Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
I. Phần mở đầu
1.1.Lý
Lýdodochọn
chọnđềđềtàitài
2
2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2
3. Đối tượng nghiên cứu
3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
II. Phần nội dung
Cơsởsởlýlýluận
luận
23
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiênIII.
cứuPhần kết luận, kiến nghị
24
24
3
1. Kết luận:
24
2. Kiến nghị:
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
1
25
Trường TH Krông Ana
thân; với cộng đồng và với môi trường tự nhiên; biết sống tích cực, chủ động trong mọi
hoàn cảnh. Xuất phát từ sự cần thiết của việc giáo dục Kĩ năng sống cho thế hệ trẻ trong
phân môn Tập đọc nên tôi chọn đề tài :“ Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép Kĩ
năng sống cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4.”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
* Mục tiêu:
Giúp HS ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; Hiểu biết về
thể chất, tinh thần của mình; Có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá và chấp hành pháp
luật…
Giúp học sinh có đủ khả năng thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập,
tự tin khi giải quyết công việc.
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
2
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
* Nhiệm vụ:
Tìm hiểu về nội dung, phương pháp và các hình thức giáo dục lồng ghép Kĩ năng
sống trong phân môn Tập đọc lớp 4.
Nắm được những khó khăn, vướng mắc của GV và HS khi thực hiện dạy học lồng
ghép Kĩ năng sống cho HS trong phân môn Tập đọc lớp 4.
Khảo sát thực trạng việc tổ chức dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
lớp 4C trong phân môn Tập đọc.
Qua kết quả nghiên cứu, đánh giá những nguyên nhân ảnh hưởng tới quá trình hình
thành Kĩ năng sống cho học sinh.
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục kỹ năng sống qua việc
3
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
học sinh. Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh phổ thông nói chung, học sinh tiểu học nói riêng.
Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội. Có thể nói Kĩ năng sống chính
là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành
mạnh. Kĩ năng sống có thể hình thành tự nhiên, học được từ những trải nghiệm của cuộc
sống và do giáo dục mà có. Không phải đợi đến lúc được học kỹ năng sống một con người
mới có những kỹ năng sống đầu tiên. Chính cuộc đời, những trải nghiệm, va vấp, thành
công và thất bại giúp con người có được bài học quý giá về kỹ năng sống. Tuy nhiên, nếu
được dạy dỗ từ sớm, con người sẽ rút ngắn thời gian học hỏi qua trải nghiệm, sẽ thành
công hơn.
Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung, nâng cấp để phù
hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động. Người trưởng thành cũng vẫn cần học kĩ
năng sống.
Ở lứa tuổi lớp 4 học sinh đang phát triển về hệ xương, hệ thần kinh, học sinh có
những nhận biết nhất định về xung quanh, biết đánh giá nhận xét sự việc xảy ra quanh
mình. Các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, thích quan sát mọi vật xung quanh.
Khả năng tư duy cụ thể nhiều hơn khả năng khái quát hoá và rất nhạy cảm với vẻ đẹp của
thiên nhiên đất nước. Các em dễ xúc động và bắt đầu biết mơ ước, có trí tưởng tượng
phong phú. Thích nghi với các vấn đề mà mình đã quan sát được và có khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống .
2. Thực trạng
học lồng ghép cũng chưa thật sáng tạo.
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
* Mặt mạnh:
Đa số học sinh tự giác, có ý thức cao trong mỗi giờ học. Sự quan tâm của nhà
trường, cha mẹ luôn sát sao, đồng thuận với giáo viên trong việc giảng dạy và hơn nữa họ
hiểu rõ chủ trương của Bộ giáo dục và Đào tạo để cùng phối hợp chặt chẽ trong việc dạy
học các môn học, phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.
* Mặt yếu:
Khả năng tự nhận thức của một số ít phụ huynh và học sinh chưa thật đầy đủ, còn
thiếu sự quan tâm, ít trau dồi về kĩ năng sống.
