80.000 ca tử vong do ung thư mỗi năm. Dự báo vào năm 2020 sẽ có ít nhất 189
344 ca ung thư mới mắc [7]. Trong tổng số ca ung thư, nữ chiếm 43% và nam giới
57%. Bốn loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư gan, phổi, dạ dầy và
đại trực tràng, chiếm 66% tổng số ca ung thư mới mắc ở nam giới. Ở nữ giới, bốn
loại phổ biến nhất là ung thư vú, phổi, gan, cổ tử cung, chiếm gần 50% tổng số ca
ung thư mới mắc ở nữ [16]. Tỷ lệ bệnh nhân ung thư đến khám và điều trị sớm
còn thấp, năm 2009 một nghiên cứu tại 5 bệnh viện ung thư cho thấy có 28,6%
bệnh nhân đến khám trong giai đoạn I và II của tất cả các loại ung thư, đối với ung
thư vú có 50,5% đến sớm, ung thư cổ tử cung 46,0% đến sớm và ung thư đại trực
tràng 32,2% đến sớm [17].
Thống kê năm 2010, tổng số năm mất đi do tử vong sớm của bệnh nhân ung
thư tại Việt Nam là 2.319.533 YLLs, chiếm 19,2 % tổng số YLLs của tất cả các loại
bệnh. Về gánh nặng bệnh tật tính theo DALY, năm 2010 có 2.357.549 DALYs do
ung thư, chiếm 11% DALYs của tất cả các loại bệnh. Nhìn vào con số trên có thể
8
thấy ở nước ta, tỉ lệ bệnh nhân tử vong do ung thư cao, bệnh nặng mới đi khám
chữa nên thường tử vong nhanh, số năm sống tàn tật thấp [7].
1.2. Rối loạn lo âu
1.2.1. Một số khái niệm về lo âu
1.2.1.1. Lo âu bình thường
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và
các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại,
vươn tới. Lo âu cũng là tín hiệu cảnh báo trước những mối đe dọa đột ngột, trực tiếp
do đó giúp con người tồn tại và thích nghi [18]. Lo âu bình thường có chủ đề rõ
ràng trong cuộc sống như công việc, học tập… và mang tính chất nhất thời. Khi
những sự kiện trong đời sống ảnh hưởng đến tâm lý chủ thể hết tác động thì lo âu
cũng không còn hoặc còn lại rất ít triệu chứng [19].
-
Lo âu có thể kiểm soát được.
-
Lo âu gây khó chịu đôi chút, không -
Lo âu hết sức khó chịu, bồn chồn,
nặng nề.
căng thẳng.
Lo âu giới hạn trong một số tình -
Lo âu trong mọi tình huống bất kỳ,
huống có thật, hoàn cảnh đặc trưng,
luôn có xu hướng chờ đợi những kết
cụ thể.
cục xấu.
Lo âu chỉ tồn tại trong một thời -
Lo âu kéo dài ngày này qua ngày khác
10
- Ám ảnh sợ đặc hiệu
- Rối loạn ám ảnh nghi thức
- Rối loạn stress cấp
- Rối loạn stress sau sang chấn [25].
1.2.3. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu
Những người bị rối loạn lo âu thường cảm thấy rất sợ hãi, không chắc chắn
cùng với những biểu hiện đa dạng và phức tạp. Họ thường xuyên lo lắng và không
thể kiểm soát sự lo lắng, không thể thư giãn, khó tập trung, khó ngủ và duy trì giấc
ngủ, hay bất chợt giật mình, bồn chồn và cáu gắt. Ngoài ra các triệu chứng cơ thể
thường gặp là: mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, căng thẳng, đau nhức cơ bắp, run
rẩy, co giật, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp, khó thở, cảm giác như hết hơi, buồn
nôn…[26],[27].
1.3. Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thƣ
1.3.1. Tâm lý của bệnh nhân ung thư.
Mặc dù ngày nay với những tiến bộ không ngừng trong y học đã giúp phát
hiện sớm và kéo dài số năm sống cho bệnh nhân ung thư nhưng khi đối mặt với căn
bệnh này, người bệnh không chỉ lo lắng về sự sống và cái chết mà còn rất nhiều
những vấn đề khác bao gồm sự đau đớn trong cơ thể, những tác dụng phụ gây ra bởi
các phương pháp điều trị, những thương tật vĩnh viễn hoặc suy giảm chức năng các
cơ quan, quan hệ xã hội, khả năng chi trả… tác động đến tâm lý của họ [28],[29].
