SKKN một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học tập làm văn - Pdf 35

Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 2 VIẾT TỐT ĐOẠN VĂN
NGẮN TRONG GIỜ HỌC TẬP LÀM VĂN
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) 4 kĩ năng: “nghe,
nói, đọc, viết”. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn cơ bản và có tính
chất thích hợp của các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu
học. Tuy số tiết Tập làm văn chiếm không nhiều, nhưng lại là phân môn mang tính
chất thực hành và sáng tạo. Đồng thời, là phân môn có tính chất luyện tập tổng
hợp. Qua tiết Tập làm văn, HS có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói,
bài viết. Nói và viết là hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người
thực hiện quá trình tư duy – chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng tình cảm, cùng
hợp tác trong cuộc sống lao động.
Ngôn ngữ (dưới dạng nói), ngôn ngữ (dưới dạng viết) giữ vai trò quan trọng
trong sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chính vì vậy hướng dẫn cho HS nói đúng
và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ này phụ thuộc phần lớn vào kĩ năng sư
phạm trong giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói
riêng.
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là một phân môn
khó trong môn Tiếng Việt. Do đặc trưng của phân môn Tập làm văn với mục tiêu
cụ thể là: Hình thành và rèn luyện cho HS có khả năng trình bày văn bản (nghe,
nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, nghe - kể chuyện, …về mình
hoặc những người xung quanh mình. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động
học tập. HS với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói. Nếu bắt buộc phải
nói các em thường đọc lại bài đã chuẩn bị trước. Do đó giờ dạy chưa đạt hiệu quả
cao.
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân


trong nói và viết, nói đúng, dễ hiểu và sử dụng các câu văn hay, nhận ra những từ,

GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

2


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

câu nhằm giúp HS nhận diện, phân biệt từ loại đúng (chính xác); câu văn sáng
nghĩa (câu văn hay). Từ đó HS vận dụng vào giao tiếp như nói, viết,…
Phân môn Tập làm văn còn rèn cho HS khả năng tư duy lôgíc cao và khả năng
thẩm mĩ.
Tìm hiểu những phương pháp phù hợp tâm lí lứa tuổi và đối tượng HS Tiểu
học nhằm góp phần giáo dục các em thành những con người phát triển toàn diện.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa phân môn Tập làm văn
lớp 2.
- Nghiên cứu kết quả học tập của HS.
- Phương pháp giảng dạy của GV.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- HS khối lớp 2 phân hiệu 2 trường TH Nguyễn Viết Xuân.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp gợi mở.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- phương pháp kiểm tra, đánh giá.
- Phương pháp động não.
- Phương pháp điều tra, khảo sát.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận

và phát triển nhân cách ở trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết.
Phân môn Tập làm văn ở tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói
và viết. Thế nhưng hiện nay, đa số các em HS lớp 2 đều rất sợ học phân môn Tập
làm văn vì không biết nói gì? Viết gì? Ngay cả bản thân GV đôi khi cũng không tự
tin lắm khi dạy phân môn này so với môn học khác. Do đó khi đứng lớp tôi luôn
chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng Tập làm văn cho HS.
Rèn kỹ năng nghe, nói là khâu rất quan trọng trong giảng dạy phân môn Tập
làm văn. Nói – HS biết bộc lộ tư tưởng, truyền đạt thông tin trong các hoàn cảnh
giao tiếp khác nhau. Luyện kỹ năng nghe – nói làm thay đổi không khí lớp học,
giúp cho HS sôi nổi, hào hứng trong học tập. Tất cả các vấn đề đó đã góp phần rất
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

4


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

lớn về đổi mới phương pháp dạy học, là cơ hội để HS thể hiện kỹ năng sử dụng
Tiếng Việt của mình.
Xuất phát từ những suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng môn Tiếng
Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, nên tôi chọn đề tài: “ Một số
kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm
văn”.
2.1. Khó khăn, thuận lợi
a. Thuận lợi
* Đối với giáo viên
Được sự chỉ đạo chuyên môn phòng, chuyên môn trường, tổ chuyên môn có
vai trò tích cực giúp GV đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn…
Qua các tiết dạy mẫu, các cuộc thi, chuyên đề đã có nhiều GV thành công khi
dạy Tập làm văn.