2.4. Các nguyên nhân – các yếu tố tác động
Từ trước đến nay phần lớn GV chỉ chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức mà ít
hoặc chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục Kĩ năng sống cho HS. Mặc dù
GV đã được tiếp cận về nội dung lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống của Bộ Giáo dục và
mỗi giáo viên đều được tập huấn về cách dạy và rèn Kĩ năng sống cho học sinh nhưng hầu
như giáo viên chưa xác định được cụ thể kĩ năng sống cần rèn cho học sinh trong mỗi tiết
học là gì? Hoặc nếu có xem giáo trình của BGD đã ban hành thì các Kĩ năng sống trong
các môn học nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng giáo viên còn gặp rất nhiều khó
khăn trong việc tổ chức các hoạt động học tập, sử dụng phương pháp và hình thức dạy học
thích hợp để giáo dục các kĩ năng đó.
Trong lớp học sinh có trình độ, sức khoẻ, tâm sinh lí, sự trải nghiệm… khác nhau.
Chẳng hạn có em học sinh tự tin, bạo dạn vì được tham gia nhiều các hoạt động bề nổi
của nhà trường hay ở gia đình các em được bố mẹ rèn Kĩ năng sống thường xuyên thì
việc thực hiện kĩ năng của môn học và các Kĩ năng sống rất thuận lợi. Ngược lại những
em nhút nhát, thiếu tự tin, ngại giao tiếp thì việc này quả là khó khăn.
Những thay đổi nói trên còn ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục con cái của gia đình
cũng có những biến đổi nhất định. Cha mẹ ít có thời gian quan tâm đến con cái hơn là một
thực tế không thể phủ nhận, thay vào đó là các hoạt động kinh tế, tìm kiếm thu nhập. Trong
nhà trường, hiện tượng quá tải với các môn học cũng đang gây nhiều áp lực đối với người
học. Cùng với đó là những tác động nhiều chiều của các nguồn thông tin khác nhau từ xã
thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp luật… Tuy
nhiên, giáo dục để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không phải chỉ từ các bài giảng.
Kĩ năng sống là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng ghép này sẽ
không dừng lại ở mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ cụ thể hóa thành từng trường hợp, hoàn
cảnh và yêu cầu học sinh xử lý.
Trong chương trình dạy kỹ năng sống, không có khái niệm “vâng lời”, chỉ có khái
niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống là rèn luyện
cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải
nghiệm, chứ không đặt mục đích “rèn nền nếp” hay “nghe lời”. Công dân toàn cầu là người
biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng, sai, quyết định có làm điều này
hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp công dân chỉ biết nghe
lời. Đây là sự khác biệt cơ bản của việc giáo dục kỹ năng sống với môn học truyền thống
như Đạo đức.
Nội dung các bài học vốn đã nhiều, thời lượng lại ít nên khó lồng ghép giáo dục Kĩ
năng sống vào. Ngoài ra, đội ngũ giáo viên cũng chưa được đào tạo cơ bản để dạy về Kĩ
năng sống trong từng môn học, từng bài giảng. Thêm vào đó, chính các em học sinh cũng
chưa có nhận thức đầy đủ và ý thức trau dồi kĩ năng sống, chưa tích cực chủ động tham
gia các họat động trải nghiệm để tạo lập, rèn luyện kĩ năng sống.
Thực trạng việc rèn kĩ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học: Học tập là một nhu
cầu thường trực của con người trong mọi thời đại. Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức
khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có cả những mối
quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường sống xung quanh. Kỹ năng sống là một trong
những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại và phát triển. Chương
trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng về kiến thức hàn lâm trong
khi những tri thức vận dụng cho đời sống hàng ngày bị thiếu vắng. Hơn nữa, người học
đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt động
ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ
và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống.
3. Giải pháp, biện pháp:
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
- Tự nhận thức về bản thân
1
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
Tập đọc
Mẹ ốm
- Tự nhận thức về bản thân
2
Tập đọc
Tập đọc
- Thể hiện sự thông cảm.
Dế Mèn bênh vực kẻ - Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
yếu ( TT)
- Giao tiếp ứng xử lịch sự trong giao tiếp.