Sự cẳng thẳng tâm lý này diễn ra hàng ngày không chỉ với bệnh nhân ung thư mà
còn ảnh hưởng đến gia đình bệnh nhân và những người chăm sóc khác. Những tổn
thương về cả thể chất và tâm thần này có thể gây ra tình trạng mất khả năng lao
động hoặc thực hiện các vai trò xã hội của người bệnh [30]. Bên cạnh đó, những rối
loạn tâm lý tiến triển hàng ngày mà không được chú ý đến có thể ảnh hưởng lớn đến
việc điều trị ung thư và gây tử vong sớm. Do đó cần có những can thiệp để cải thiện
đời sống tinh thần sẽ có thể mang đến những hiệu quả điều trị tốt hơn cho người
bệnh ung thư [29].
1/3 trường hợp có các triệu chứng lo âu, sau đó các bác sĩ sử dụng các liệu pháp trấn
an tinh thần nhưng sự lo âu không vì thế mà giảm đi, như vậy lo âu vẫn có thể là
một vấn đề kể cả sau khi bệnh nhân ung thư đã được điều trị [37].
12
Xạ trị hiện nay đang là một phương pháp điều trị được chỉ định rộng rãi với nhiều
loại ung thư [11], để đánh giá những căng thẳng tâm lý của người bệnh ung thư đang
xạ trị ở Sydney - Australia, Mackenzie và cộng sự (2013) đã tiến hành nghiên cứu
trên 454 bệnh nhân bằng thang đo HADS cho kết quả 15% (HADS-A ≥11) [38]. Một
nghiên cứu khác cũng về vấn đề lo âu của người bệnh ung thư đang xạ trị do E. Frick
và cộng sự (2007) dùng thang đo HADS cho 63 bệnh nhân được kết quả tỉ lệ lo âu là
28,6% [39],[40]. Bên cạnh đó, trong một nghiên cứu của Neilson K.A và cộng sự
(2010) cho thấy có một sự thay đổi đáng kể về tỉ lệ lo âu của những bệnh nhân ung
thư vùng đầu và cổ trước và sau xạ trị. Tỉ lệ lo âu trước khi xạ trị là 30% và đã giảm
còn 17% sau khi xạ trị, những bệnh nhân là nam giới có các triệu chứng lo âu nhiều
hơn do sự lo lắng về khả năng quan hệ tình dục sau này của họ [41].
Ung thư vú hiện đang là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới [13], trong một
nghiên cứu trên 354 bệnh nhân ung thư vú do Maggie Watson và cộng sự (1991)
thực hiện nhằm đánh những phản ứng tâm lý của người bệnh cho thấy có 16% lo âu
và các dấu hiệu kiểm soát sự tức giận cùng thái độ bất lực có mối liên quan với
bệnh tật [42]. Ngoài ra, Diane Bodurka-Beversvà cộng sự (2000) thực hiện một
nghiên cứu cũng về vấn đề căng thẳng tâm lý nhưng trên các bệnh nhân ung thư
buồng trứng có kết quả 29% lo âu (n=246) [43].
Ung thư đường tiêu hóa đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với
các bệnh nhân ung thư ở Iran và cũng là loại ung thư phổ biến trên toàn thế giới.
Một nghiên cứu đã được tiến hành bởi Azadeh Tavoli và cộng sự (2007) nhằm
xem xét những rối loạn lo âu trên nhóm bệnh nhân này và liệu việc biết về chẩn
đoán bệnh có ảnh hưởng đến tâm lý của họ hay không. Nghiên cứu sử dụng thang
hạn chế. Năm 2014, Trương Thị Phương đã nghiên cứu về tỉ lệ lo âu trầm cảm trên
bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K (n=290) sử dụng thang đo HADS cho kết quả
27,2% có triệu chứng lo âu trong đó tỉ lệ lo âu thực sự là 11,4%. Điểm lo âu trung
bình là 5,7± 3,8 (min=0, max=19), tỉ lệ lo âu nữ (19,7%) cao hơn so với nam (4,4%).