Đạt
21em

Chưa đạt
09 em

tài
Qua khảo sát cho thấy HS chưa biết cách diễn đạt, vốn từ vựng chưa nhiều,
hiểu biết thực tế còn ít, do vậy bài văn của các em chưa hay, câu văn còn lủng
củng. Kết quả này cũng thể hiện phương pháp giảng dạy của GV chưa phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong giờ học.
2.2. Thành công, hạn chế
Qua nhiều năm giảng dạy lớp 2, HS chưa ham học phân môn Tập làm văn,
muốn giúp các em ham học và lấy lại căn bản, người GV phải có cái tâm, phải thật
sự yêu thương HS. Như thế, mới tận tụy trong nghề nghiệp, mới chụi khó, kiên trì
dạy dỗ các em. Do vậy người GV phải tạo cho các em một niềm tin vào bản thân
cũng như quyết tâm trong học tập.
Truyền thụ kiến thức mới GV không nói nhiều, không vội làm thay cho HS mà
phải để các em tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề.
- Chất lượng đào tạo tăng, HS biết nói, viết thành đoạn văn ngắn qua từng kì,
năm
- HS có năng khiếu viết văn hay, có hình ảnh, có tình cảm đẹp.
- Một số em còn chưa đam mê học phân môn Tập làm văn.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu

GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

6




7


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

- Một số ít phụ huynh quan tâm chưa đúng cách còn phó mặc cho thầy (cô),
nhà trường.
+ HS nói, viết chưa thành câu, dùng từ chưa hợp lý.
+ Chưa biết dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh sinh động.
+ Chưa biết trình bày đúng nội dung đoạn văn mình viết theo yêu cầu.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
- Để dạy tốt phân môn Tập làm văn trước hết người GV cần:
a. Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình và chuẩn kiến thức – kỹ năng môn
học, căn cứ vào chuẩn kiến thức – kĩ năng để xác định mục tiêu bài học và mục
tiêu từng hoạt động học tập, mạnh dạn điều chỉnh mục tiêu của bài soạn sao cho
phù hợp với chuẩn kiến thức và trình độ nhận thức của HS. Đồng thời phải căn
cứ vào điều kiện, đặc điểm, khả năng tiếp thu của HS trong lớp. Từ đó đề ra
phương án cụ thể cho từng hoạt động học tập.
Hiệu quả của giờ học phụ thuộc vào việc chuẩn bị bài của GV. Vì thế GV
cần chuẩn bị bài chu đáo (đồ dùng dạy học, phiếu bài tập, các phương tiện hỗ trợ
khác như hoa điểm mười, cờ thi đua,…
b. Thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, tự tìm tòi nghiên cứu tài
liệu, coi trọng quan điểm “Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS”
làm sao cho tất cả HS đều được hoạt động, tạo niềm vui hứng thú cho các em.
c. Tạo môi trường học tập thuận lợi cho HS
Xuất phát từ đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS lớp 2. Các em hiếu động, tò mò,
ham hiểu biết, thích hoạt động vui chơi. Vì vậy GV cần linh hoạt vận dụng nhiều
hình thức học tập: học cá nhân, học trong nhóm, học cả lớp để khuyến khích cả

hỏi Ai? (hoặc cái gì? / con gì?) ? Bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì? (hoặc làm
gì? / như thế nào?)
- GV cần cung cấp giúp các em sự lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ
cho hợp lí. Bên cạnh đó, GV cũng cần giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng
nghĩa phù hợp với bài văn…
Ví dụ: Khi viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như:
bình minh, hửng đông, sớm mai. Viết về gia đình có các từ như: đoàn tụ, sum
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