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tư duy sáng tạo
Thư thăm bạn
3
Tập đọc
Người ăn xin
Tập đọc
Nỗi dằn vặt của An- - Ứng xử lịch sự trong giao tiếp
đrây-ca
- Thể hiện sự cảm thông
- Xác định giá trị
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
7
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
7
9
Tập đọc
Chị em tôi
Tập đọc
Trung thu độc lập
Tập đọc
11
- Tự nhận thức về bản thân
- Đặt mục tiêu
- Kiên định
- Xác định giá trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Thể hiện sự tự tin
- Xác định giá trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Thể hiện sự tự tin
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá nhân
- Hợp tác
- Đảm nhận trách nhiệm
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá nhân
- Hợp tác -Đảm nhận trách nhiệm
Văn hay chữ tốt
Tập đọc
Chú Đất Nung
Tập đọc
Chú Đất Nung (tt)
Tập đọc
Bốn anh tài
Tập đọc
Vẽ về cuộc sống an
- Tuy duy sáng tạo
toàn
- Đảm nhận trách nhiệm
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
8
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
25
Tập đọc
26
Tập đọc
27
Tập đọc
30
Tập đọc
34
cơ thể, tư tưởng các mối quan hệ xã hội; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình
cảm, sở thích, thói quen… của bản thân mình, quan tâm và luôn ý thức được mình đang
làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.
Để tự nhận thức đúng về bản thân cẩn phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là
qua giao tiếp với người khác.
Ví dụ 1: Bài “Văn hay chữ tốt ”
Sau khi HS hiểu Cao Bá Quát viết đơn cho bà cụ, mặc dù lá đơn có lí lẽ rõ ràng
nhưng vì chữ ông viết xấu quá, quan không đọc được nên đuổi bà cụ ra khỏi huyện
đường. Tôi hỏi thêm:
+ Vì sao khi sự việc xảy ra, Cao Bá Quát mới dốc sức luyện chữ cho đẹp?
Tôi yêu cầu HS trả lời câu hỏi bằng một câu. Khuyến khích nhiều em phát biểu theo
cách khác nhau. Chẳng hạn: (Vì khi sự việc này xảy ra, Cao Bá Quát mới thực sự nhận ra
tai hại của việc viết chữ xấu. Vì viết chữ xấu có thể gây tai hại cho người khác…)
+ Vì sao Cao Bá Quát viết chữ rất xấu mà nhận lời viết đơn giúp bà cụ? Tôi khuyến
khích nhiều em phát biểu theo các cách khác nhau, sau đó tôi chốt ý: Khi bà cụ nhờ viết
đơn kêu oan, Cao Bá Quát đã vui vẻ trả lời: “Tưởng việc gì khó, chứ việc ấy cháu xin sẵn
lòng. Mặc dù sẵn sàng giúp đỡ người khác nhưng Cao Bá Quát đã chưa nhận thức đúng về
bản thân, chưa tự nhận biết được điểm hạn chế của mình có thể đem lại điều bị hại cho
người khác.
Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu ” TV4 tập I trang 4, 5. Sau khi HS
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
9
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
hiểu: Dế Mèn nhìn thấy cảnh đáng thương của chị Nhà Trò thì Dế Mèn hành động mạnh
mẽ, kiên quyết thể hiện rất hào hiệp (quay phắt lưng, phóng càng đạp phanh phách …)
của tấm lòng nhân hậu trong cuộc sống.
GV nêu:
+ Tìm những câu bạn Lương an ủi bạn Hồng?
+ Theo em được bạn khác an ủi, bạn Hồng cảm thấy thế nào?
Tôi để nhiều HS được trình bày, sau đó tôi chốt ý đúng và đưa ra câu hỏi, tổ
chức cho HS thảo luận nhóm đôi: “Khi có chuyện buồn, được người khác an ủi, động
viên em cảm thấy thế nào? ”
GV kết luận để HS nhận thấy: Khi có chuyện buồn, được người khác an ủi, động
viên thì nỗi buồn sẽ vơi đi từ đó giáo dục HS cần an ủi, động viên người khác khi người
đó gặp chuyện buồn trong cuộc sống.
Ví dụ 2: Bài “Người ăn xin” TV4 tập I trang 30.
Giáo dục Kĩ năng sống “Xác định giá trị” trong bài là: Nhận biết được vẻ đẹp của
những tấm lòng nhân hậu trong cuộc sống
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
10
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
Sau khi HS tìm hiểu nội dung bài tôi hỏi:
+ Câu chuyện giúp em hiểu ra điều gì?
