Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
Mục lục
1
I. Mở đầu
3
1. Lý do chọn đề tài
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
4
3. Đối tượng nghiên cứu
4
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4
8
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt
8
ra
3. Giải pháp, biện pháp
9
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
9
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
9
3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
22
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
22
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
1
28
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
2
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là một trong các hình thức giáo dục trong hệ thống
giáo dục phổ thông. Xác định mục tiêu Giáo dục Tiểu học, trong điều 27, luật
Giáo dục 2011 đã quy định rõ: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học
cơ sở”.
Tiếng Việt là một trong các môn học có vai trò đặc biệt ở bậc Tiểu học,
điều đó được thể hiện qua thời lượng giảng dạy qua từng khối lớp, nó là phương
tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác. Môn Tiếng
Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh, thể
hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Cung cấp cho học sinh những kiến thức
sơ giản về Tiếng Việt và các hiểu biết về xã hội, tự nhiên và con người. Môn
Tiếng Việt còn là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp ở học sinh,
giúp học sinh chủ động, tự tin, mạnh dạn thể hiện ý kiến của mình. Từ đó giúp
học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản khác. Với mục tiêu cuối
cùng là bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
các em để đưa ra biện pháp hỗ trợ phù hợp thì phần lớn chúng ta chưa chỉ ra
cách làm đầy đủ và đúng hướng cho học sinh.
Xuất phát từ những thực trạng và băn khoăn đó, tôi chọn đề tài: “Một số
kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN”.
Mong rằng đề tài này sẽ mang lại những điều bổ ích cho học sinh, giáo viên và
phụ huynh trong việc dạy và học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN hiện nay.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài: Áp dụng một số kinh nghiệm để dạy học môn Tiếng
Việt theo mô hình trường học mới VNEN.
Nhiệm vụ của đề tài: Nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp
5 theo mô hình VNEN. Định hướng cho GV trong việc thực hiện tổ chức hoạt
động dạy học nhằm khắc phục một số hạn chế, khó khăn của học sinh trong học
Tiếng Việt. Học sinh chủ động, tích cực hơn trong các hoạt động học tập, góp
phần phát triển được phẩm chất, năng lực toàn diện cho học sinh, bồi dưỡng tình
yêu Tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, hình thành nhân cách
con người xã hội chủ nghĩa.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số kinh nghiệm để học tốt
môn Tiếng Việt lớp 5, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, theo mô hình VNEN.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Khuôn khổ nghiên cứu: Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn
Tiếng Việt lớp 5.
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
4
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 5, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi.
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
2.1. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
- Học sinh lớp 5 đa phần có nhận thức tốt hơn các lớp dưới, có trí tưởng
tượng và khả năng nhìn nhận và thâu tóm hình ảnh, học sinh biết dùng từ đặt
câu, nắm được kiến thức Tiếng Việt cơ bản.
- Học sinh được học 2 buổi trên ngày nên các em được tham gia học tập,
rèn luyện nhiều ở trường.
- Phòng học khang trang, sạch sẽ, lớp học trang trí đầy đủ với các công cụ
hỗ trợ học tập theo đặc trưng mô hình học tập VNEN.
- GV nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh.
- Phụ huynh học sinh đa phần đã có sự quan tâm chăm lo hơn về việc học
hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ vở và đồ dùng học tập, tạo
điều kiện thuận lợi cho các em tới trường, tạo được mối liên hệ với giáo viên
chủ nhiệm lớp và nhà trường.
* Khó khăn
Từ phía giáo viên:
- Môn Tiếng Việt là môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, giáo viên
chưa có biện pháp sư phạm phù hợp để phát huy tối đa năng lực học tập và cảm
thụ văn học, chưa khơi gợi ở các em lòng yêu thích Tiếng Việt, ham thích học
Tiếng Việt.
- Giáo viên còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm
công tác.
Từ phía học sinh:
- Một số em chưa thực sự quan tâm và chú ý môn Tiếng Việt.
- Ý thức môn số em chưa cao, chưa có sự tích cực và hợp tác trong giờ học.