Loại ung thư vú và cổ tử cung cho tỷ lệ lo âu cao nhất 26,3% và 19,6% [40].
1.3.3. Một số nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu trên bệnh
nhân ung thư.
Nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ lo âu và những mối liên quan trên bệnh nhân ung
thư, Ryan Spencer và cộng sự năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu trên 635 người
14
cho thấy có 7,6% bị rối loạn lo âu, phụ nữ, những bệnh nhân bị suy giảm thể chất
nặng và bệnh nhân trẻ tuổi xuất hiện nhiều dấu hiệu lo âu hơn. Bên cạnh đó, những
bệnh nhân bị rối loạn lo âu có biểu hiện ít tin tưởng vào bác sĩ hơn, họ cảm thấy
không thoải mái khi đặt câu hỏi về sức khỏe của mình và thường ít có khả năng hiểu
được các thông tin lâm sàng mà bác sĩ nói. Họ cũng có nhiều biểu hiện nghi ngờ
những phương pháp điều trị mà bác sĩ đưa ra cũng như nghĩ rằng sự điều trị đó
không thể kiểm soát đầy đủ những triệu chứng của họ [49].
Trong một nghiên cứu của Aass N và cộng sự (1997) tiến hành với 716 bệnh nhân
ung thư đo được tỉ lệ lo âu là 13% theo thang HADS. Những bệnh nhân nội trú có nguy
cơ bị các rối loạn tâm thần cao gấp hai lần những bệnh nhân ở phòng khám ngoại trú.
Nghiên cứu cũng cho thấy các triệu chứng lo âu xuất hiện ở nữ giới nhiều hơn nam, sự
suy giảm chức năng cơ thể, mệt mỏi, đau đớn cùng với việc hạn chế khả năng lao động
có ảnh hưởng đến sự lo âu của người bệnh [50].
Một nghiên cứu khác đã được thực hiện bởi Patricia A, ParkerWalter, Baile, Carl
de Moor và Lorenzo Cohen (2003) với mục tiêu xác định những triệu chứng rối
loạn tâm lý và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. Nghiên
cứu được tiến hành với 351 bệnh nhân và các kết quả phân tích chỉ ra rằng những
Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn tâm lý ở bệnh
nhân, trong đó có thang đo lo âu Zung, thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (StateTrait Anxiety Inventory), thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale
– HARS), thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện (HADS)…
- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self - Rating Anxiety Scale):do W.W.
Zung (1971) đề xuất là một phương pháp xác định mức độ lo lắng ở những bệnh
nhân có các triệu chứng lo âu chủ yếu tập trung vào những rối loạn phổ biến nhất,
những vấn đề căng thẳng thường gây ra lo lắng [55]. Test này được Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu bao gồm 20 câu hỏi
trong đó 15 câu hỏi về gia tăng sự lo lắng và 5 câu giảm. Có hai dạng đánh giá là tự
đánh giá và đánh giá lâm sàng. Các câu hỏi được tính điểm theo 4 mức tần suất xuất
hiện triệu chứng:
+ 1 điểm: không có hoặc ít thời gian.
+ 2 điểm: đôi khi.
+ 3 điểm: phần lớn thời gian
16
+ 4 điểm: hầu hết hoặc tất cả thời gian
Kết quả được đánh giá :
T < 50% : Không có lo âu bệnh lý
T > 50% : Có lo âu bệnh lý [43],[52].
- Thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory):
Để đo lường sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng lo âu hiện
tại. Có hai loại phiên bản cho cả người lớn và trẻ em. Công cụ này là 2 bảng tự đánh
giá gồm tổng số 40 câu hỏi, mỗi bảng là 20 câu, người bệnh sẽ tự đánh giá theo các
mức độ và được quy ra điểm: 1 điểm, 2 điểm, 3 điểm và 4 điểm. Ở mỗi bảng, số
điểm nằm trong khoảng 20-80 điểm, điểm càng cao thì càng cho thấy sự lo lắng
nhiều hơn. Với người lớn, thời gian yêu cầu để hoàn thành bảng đo là 10 phút. Đây
là một phương pháp đánh giá nhanh chóng, đơn giản, dễ dàng và rất phổ biến trên