9


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

họp, quây quần, … Để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chói chang, gay gắt, đỏ
rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa, … GV cần chuẩn bị kĩ với một bài
để hướng dẫn HS vận dụng những từ ngữ thích hợp vào bài viết.
- Để hỗ trợ cho HS, GV cần cung cấp cho HS: Nhiều từ ngữ gợi tả, từ láy, từ
tượng thanh, tượng hình, …
Ví dụ: Mặt biển xanh và rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông.
Nối các câu văn lại thành những từ ngữ liên kết như: và, thì, nếu, vậy, là,…
* Lưu ý: HS trong đoạn văn tránh lặp lại nhiều lần mà phải thay những từ
ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự . Ví dụ: Bác Hồ thành Bác, Người,…
- Thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn.
Ví dụ: Buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh,…
- Sau khi thành lập sơ đồ, giới thiệu những bài văn hay của HS ở năm học
trước nhằm kích thích tinh thần học tập của các em, … có thể các em sẽ thành
lập đoạn văn như sau: “ Nhà em có nuôi một chú gà. Nó có bộ lông màu đỏ tía.
Nó gáy rất to. Em rất yêu nó”. GV có thể khuyến khích HS là “ em làm đúng
nhưng chưa hay”. Từ những ý tưởng ban đầu của HS , chúng ta sẽ hình thành

+ Tả ngắn về loài chim
+ Tả ngắn về biển
+ Tả ngắn về Bác Hồ
+ Kể ngắn về người thân
- Trong quá trình giảng dạy, GV cần liên hệ những nội dung kiến thức có liên
quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu với
phân môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ về sự vật, hiện
tượng xoay quanh các chủ đề để các em có hiểu biết về đề tài, vận dụng kĩ năng
thực hành để bài viết đạt kết quả tốt.
Ví dụ: Khi các em học về chủ đề “Ông bà”, “Cha mẹ”, “Anh em” (Tuần 10
đến tuần 16), với rất nhiều bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia
đình GV cần cho HS hiểu rõ và nắm chắc người thân của mình là những ai ? GV
khai thác và giáo dục HS thông qua các nhân vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh
cái đẹp, cái haycuar nội dungbaif, hướng cho HS liên hệ đến bản thân, gia đình,
người thân của mình.
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

11


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

- Hướng dẫn HS hình thành đoạn văn.
* Các bước hình thành
- Hướng dẫn HS làm miệng, trả lời từng câu hỏi, gợi ý cho HS trả lời bằng
nhiều ý kiến khác nhau.
- Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng, chưa hay, GV cần cung
cấp và gợi ý để các em có thể chọn từ đồng nghĩa thay thể cho từ cũ, có thể
hướng dẫn mẫu các câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc so sánh để bài văn sinh
động hơn.

Ăn thóc

Lông nhiều màu
Em yêu mến chú gà

- Từ đó các em đã nắm được đặc điểm của con vật cần tả mà phát triển thành
một đoạn văn. Hoặc ta có thể cho các em hình thành một đoạn văn qua trò chơi
“ tiếp sức”.
- GV yêu cầu HS tạo thành câu , cứ thể nối tiếp nhau thành lập đoạn văn.
Trong lúc đó, GV có thể ghi lại trên bảng, để các em có thể sửa chữa.
- Trong phần giới thiệu, ta có thể gặp trường hợp sau:
Ví dụ: HS thành lập câu “ Nhà em nuôi một con gà”. Ta có thể lưu ý rằng
câu của em đúng nhưng chưa hay và có thể bị trùng lặp với các bạn khác. Vậy
em hãy thành lập một câu khác sao cho vừa giới thiệu được chú gà, vừa lồng
tình cảm của em vào để người đọc cảm thấy thích thú như câu “ Chú gà trống
tía nhà em trông mới oai vệ làm sao!” hoặc “ Ôi! Chú gà con nhà em sao mà
ngộ nghĩnh quá!...”
- Trong phần nội dung (phần quan trọng nhất) GV luôn nhắc nhở HS rằng nội
dung thường có hai phần đó là: Tả hình dáng và tả hoạt động của con vật. Đây
chính là lúc GV phải khai thác triệt để vốn sống của HS, đồng thời gợi mở để
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