Tôi yêu cầu mỗi em trả lời câu hỏi bằng một câu. Chẳng hạn: (Những người nghèo
khổ, bất hạnh họ không chỉ cần sự giúp đỡ về vật chất mà họ còn cần tình thương yêu, sự
cảm thông chân thành. Con người cần giành cho nhau tình yêu thương, chia sẻ…)
Ví dụ 3: Bài “Văn hay chữ tốt” TV4 tập I trang 129
Giáo dục Kĩ năng sống “Xác định giá trị. ” trong bài là: HS nhận biết được sự kiên
trì, lòng quyết tâm rất cần thiết đối với mỗi người.
Sau khi HS nhận biết Cao Bá Quát quyết tâm luyện chữ, cuối cùng ông viết chữ rất
Khi dạy các bài: “Thư thăm bạn; Nỗi dằn vặt của của An-đrây-ca; Thưa chuyện với
mẹ; Người ăn xin….” Tôi cho HS nhận xét cách xưng hô của các nhân vật trong truyện,
lời lẽ, của các nhân vật khi giao tiếp…
Ví dụ: Thư thăm bạn: xưng hô “mình - Hồng ”
Thưa chuyện với mẹ: xưng hô “mẹ - con….”
Người ăn xin: xưng hô “ông - cháu …”
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
11
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
Học sinh nhận biết cách xưng hô của các nhân vật trong truyện là đúng thứ bậc, lời
nói thể hiện sự thân mật, dễ đạt được mục đích giao tiếp. HS biết thể hiện sự cần thiết
phải ứng xử lịch sự khi giao tiếp trong cuộc sống. Dù trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp khác
nhau, mục đích giao tiếp khác nhau nhưng các em luôn có thể hiện cách ứng xử lịch sự để
đạt được mục đích giao tiếp và hơn hết là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người
xung quanh. Có thể là trình bày nguyện vọng của mình với người khác kèm theo cử chỉ,
nét mặt, lời nói, ngữ điệu. Có thể lắng nghe tích cực khi người khác nói.
Ví dụ: Khi học xong bài: Thưa chuyện với mẹ… (Trò chuyện thân mật và trình bày
nguyện vọng, ý kiến của mình với người khác) cần có thái độ như thế nào? Tôi đã thực
hiện như sau:
Khi học sinh nhận xét phần trò chuyện và thể hiện nguyện vọng ý kiến của bạn với
Cương với mẹ và thái độ lắng nghe tích cực của mẹ Cương xong, tôi tổ chức cho học sinh
thực hành Kĩ năng sống bằng cách cho học sinh thảo luận đóng vai để đưa ra các tình
huống xảy ra trong cuộc sống và các cách xử lí tình huống của các nhóm.
Ví dụ: Nhóm 1
- HS1 nói : “ Lan ơi, cho mình mượn quyển truyện này nhé.”
- HS2: Tỏ thái độ khi nghe HS1 nói và thể hiện thái độ đồng ý hoặc không
Có thể là thái độ tích cực hoặc tiêu cực.
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của mình,
đồng thời là cơ hội để chúng ta chia sẻ, giãi bày khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm
lí do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm
thấy đơn độc, bi quan, giúp chúng ta có cách nhìn mới và hướng đi mới.
* Kĩ năng thể hiện sự tự tin:
Tự tin là có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình có thể
trở thành người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn
thành nhiệm vụ.
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp các nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy
nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề,
đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống.
Kĩ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết
định, đảm nhận trách nhiệm.
* Kĩ năng lắng nghe tích cực:
Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ năng
lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến
hoặc trình bày của người khác, biết đưa ra ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng
thời có đối đáp hợp lý trong qúa trình giao tiếp.
* Kĩ năng thể hiện sự cảm thông:
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh
của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác
mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông
với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
Ví dụ: Khi dạy bài “Người ăn xin; Dế Mèn bênh vực kẻ yếu; Thư thăm bạn” Tôi yêu
cầu HS:
năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn.
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân
nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng
bạo lực, thoả món được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa
các bên một cách hoà bình.
Yêu cầu trước hết của kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc,
tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy
sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất.
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kĩ năng giải quyết vấn đề. Kĩ
năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với nhiều kĩ năng liên quan khác
như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng ra quyết
định …
* Kĩ năng hợp tác:
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc,
một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng
làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
* Kĩ năng tư duy phê phán:
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện
các vấn đề, sự vật, hiện tượng… xảy ra. Để phân tích một cách có phê phán, con người
cần:
- Thu thập thông tin về vấn đề, sự vật, hiện tượng… đó từ nhiều nguồn khác nhau.
- Sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung và một cách hệ thống.
Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các
thông tin trái chiều.
- Xác định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng… là gì? Nhận định về
những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng… đó, xem xét
một cách thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống.
Kĩ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết
định, những hành động phù hợp. Nhất là trong xó hội hiện đại ngày nay khi mà con
năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để
giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời. Mỗi cá nhân
phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác;
mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định. Để đưa
ra quyết định phù hợp, chúng ta cần:
- Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ra đang gặp phải.
- Thu thập thông tin về vấn đề hoặc tình huống đó.
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đó có.
- Hình dung đầy đủ về kết quả sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi phương án giải
quyết.
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng phương án
đó.
- So sánh giữa các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu. Kĩ năng ra
quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp con người có đựơc sự lựa chọn phù hợp và
kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống. Ngược lai, nếu không có kĩ năng ra quyết
định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm chễ, gây ảnh hưởng tiêu
cực đến các mối quan hệ, đến công việc và cuộc sống của bản thân; đồng thời còn có thể
ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan. Để ra quyết định một cách
phù hợp, cần phối hợp với những KNS khác như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định
giá trị, kĩ năng thu nhập thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tao…Kĩ
năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kĩ năng giải quyết vấn đề.
* Kĩ năng giải quyết vấn đề:
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương
án tối ưu và hành động theo phương án đó chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp
phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyết định và cần nhiều
KNS khác như: giao tiếp; xác định giá trị; tư duy phê phán; tư duy sáng tạo; tìm kiến sự
hỗ trợ, kiên định…
Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:
Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả
tìm kiếm thêm thông tin cần thiết.
công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ.
Kĩ năng đạt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân
trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.
Mục tiêu có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian ngắn, như một ngày, một
tuần (mục tiêu ngắn hạn). Mục tiêu cũng có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian
dài hơn, như một tháng hoặc vài tháng (mục tiêu trung hạn). Mục tiêu cũng có thể được
đặt cho một thời gian dài như một năm hoặc nhiều năm (mục tiêu dài hạn).
Kĩ năng đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng
thực hiện được mục tiêu của mình.
Muốn cho một mục tiêu có thể thực hiện thành công thì phải lưu ý đến những yêu
cầu sau:
Mục tiêu phải được thể hiện bằng những ngôn từ cụ thể; trả lời được những câu hỏi
như: Ai? Thực hiện cái gì? Trong thời gian bao lâu? Thời điểm hoàn thành mục tiêu là khi
nào?
Khi viết mục tiêu, cần tránh sử dụng các từ chung chung, tốt nhất là đề ra những việc
cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Mục tiêu đặt ra cần phải thực tế và có thể thực hiện được; không nên đặt ra những
mục tiêu quá khó so với khả năng và điều kiện của bản thân.
- Xác định được những công việc, những biện pháp cụ thể cần thực hiện để đạt được
mục tiêu.
- Xác định được những thuận lợi đó có, những địa chỉ có thể hỗ trợ về từng mặt.
- Xác định được những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình thực hiện mục tiêu
và các biện pháp cần phải làm để vượt qua những khó khăn đó.
- Có thể chia nhỏ mục tiêu theo từng mốc giới thời gian thực hiện.
- Kĩ năng đặt mục tiêu được dựa trên kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo,
kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ…
3. 2.3. Tìm hiểu và nắm bắt thêm và một số kĩ thuật dạy học lồng ghép Kĩ năng
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
16
cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng).
Động não thường được:
- Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề.
- Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề.
- Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau.
Động não có thể tiến hành theo các bước sau:
- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước
cả lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp nhiều ý kiến.
- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng loại trừ ý kiến trùng lập.
- Phân loại các ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng.
- Tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết luận.
* Kỹ thuật trình bày một phút:
Đây là kỹ thuật tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những
câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô
đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời học sinh đưa ra sẽ giúp
củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy được các em đó hiểu vấn đề
như thế nào.
Kỹ thuật này có thể tiến hành như sau:
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
17
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ, trả lời
các câu hỏi như:
do viết câu trả lời. Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh liệt kê ngắn gọn những gì các
em biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất định.
- Giáo viên yêu cầu một vài học sinh chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.