Từ phía phụ huynh:
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
đạt câu văn của học sinh có nhiều tiến bộ, lỗi chính tả được cải thiện, học sinh
dùng từ ngữ chính xác, có hiệu quả.
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
7
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
- Học sinh tích cực, tự giác trong các hoạt động học tập.
- Rèn được các kỹ năng cho học sinh trong đó có kỹ năng giao tiếp, hợp tác.
- Phát triển được năng lực học tập cho học sinh thông qua các hoạt động
học tập.
* Mặt yếu
- Đòi hỏi GV phải có sự đầu tư, chuẩn bị nhiều cho mỗi tiết dạy. Quan
tâm, hỗ trợ nhiều đến các em còn nhiều hạn chế.
- Chưa có tác động tích cực đến các em còn nhiều hạn chế trong học tập.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Có được những thành công trên là do học sinh tích cực, chủ động với các
giải pháp theo hướng tự chủ của bản thân dưới sự hướng dẫn của giáo viên, do
đó mang lại hiểu quả rõ rệt cho mỗi giải pháp. Đồng thời do đặc trưng của mô
hình học tập VNEN: Học sinh học tập và giải quyết các nhiệm vụ học tập theo
nhóm, các em được hợp tác chia sẻ với nhau, nhận xét cho nhau và giúp nhau
khắc phục những sai sót thông qua từng ngày, từng giờ lên lớp. Do vậy thấy rõ
được hiệu quả cho từng giải pháp.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế:
- Đối tượng học sinh chưa thực sự đồng đều.
- Thời gian thực hiện các giải pháp không liền mạch, có sự gián đoạn về
thời gian của tiết học và sau đó được tiếp tục vào các tiết ôn do đó học sinh nắm
bắt các giải pháp chưa có tính hệ thống.
tiêu xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiên giải pháp, biện pháp
- Học sinh chủ động chiếm lĩnh được kiến thức, ghi nhớ và khắc sâu được
kiến thức. Từ đó vận dụng có hiệu quả vào trong các hoạt động giao tiếp và các
hoạt động sử dung ngôn ngữ. Giáo viên là người định hướng, khơi gợi cho học
sinh; hỗ trợ học sinh khi gặp khó khăn.
- Tăng cường thêm các bài tập để khai thác đối tượng học sinh.
- Chú ý phát triển các kỹ năng cơ bản cho học sinh, đặc biệt kỹ năng viết,
kỹ năng nói.
3.2.1. Tăng cường sử dụng từ đúng, từ hay thông qua các bài Luyện từ và
câu
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
9
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
Để học sinh dùng từ hay trước hết tôi đặc biệt chú ý hướng dẫn học sinh
hiểu đúng nghĩa của từ thông qua các tiết Luyện từ và câu, mở rộng vốn từ.
Muốn học sinh hiểu đúng từ cần chú ý đến cách phát âm chuẩn, viết đúng và
cách diễn đạt của học sinh. Khi học sinh nói, viết cho các em khác nhận xét, bổ
sung, sửa chữa cho nhau theo cặp, theo nhóm rồi báo cáo lại. Giáo viên theo dõi,
hỗ trợ khi cần thiết, nhận xét, chỉnh sửa cho các em. Sau mỗi lần như thế, học
sinh nắm được những thiếu sót của bản thân để lần sau không mắc phải. Đặc
biệt với những em hiểu sai nghĩa từ, giáo viên có thể hướng dẫn các em sử dụng
Từ điển Tiếng Việt, cho các em đặt câu với nghĩa các em hiểu được, sau đó giải
thích cho học sinh trong tình huống cụ thể. Làm được điều này học sinh sẽ ghi
nhớ được lỗi sai của mình và có được cách hiểu đúng về nghĩa từ một cách tự
khác nhau. Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái.
Ví dụ: Giữ gìn, bảo vệ có nghĩa chung là giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái
gì đó (Giữ gìn quần áo, bảo vệ quần áo)
Tuy nhiên hai từ này có điểm khác nhau:
+ Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn trừu tượng, giữ gìn phù hợp với đối
tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình, Bảo vệ đất nước)
Ví dụ : Giữ gìn, bảo vệ có nghĩa chung là giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một
cái gì đó (Giữ gìn quần áo; bảo vệ quần áo)
+ Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động
của bên ngoài; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái
chống lại thế lực bên ngoài (giữ gìn luận văn khác bảo vệ luận văn)
Hoặc các từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái. Giáo viên nên hỗ trợ để
học sinh thấy rõ được nét nghĩa riêng dùng đúng cho từng trường hợp.