13


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

HS lĩnh hội kiến thức mới. Đưa một số trò chơi như: Viết tiếp sức một đoạn văn,
sắm vai người thân, … Để tạo sự hứng thú trong học tập cho HS. Đồng thời tiếp
thu kiến thức một cách tự giác. Thông qua trò chơi, HS còn phát triển cả về thể


- Đó là cây gì ? Trồng ở đâu ?
- Hình dáng cây như thế nào ?
- Cây có lợi ích gì ?
* Bài viết nói về một con vật mà em thích
- Đó là con gì, ở đâu ?
- Hình dáng con vật ấy có đặc điểm gì nổi bật ?
- Hoạt động của con vật ấy có gì ngộ nghĩnh, đáng yêu ?
* Bài viết kể về một việc làm tốt mà em hoặc bạn em đã làm.
- Em (bạn em) đã làm việc tốt khi nào ? Ở đâu ? Đó là việc gì ?
- Em (bạn em) đã làm như thế nào ?
- Em (bạn em) suy nghĩ gì khi làm việc đó ?
b.2. Giúp HS nắm được trình tự các bước khi viết một đoạn văn.
- Viết câu mở đầu: giới thiệu đối tượng cần viết (có thể diễn đạt bằng một
câu)
- Phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng, có thể kể theo gợi ý, một gợi ý có thể
diễn đạt 2 đến 3 câu tùy theo năng lực HS.
- Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ,
mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của
đối tượng đó đối với cuộc sống, với con người.
Ví dụ: Viết về một loài cây mà em thích
- Đó là cây gì, trồng ở đâu ?
- Hình dáng cây như thế nào ?
- Cây có ích lợi gì ?
Câu mở đầu
- Giới thiệu về cây

- Trong sân trường em trồng rất nhiều cây nhưng

phượng

+ GV cần thay đổi nhiều hình thức học tập để tạo cơ hội cho nhiều HS cùng
được tham gia trình bày ý kiến của mình.
+ GV phải hết sức nhạy bén và ứng xử kịp thời các tình huống phát sinh khi
giảng dạy bằng cách chú ý lắng nghe ý kiến của HS để tìm ra ưu khuyết điểm
chính của HS. Từ đó nhận xét, chính sửa, góp ý đánh giá.
+ HS lễ phép, chăm chỉ và tích cực trong học tập.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
- Tiết học phải chú ý đến hai mặt giáo dục và giáo dưỡng. Hai mặt này kết
hợp chặt chẽ với nhau.
- Luôn luôn chú ý theo dõi thái độ học tập và sự lĩnh hội nội dung bài học
của HS, để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời.
- Tiết học trên lớp cần căn cứ vào trình độ HS ở lớp.
- GV phải có phương pháp truyền đạt, lôgíc, dễ hiểu, dễ nhớ.

GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

16


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

- GV biết kết hợp lý thuyết với thực hành.
- Biết tổ chức tốt cho HS tự học, học theo phương pháp tự tìm từ.
- Tập cho các em có thói quen học tập các ý hay trong các bài văn mẫu, đoạn
văn hay, bài làm hay của bạn.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị của vấn đề nghiên cứu
- Sau khi sử dụng các giải pháp trên, tôi tiến hành khảo sát HS viết một đoạn
văn ngắn từ 3 đến 5 câu kể về người thân. Tôi nhận thấy kết quả học tập phân môn
Tập làm văn học kì I năm học 2015-2016 như sau:
Kết quả bảng thống kê kết quả học tập học kỳ I Năm học 2015 - 2016