Kỹ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đó học, để phản hồi
với những bài học. Phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với học sinh.
Các tiến hành như sau:
- Giáo viên nêu câu hỏi/ yêu cầu định hướng học sinh đọc bài/ phần đọc.
- Học sinh làm việc cá nhân:
+ Đoán trước khi đọc: để làm việc này, học sinh cần đọc lướt qua bài đọc/ phần đọc
để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/ cụm từ quan trọng.
+ Đọc và đoán nội dung: Học sinh đọc bài/ phần đọc và biết liên tưởng tới những gì
mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra.
+ Tìm ý chính: Học sinh tìm ra ý chính của bài/ phần đọc qua việc tập trung vào các
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
18
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
ý quan trọng theo cách hiểu của mình.
+ Tóm tắt ý chính.
+ Học sinh chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau
thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/ phần đọc.
- Học sinh nêu câu hỏi để giáo viên giải đáp (nếu có).
Lưu ý: Một số câu hỏi giáo viên thường dùng để giúp học sinh tóm tắt ý chính.
+ Em có chú ý gì khi đọc….?
+ Em nghĩ gì về…………...?
3.2.4. Các bước thực hiện kĩ năng sống
* Khám phá
Kích thích học sinh tự tìm hiểu xem các em đó biết gì về những khái niệm, kĩ
19
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
- Chia sẻ trải nghiệm.
III. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
- Tranh minh hoạ bài Tập đọc trong SGK.
- Bảng phụ viết sẵn từ ngữ, câu văn cần hướng dẫn đọc đúng.
- Sưu tầm tư liệu về gương người thành đạt nhờ sự quyết tâm và sự kiên trì.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
1. Kiểm tra bài cũ
- GV và HS nhận xét
2. Bài mới
a) Khám phá
- Nêu yêu cầu HS thảo luận cặp đôi: Tự
nhận xét về chữ viết của mình và cho biết
mình đã rèn chữ viết như thế nào?
- Yêu cầu HS quan sát và nêu nội dung bức
tranh minh hoạ bài tập
=> Giới thiệu: Bài tập đọc Văn hay chữ tốt
kể về Cao Bá Quát - một người nổi tiếng
về tài cao, đức trọng thời xưa. Câu chuyện
ca ngợi Cao Bá Quát - từ một người viết
chữ xấu đã quyết tâm và kiên trì luyện chữ,
sao cho đẹp”.
+ Đoạn 3: Phần còn lại.
- HS đọc phần chú giải và giải nghĩa các
từ ngữ đó.
- 1 -> 2 em đọc cả bài trước lớp; lớp đọc
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
b.2. Hướng dẫn tìm hiểu bài
+ Vì sao Cao Bá Quát thường bị điểm kém?
Em diễn đạt theo cách hiểu của mình,
không nhắc lại nguyên văn câu chữ trong
đoạn truyện).
+ Sự việc gì đã xảy ra để Cao Bá Quát phải
ân hận ?
+ Vì sao chỉ đến khi sự việc này xảy ra.
Cao Bá Quát mới dốc sức luyện chữ cho
đẹp?
- Yêu cầu HS suy nghĩ cá nhân để trả lời
câu hỏi bằng một câu. Khuyến khích nhiều
em phát biểu theo các cách khác nhau.
* Lồng ghép GD KNS: Vì sao Cao Bá Quát
viết chữ rất xấu mà nhận lời viết đơn
Giúp bà cụ?
=> Kết luận: Khi bà cụ nhờ viết đơn kêu
oan, Cao Bá Quát đó vui vẻ trả lời “Tưởng
việc gì khó, chứ việc ấy cháu xin sẵn lòng”.
Câu nói của Cao Bá Quát cho thấy ông
chưa tự đánh giá đúng về bản thân, chưa tự
+ Cao Bá Quát viết hộ bà cụ hàng xóm
lá đơn kêu oan, vĩ chữ xấu quá quan
không đọc được, bà cụ bị đuổi ra khỏi
huyện đường, không giải được nỗi oan.