Ví dụ: Cho, biếu, tặng: cho có sắc thái trung hòa, biếu có sắc thái kính
trọng, tặng có sắc thái thân mật.
Do có sự khác nhau về sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm nên cách dùng
các từ đồng nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, các từ đồng nghĩa không phải
bao giờ cũng thay thế được cho nhau, chúng đồng nghĩa với nhau vì chúng vừa
giống nhau vừa khác nhau.
Từ nhiều nghĩa và từ đồng âm đều có hình thức âm thanh giống nhau nên
dễ nhầm lẫn:
Ví dụ: Ba (1) bố: Ba tôi rất thích đọc báo.
(2) số từ: Số ba là con số không may mắn của tôi.
Học sinh có thể nhầm lần từ ba là từ nhiều nghĩa vì hình thức âm thanh
giống nhau. Khi gặp trường hợp này, tôi đã phân biệt để học sinh thấy được các
nét nghĩa của từ nhiều nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, còn ở đây các
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
Rèn kỹ năg đọc cho học sinh là cả một quá trình mà yếu tố quyết định là ở
ý thức tự rèn của các em. Do vậy, giáo viên cần luôn nhắc nhở các em phải
thường xuyên luyện đọc thêm ở nhà. Có đọc thêm ở nhà thì học sinh mới biết từ
nào mình đọc sai để lên lớp sửa chữa. Ngoài ra phải bồi dưỡng cho các em ham
thích đọc sách, ý thức tự đọc. Sưu tầm thêm sách báo để đọc. Tham gia thêm các
Câu lạc bộ Tiếng Việt của trường, lớp để nâng cao khả năng đọc của mình.
Giờ luyện đọc của các em học sinh trong một tiết Tiếng Việt
Ví dụ: Khi dạy bài kì diệu rừng xanh (Nguyễn Phan Hách, Tiếng Việt 5tập 1B), học sinh dễ mắc các lỗi sai sau, giáo viên chú ý luyện đọc thêm cho học
sinh những từ ngữ:
- Lúp xúp (luyện đọc đúng vần)
- Giang sơn vàng rợi, màu sắc sặc sỡ rực lên, nấm dại, chồn sóc, rừng
rào rào chuyển động (luyện âm đầu và cụm từ)
Đọc diễn cảm là kỹ năng cao nhất trong luyện đọc. Thông qua nhiều hình
thức: Luyện đọc diễn cảm đoạn văn (khổ thơ) em thích nhất, luyện đọc diễn cảm
cả bài hoặc đọc phân vai, đóng kịch (đối với những văn bản nhiều lời thoại).
Giáo viên chú ý cho học sinh về sắc thái giọng đọc, ngắt giọng, nhấn giọng, nét
mặt, của chỉ khi đọc.
Ví dụ: Khi dạy bài “Chuỗi ngọc lam”
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
13
Như vậy ta thấy trò chơi học tập luôn luôn làm cho học sinh hào hứng,
say mê tích cực trong học tập, làm cho học sinh tự đọc, luyện đọc nhiều hơn.
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
14
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
3.2.3. Rèn kỹ năng làm văn cho học sinh
Muốn học sinh rèn được kỹ năng viết được một bài văn hay thì giáo viên
không nên vội vàng. Đầu tiên phải hướng dẫn học sinh viết được đoạn văn hay,
câu văn hay. Ở các lớp dưới, học sinh đã được rèn luyện viết câu rất kĩ do đó ở
lớp 5, giáo viên nên chú ý chỉnh sửa lại cho học sinh và phát triển cho học sinh
kỹ năng viết đoạn văn.