hiện đề tài
* Qua bảng thống kê số liệu cho ta thấy tác dụng không nhỏ đến tinh thần,
thái độ học tập của HS. Đa số HS nắm chắc kiến thức bài học, chủ động, tích cực
học tập. Giờ đây các em rất hứng thú học tập, khả năng nói, diễn đạt ý rõ ràng hơn.
Một số em bước đầu đã biết lựa chọn những từ ngữ giàu hình ảnh nghệ thuật vào
nói, viết bước đầu bộc lộ những nét riêng của mình. Những em trước đây còn nhút
nhát, thụ động khi tham gia các hoạt động học tập, nay đã có nhiều tiến bộ, học tập
tích cực hơn, không khí lớp học sôi nổi, tự nhiên hơn, các em thích học phân môn
này hơn.
* Qua quá trình rèn luyện HS bản thân tôi thu được kết quả khảo nghiệm như
sau
- Để giảng dạy và giáo dục HS người GV phải thực sự yêu nghề, không ngại
khó khăn vất vả, phải kiên trì và nhiệt tâm.
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

17


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

- GV trước khi lên lớp phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, lựa chọn phương
pháp tối ưu, phù hợp với đối tượng HS của lớp. Trong quá trình giảng dạy GV nên
kết hợp nhiều phương pháp, nhiều hình thức để khơi gợi sự hứng thú học tập của
các em. Bên cạnh đó GV phải gần gũi, thương yêu, giúp đỡ HS, không nóng nảy
khi HS chưa tiến bộ.
- GV làm tốt công tác điều tra nắm rõ đối tượng HS của lớp mình. Lập kế
hoạch phụ đạo cho HS.
- Đối với đối tượng HS chưa hoàn thành chúng ta cần quan tâm nhiều hơn,
chỉ bài thật cặn kẽ dù chỉ là những kiến thức từ lớp 2,… Nói chung các em hổng
kiến thức ở đâu thì GV rèn luyện ở đó.

- Sử dụng nhiều hình thức: thi đua, khen thưởng để khuyến khích các em nổ
lực học tập.
- GV có trách nhiệm cao trong giảng dạy để mỗi HS đều đọc thông, viết thạo.
Tạo tiền đề vững chắc cho học tiếp cận kiến thức mới này.
- Động viên khuyến khích HS tự học, tự tìm tòi sáng tạo. GV luôn tổ chức,
phối hợp linh hoạt các hình thức và phương pháp dạy học phù hợp với mọi đối
tượng HS để kích thích sự hứng thú và khả năng diễn đạt của các em.
- GV luôn dự giờ thăm lớp, sinh hoạt chuyên môn thường kì để thống nhất
phương pháp giảng dạy cho từng phân môn, coi buổi sinh hoạt chuyên môn hàng
tuần là một chuyên đề nhỏ để học tập lẫn nhau.
- Chú trọng phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp, rèn kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết cho HS.
2. Kiến nghị
* Đối với các cấp lãnh đạo:
- Đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học, tài liệu tham khảo phục
vụ cho GV dạy học.
- Trên đây là một số giải pháp của bản thân rút ra từ quá trình dạy học môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Dạy học góp phần đáng
kể vào việc nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng mục tiêu đổi mới phương pháp
dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong HS, đem lại niềm say
mê, hứng thú làm phong phú vốn Tiếng Việt cho các em. Giải pháp này đã và
GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

19


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

đang áp dụng tại lớp 2B có hiệu quả. Song đây chưa phải là giải pháp hữu hiệu
nhất trong muôn vàn giải pháp hay của đồng nghiệp, hẳn không tránh khỏi những

………………………………………………………
………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
( Ký tên, đóng dấu )

Mục lục
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………………1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . …………………..2
3. Đối tượng nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………………3

GV Thực hiện: Nguyễn Thị Phượng –Trường TH Nguyễn Viết Xuân

21


Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………… 3
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………3
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………………… 3
2. Thực trạng . . . . . . . . . . . . . . . ……………………… …………………4
2.1. Thuận lợi- khó khăn…………………………………………………… 5
2.2. Thành công- hạn chế…………………………………………………… 6
2.3. Mặt mạnh- mặt yếu………………………………………………………6
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động……………………………..…7
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra..7
3. Giải pháp, biện pháp……………………………………………………….7
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…………………………………… 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status