+ Vì khi sự việc xảy ra. Cao Bá Quát
mới thực sự nhận ra tai hại của việc viết
chữ xấu. / Vì viết chữ xấu có thể gây tai
hại cho người khác./
- HS nói theo ý hiểu
- HS thực hành KNS đó bằng cách cho
HS thực hành: “Tự giới thiệu về mình”.
trong lời giới thiệu: HS nêu những điểm
mạnh, điểm yếu của bản thân. Ví dụ: Học
sinh tự nhận xét về chữ viết của mình,
hoặc giới thiệu những khả năng và hạn
chế của bản thân
- HS đọc thầm đoạn 3
- Suy nghĩ trả lời câu hỏi:
- HS trao đổi, 1 – 2 em phát biểu: Mỗi em
trả lời câu hỏi bằng một câu. (Ví dụ:
Kiên trì luyện viết, nhất định chữ sẽ đẹp./
Có mục tiêu phấn đấu, quyết tâm thực
hiện, nhất định sẽ thành công./ Có tật xấu,
nếu quyết tâm sửa,thế nào cũng sửa được./
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
tiêu”. Em đã quyết tâm, kiên trì thực hiện Kiên trì làm một việc gì đó, nhất định sẽ
pháp khi dạy phân môn tập đọc cho học sinh lớp 4. Các giải pháp, biện pháp luôn có sự tác
động hỗ trợ lẫn nhau, vừa bám sát vào những vấn đề tâm sinh lí, điều kiện hoàn cảnh, mức
độ khả năng tiếp thu cụ thể của học sinh trong thực tế còn vướng mắc, dựa trên cơ sở đó
giáo viên có những cách thức, vận dụng phương pháp dạy học phù hợp để rèn cho học sinh
những kĩ năng sống cần thiết trong cuộc sống.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Qua thực tế giảng dạy lớp 4, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa được cao. Học
sinh cũng có những hành vi, thói quen, kĩ năng tốt. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn có các em
biết nhận xét, đánh giá về sự việc nhưng chưa có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô
chuẩn mực.
Tiến hành khảo sát lớp 4C đầu năm học với chủ đề: “Kĩ năng của em.”; kết quả là:
Số bài KT
Kĩ năng Tốt
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
Có hình thành kĩ năng
22
Kĩ năng chưa tốt
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
33
SL
16
24
72,8%
Có hình thành kĩ năng
SL
Tỉ lệ
08
24,2 %
Kĩ năng chưa tốt
SL
Tỉ lệ
01
3,0%
Nhìn vào kết quả trên ta thấy, sau khi tiến hành thực hiện các biện pháp giáo dục
lồng ghép kĩ năng sống trong phân môn Tập đọc theo hướng tích cực, số học sinh có kĩ
năng và thực hành kĩ năng sống tốt, cao hơn hẳn so với thời gian đầu năm học. Tôi nhận
thấy sự thể hiện về các kĩ năng sống của học sinh đã rất tích cực, tự tin, biết cư xử đúng
mực khi giao tiếp với thầy cô và các bạn; mạnh dạn trong các hoạt động học tập. Kĩ năng
hỗ trợ, hợp tác với nhau để thực hiện các nhiệm vụ học tập tốt hơn. Các em biết cách trao
đổi tình cảm, quan tâm với nhau hơn như: hỏi thăm khi thấy bạn của mình bị ốm phải nghỉ
học hoặc giúp đỡ bạn bằng những việc làm cụ thể như hướng dẫn bạn học bài…
III. Phần kết luận, kiến nghị
1. Kết luận:
Qua đề tài này, tôi thấy để giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả thì giáo viên cần
tìm hiểu, nắm chắc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức của từng em để từ đó tổ
chức các hoạt động học tập cho phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. GV cần
tin ở khả năng của các em, trong mỗi tiết học, từng hoạt động học tập GV cần tạo cơ
hội tối đa cho nhiều học sinh được tham gia. Từ đó, các em có cơ hội thể hiện mình, có
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP TRƯỜNG
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
......................................................................................................................................
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
24
Trường TH Krông Ana
Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở Tiểu học của NXBGD.
2. Sách Giáo viên Tiếng việt 4 tập 1+ tập 2.
3. Sách HS Tiếng việt 4 tập 1 + tập 2.
4. Tài liệu về các phương pháp và hình thức dạy học.
5. Chuyên đề giáo dục tuyển tập các bài soạn dạy thực hành KNS lớp 4.
Năm học 2015 - 2016
Giáo viên: Đoàn Thị Thoả
25
Trường TH Krông Ana