- Ở học sinh thường mắc lỗi viết lan man, viết dài dòng dẫn đến viết dài
mà không có được ý. Do đó khi viết tôi chú ý rèn cho học sinh viết câu mở
đoạn, từ câu mở đoạn sẽ triển khai các câu trong đoạn văn. Trong đoạn văn chú
ý cho học sinh tả theo trình tự nhất định, lôgic. Mỗi khi học sinh viết giáo viên
nên gợi ý cho học sinh thấy đâu là câu mở đoạn.
Ví dụ: Khi dạy viết đoạn văn tả hình dáng người bạn em yêu quý nhất.
Tôi định hướng cho học sinh nắm được ý chính của đoạn văn là tả hình dáng với
câu mở đoạn như: Bạn Hoa là một người rất xinh xắn, dễ thương. Vậy xinh xắn,
dễ thương như thế nào sẽ triển khai để viết các câu tiếp theo trong đoạn văn với
các chi tiết về dáng người, khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, chiếc mũi, cái miệng,
làn da,…Thực hiện tốt khâu định hướng học sinh sẽ không bị lạc đề hay viết lan
man.
- Khi viết đoạn văn, cần chú ý nhắc học sinh tránh lỗi lặp từ, lặp ý. Cần
nhắc học sinh khi miêu tả, cần tả cụ thể từng chi tiết chứ không phải kể hay liệt
kê chi tiết dẫn đến tình trạng học sinh chỉ mới viết được 5 đến 7 câu thì không
Phần kết bài:
Đây là phần quan trọng, giáo viên nên hướng cho học sinh kết bài mở
rộng. Cũng như các phần trên giáo viên cần thường xuyên hỗ trợ, chỉnh sửa cho
học sinh. Khi học sinh viết tốt nên tuyên dương, động viên kịp thời.
Trong suốt quá trình dạy học các bài Tập làm văn, ngoài việc chỉnh sửa,
nhận xét cho học sinh, để cho câu văn của học sinh tránh khô khan, thiếu hình
ảnh. Tôi còn chú ý tạo ra môi trường học tập vui tươi, tích cực, kích thích hứng
thú học tập của các em thông qua các hoạt động như trò chơi, thi đua. Việc dạy
học Tập làm văn có hiệu quả không phải một sớm một chiều mà phải thực hiện
cả một quá trình xuyên suốt tích lũy và rèn luyện. Vì thế, tôi thường xuyên cho
các em trao đổi, nhận xét bài làm với bạn, ghi chép lại những câu văn hay vào
Sổ tay Văn học của mình hoặc chia sẻ ở Góc Tiếng Việt.
Trong quá trình dạy học, tôi tạo điều kiện để các em được tự do phát triển
năng lực học tập cá nhân, trí thông minh và óc sáng tạo của mỗi em. Đây chính
là dịp các em được thể hiện năng lực và vốn văn chương của mình.
Cụ thể như sau: Tôi đưa ra những câu đơn giản, đủ thành phần chủ ngữ và
vị ngữ. Sau đó cho các em tự suy nghĩ, thi đua đưa ra những hình ảnh so sánh để
câu văn hấp dẫn, sinh động hơn. Ở hình thức thi đua này, sẽ tạo cho các em một
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
16
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
môi trường học tập tích cực, em nào cũng muốn được thể hiện tài năng của mình
trước lớp. Do đó, các em sẽ đem hết khả năng và vốn từ ngữ của mình ra thi thố
cùng các bạn. Đây chính là những cơ hôi để các em được dử dụng vốn từ của
mình, chỉnh sửa được cách dùng từ đặt câu.
Ví dụ: Bé Nga đang tập đi
Ví dụ: Các nét khuyết trên và nét khuyết dưới học sinh viết không đầy đủ,
nét móc xuôi và nét móc ngược thường bị thiếu,…
Cách tiến hành trong các tiết luyện viết theo trình tự viết bài viết trước,
thực hiện các hoạt động về kiến thức chính tả sau như lâu nay đã làm cho phần
viết trở nên quan trọng hơn và luyện chính tả trở thành phần phụ của tiết học.
Chính vì vậy giáo viên thường đầu tư nhiều vào phần viết bài còn các hoạt động
bài tập thường lướt qua nhanh. Nếu nghiên cứu kĩ ta sẽ thấy quy tắc chính tả
thưởng nằm ở các hoạt động sau bài luyện viết. Nghĩa là học sinh chưa biết hoặc
chưa nhớ lại quy tắc đã viết bài thì làm sao các em nắm vững được các quy tắc
chính tả.
Tại sao chúng ta không mạnh dạn “đột phá” đổi mới bằng cách đảo trình
tự tiết dạy: Phần luyện tập chính tả dạy trước và bài luyện viết dạy sau.
Ví dụ: Dạy bài Việt Nam thân yêu ở tuần 1, nếu chúng ta dạy luyện tập
chính tả trước để nhắc lại quy tắc chính tả: K, gh, ngh đứng trước i, e, ê/ c, g, ng
đứng trước a, o, ô, ơ… thì khi viết bài luyện viết, các em sẽ vận dụng ngay quy
tắc đó mà viết ít sai hơn cũng như khắc sâu kiến thức về chính tả hơn. Hay với
bài Thư gửi các học sinh ở tuần 3, Anh bộ đội Cụ Hồ gốc Bỉ ở tuần 4, phần
luyện tập là quy tắc đánh dấu thanh. Phần luyện tập được dạy trước, học sinh
nắm được kiến thức chính tả: Dấu thanh đặt ở âm chính/ Âm chính là nguyên
âm đôi, là tiếng không có âm cuối thì đặt dấu thanh ở chữ cái đầu của nguyên
âm đôi/ Âm chính là nguyên âm đôi, là tiếng có âm cuối thì đặt dấu thanh ở chữ
cái thứ hai của nguyên âm đôi. Sau đó, học sinh viết bài chính tả chắc chắn rằng
các em sẽ đánh dấu thanh chính xác hơn và nhớ lâu hơn quy tắc chính tả này.
Việc thực hiện luyện tập chính tả trước khi viết còn tiết giảm được thời
gian. Vì nếu giáo viên tiến hành luyện tập chính tả trước ở các bài này thì ở
bước cho học sinh viết từ dễ sai chính tả của phần bài viết, giáo viên có thể lược
qua các từ có thể áp dụng quy tắc chính tả mà học sinh mới vừa học ở phần
luyện tập.
Đổi mới phương pháp giảng dạy ở tiết chính tả không dễ nhưng nếu giáo
viên nghiên cứu kĩ nội dung tiết dạy, nắm chắc trọng tâm, mạnh dạn thay đổi
Ví dụ: Sau học bài 4A: Hòa bình cho thế giới (Tiết 1). Tôi cho các em gửi
cho nhau những lá thư qua Nhịp cầu bè bạn với nội dung: Những suy nghĩ của
em sau khi học xong bài Tập đọc Những con sếu bằng giấy. Hội đồng tự quản
gọi một vài bạn muốn chia sẻ thư của mình trước lớp. Các bạn khác lắng nghe,
nhận xét. Giáo viên nhận xét, bổ sung cho học sinh nếu cần.
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
19
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
“Nhịp cầu bè bạn” tại một lớp học VNEN
Xây dựng Góc thư viện với đầy đủ các loại truyện thiếu nhi, sách báo, bài
văn mẫu để học sinh có cơ hội trau dồi vốn từ ngữ của mình từ đó nâng cao hiệu
quả học môn Tiếng Việt. Ở lớp tôi chú trọng và quan tâm đặc biệt đến Góc thư
viện. Thư viện cần đặt ở vị trí phù hợp, dễ nhìn và dễ lấy, không đặt quá cao
hoặc quá thấp. Các đầu sách cần được cập nhật thường xuyên dưới sự quản lí
của Ban thư viện. Hằng tuần Ban thư viên cập nhật, kiểm tra và báo cáo số
lượng sách, tình trạng đọc sách của các bạn trong lớp. Đặc biệt những cuốn sách
hỗ trợ việc học Tiếng Việt cần phải có như: Từ điển Tiếng Việt, Cách khắc phục
một số lỗi chính tả, hay Những bài văn hay chọn lọc, Tục ngữ và Thành ngữ
Việt Nam,… Những cuốn sách đó không chỉ giúp học sinh học tự chiếm lĩnh
thêm kiến thức mà còn sự hỗ trợ hữu ích trong các giờ Tiếng Việt.
Ví dụ: Ở HĐ 5/ Tr 131: Thảo luận trả lời câu hỏi bài Tập đọc Nghĩa thầy trò
Những thành ngữ, tục ngữ nào dưới đây nói lên được các bài học mà các
môn sinh nhận được trong ngày mừng thọ cụ giáo Chu:
A. Tiên học lễ, hậu học văn
B. Uống nước nhớ nguồn
Đặc biệt trong định hướng đổi mới dạy học hiện nay: Học sinh tự học, tự
chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn, dìu dắt của giáo viên. Do vậy, việc rèn
luyện cho các em khả năng tự học là điều hết sức quan trọng. Trong việc tổ chức
học tập trên lớp, tôi luôn khuyến khích các em tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua
hình thức thi đua cá nhân, tập thể, nhóm góp phần nâng cao năng lực tự học của
các em. Đồng thời nhắc nhở các em tự nghiên cứu, tự đọc sách báo kể cả những
lúc rảnh rỗi, ở nhà không có sự hướng dẫn của thầy cô giáo.
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
21
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
Phát triển khả năng tự học cho học sinh
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Giáo viên:
- Thường xuyên theo dõi, hỗ trợ, quan sát các hoạt động học tập của học
sinh, khơi gợi được hứng thú học tập ở các em.
- Chuẩn bị kỹ lưỡng các tiết dạy, kế hoạch dạy học, nội dung điều chỉnh
cho phù hợp.
- Tạo cho học sinh thói quen tự học và giải quyết các tình huống học tập
qua các hoạt động. Vận dụng trong hoạt động thực tế cuộc sống.
Học sinh:
- Có ý thức học tập, tích cực trong các hoạt động. Mạnh dạn phát hiện lỗi
và sửa lỗi của bản thân.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
- Lựa chọn nội dung học tập phù hợp với từng đối tượng.
15
24
32,1 %
Điểm kiểm tra học kì I
Điểm kiểm tra cuối năm
Số
học
sinh
1 đến 4
5 đến 8
9 đến 10
1 đến 4
5 đến 8
9 đến 10
TS
TL
64,3 10
TL
TL
35,7
Kết quả khảo sát lớp 5C, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, năm học
2014-2015:
Tổng số học sinh
25
Tổng
số
Học sinh ham thích học Tiếng Việt
Tỉ lệ
Học kì I
Học kì II
Tăng
15
25
TS
TL
TS
2
8
13
52
10
40
0
TL
5 đến 8
9 đến 10
TS
TL
Tiếng Việt đã có sự tăng lên rõ rệt, học sinh yêu thích học môn Tiếng Việt hơn
và các kỹ năng cơ bản như kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp được nâng cao và
hoàn thiện. Nâng cao dần năng lực tự học của học sinh theo hướng phát triển
năng lực, phẩm chất người học. Với các điều kiện đã áp dụng, các em làm chủ
được kiến thức, biết khám phá và đem lại kết quả cao trong học tập. Đồng thời
giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập và rèn
luyện các kỹ năng. Góp phần cùng nhà truờng nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Giáo viên: Trần Thị Lan Chung – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
24
Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 5 theo mô hình VNEN
1. Kết luận
Dạy học môn Tiếng Việt là đem đến sự vận động khoa học cho não bộ và
các cơ quan phát âm, ngôn ngữ, đem đến những tinh hoa văn hóa, văn học nghệ
thuật cho tâm hồn trẻ. Vì thế đòi hỏi người thầy phải có phườn pháp phù hợp,
đáp ứng nhu cầu ham hiểu biết của học sinh và tăng cường giáo dục nhân cách,
đạo đức cho học sinh. Dạy học Tiếng Việt để mang lại hiệu quả cao cho mô hình
VNEN là một nghệ thuật trong lao động dạy học sáng tạo của giáo viên. Đây là
vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất lớn để kích thích tư duy học tập và
sáng tạo, phát triển kỹ năng và nhân cách cho học sinh.
2. Kiến nghị
Qua đây tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị:
* Đối với nhà trường: