MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HUY ĐỘNG TRẺ VÀO
BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG MẦM NON VÙNG KHÓ KHĂN DTTS
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc
học đầu tiên, mở đầu cho các bậc học tiếp theo. Nhiệm vụ quan trọng của GDMN
là hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
và tạo tiền đề vững chắc cho trẻ khi bước vào trường tiểu học. Như vậy việc chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non là vô cùng cần thiết trong quá
trình đào tạo nhân cách con người, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Phát
triển GDMN là nền tảng cho sự nghiệp phát triển nguồn lực con người phục vụ
cho mục tiêu phổ cập GD Tiểu học, Phổ cập Trung học cơ sở và tiến tới Phổ cập
Trung học phổ thông.
Việc tổ chức cho trẻ ăn trưa tại trường, nhất là tại các điểm trường vùng
DTTS, có vai trò hết sức quan trọng: Tỉ lệ huy động trẻ đi học chuyên cần ngày
một nâng cao rõ rệt, chất lượng bữa ăn đảm bảo góp phần giảm tỉ lệ trẻ suy dinh
dưỡng; việc trẻ ăn ngủ cùng cô tại trường nhằm gắn kết tình cảm giữa cô và trẻ,
giáo viên có nhiều thời gian giao lưu trò chuyện với trẻ bằng tiếng phổ thông từ đó
chất lượng chăm sóc, giáo dục được nâng lên, tạo sự công bằng trong giáo dục cho
các trẻ học ở các điểm trường cũng như điểm trường trung tâm.
Việc tổ chức cho trẻ ăn trưa tại trường đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu
số góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của địa phương, thay vào hàng
ngày người dân đưa trẻ đi nương rẫy hay phải chuẩn bị bữa ăn cho trẻ tại nhà, nay
người dân đã hoàn toàn yên tâm cho con em mình ăn ngủ tại trường từ sáng đến
chiều để yên tâm lao động, sản xuất, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Trường Mầm non Hoa Pơ Lang thuộc xã Dur Kmăn là một xã vùng khó
1
khăn của Huyện Krông Ana. với Dân số toàn xã có 1.519 hộ với 7.129 khẩu, trong
thực tế dơn vị và địa phương.
- Đề xuất ý kiến những bài học kinh nghiệm về công tác tổ chức học bán trú
cho trẻ mầm non vùng khó khăn DTTS.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là biện pháp quản lý nhằm huy động trẻ
vào bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS tại trường Mẫu giáo Hoa Pơ
Lang.
4. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kiến thức của bản thân có hạn Nội dung nghiên cứu chỉ
trong phạm vi hẹp đó là Nghiên cứu, đề ra một số biện pháp quản lý nhằm huy
động trẻ vào bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS tại trường Mẫu giáo
Hoa Pơ Lang, của xã Dur Kmăn huyện Krông Ana.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài ngiên cứ nà thành công, tôi đã thực hiện các phương
pháp sau:
a. Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thêm những kiến thức và luận
chứng để lý giải vấn đề nghiên cứu.
b. Phương pháp điều tra.
Phương pháp điều tra nghiên cứu từ thực tế hình thức tổ chức dạy học, công
tác tổ chức bán trú trong trường Mầm non.Thống kê số liệu những năm học trước,
phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc huy động trẻ ra lớp thấp
c. Phương pháp phân tích.
3
Dựa trên những chứng cứ đã nghiên cứu, kết hợp với luận chứng của đề tài,
phân tích các yếu tố và đưa ra những lý giải của vấn đề.
C Phương pháp tổng hợp :
Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ xã Dur Kmăn, Nghị quyết HĐND xã khoá
XVIII cũng đã chỉ rõ “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở cả 3 nhà
trường, phát huy chất lượng trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc”
Để thực hiện được nhiệm vụ của ngành, nhiệm vụ của địa phương giao cho như đã
nói ở trên thì nhà trường phải tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
Tiếp tục công tác chăm sóc giáo dục trẻ, làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng mà
vấn đề cốt lõi là: Làm sao để huy động phụ huynh gửi con vào bán trú đạt chỉ tiêu,
yêu cầu của trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc. Để thực hiện các chỉ
tiêu đó cũng như sự mong đợi của lãnh đạo các cấp và nhân dân trong toàn xã.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy: sự tăng tốc
trong qua trình phát triển thể lực của trẻ phụ thuộc vào mối liên quan chặt chẻ giửa
dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe còn việc hình thành các kỹ năng vận động thô,
vận động tinh, sự khéo léo và phối hợp các giác quan phụ thuộc rất nhiều vào môi
trường GD cũng như quá trình tự rèn luyện của đứa trẻ có sự định hướng của
người lớn.
Cơ sở chính trị và và pháp lý:
Ngay từ luật GD năm 1998, chúng ta thấy Đảng và nhà nước ta đã thực sự
coi trọng GDMN, coi GDMN là nền móng then chốt chất lượng cho các bậc học
tiếp theo. do vậy, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu, chiến
lược phát triển GDMN giai đoạn 2001-2020, mục tiêu được đặt ra đến năm 2020
là " xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học MN cho hầu hết trẻ em trong độ
tuổi" đồng thời mục tiêu cụ thể là phải đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học
chương trình MG lớn chuẩn bọ vào lớp 1.
5
Quyết định 161.2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính
sách phát triển GDMN cũng nêu rõ" ưu tiên phát triển GDMN ở nơi có điều kiện
khó khăn, các vùng nứi cao, vùng đồng bào dân tộc giảm sự chênh lệch về chất
chưa đảm bảo.
2.2 .Thành công- hạn chế
Trong khi vận dụng đề tài này vào thực tế nhà trường Mầm non Hoa Pơ
Lang: những thành công nhất định, Được sự đồng tình, ủng hộ, cùng phối hợp của
các chính quyền địa phương, đoàn thể trong và ngoài nhà trường như Công đoàn,
Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, ban đại diên cha mẹ học sinh của
trường, ban tự quản thôn buôn...
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, năng động, chịu khó chịu khổ đã hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, Vẫn còn gặp một số hạn chế như
- Mới đi vào khuôn khổ, nề nếp, quy củ thì hầu hết giáo viên rất khó chịu,
không đồng tình, nhiều đồng chí tỏ ý phản đối...
- Xây dựng đội ngủ cán bộ cốt cán để ủng hộ đề tài này rất tốn nhiều thời
gian và năng lực; bởi vì họ còn hạn chế về năng lực lãnh đạo...
2.3 Mặt mạnh- mặt yếu
Trong quá trình thực hiện đề tài này; chúng tôi có những mặt mạnh sau:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo xuyên suốt của hệ thống chính trị địa
phương, của chính quyền thôn buôn. Sự nhiệt tình, tâm huyết, năng động, với lòng
8
yêu nghề mến trẻ của đội ngũ lãnh đạo và giáo viên nhân viên của trường, đã tạo
một sức mạnh tổng hợp, làm xoay chuyển nhà trường càng ngày càng tiến bộ đi
lên.
- Đội ngũ giáo viên trẻ chiếm tỷ lệ 80% trên tổng số Cán bộ viên chức; số
giáo viên này được đào tạo trình độ chính quy,
- Kịp thời xây dựng các đoàn thể trong nhà trường đi vào hoạt động ổn định,
nề nếp; nhất là Chi bộ(Từ năm 2003có 03 đảng viên đến nay đã phát triển 14 đảng
viên)
Tuy nhiên chúng tôi gặp một số mặt yếu như: giáo viên mới tuyển dụng hầu
Trường có nhiều điểm lẻ, những năm đầu cơ sở vật chất của nhà trường còn
quá thiếu thốn, mượn nhờ...điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó
khăn dẫn đến chất lượng chưa cao.
Đề tài đã được nghiên cứu, áp dụng từ năm học 2013-1014. năm học 20142015 và năm học này 2015-2016 đã thu được kết quả đáng kể, tuy nhiên để đề tài
đạt hiệu quả cao hơn, năm học 2015-2016 này tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và
đưa vào áp dụng thêm một số biện pháp nhằn nâng cao tỷ lệ huy động trẻ vào
bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS cao hơn năm học trước
Kết quả điều tra:
Năm học 2013-2014 Tổng số học sinh, 394 cháu Tỷ lệ huy động trẻ ăn bàn
trú 65 cháu/ đạt tỷ lệ 16,5% trẻ ra lớp
Năm học 2014-2015 Tổng số học sinh 410 cháu; tỷ lệ huy động trẻ ăn bán
trú 316 cháu/ đạt tỷ lệ 77,1% trẻ ra lớp
Và năm học này 2015-2016, tổng số học sinh 405 cháu; tỷ lệ huy động trẻ
bán trú 405 cháu/ đạt tỷ lệ 100% trẻ ra lớp
10
Kết quả điều tra cho thấy, từ năm học trước đến đến năm học 2013-2014 :
số trẻ huy động ăn bán trú còn thấp so với mặt bằng chung của huyện, tỉnh. Từ
năm học 2014-2015; 2015-2016 tỷ lệ huy động đạt tỷ lệ 100% trẻ ra lớp ăn bán
trú. Do đặc thù trường có nhiều điểm học lẻ cách xa nhau; biên chế cấp dưỡng chỉ
có 1 người, nhà bếp số lượng có hạn, nên nhà trường đã tổ chức 2 bếp ăn tại Điểm
chính, Sơn Thọ và Buôn triết có số lượng học sinh đông. còn lại 4 điểm cha mẹ
đem cơm cho trẻ. Nhà trường bố trí mỗi lớp 1 tủ đựng Camen cơm của trẻ.
Từ những kết quả điều tra và phân tích, tìm hiểu kỹ các nguyên nhân như
trên cũng như thấy rõ vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn của việc cần thiết phải
huy động huy động trẻ vào bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS tôi đã
đi sâu nghiên cứu, tìm ra các biện pháp và đưa vào áp dụng như sau:
- Làm tốt công tác tuyên truyền tới chính quyền các cấp, cộng đồng xã hội
và cha mẹ các cháu...
- BGH luôn gương mẫu từ lời nói tới việc làm.
- GV đạt khá chuẩn trong nhận thức và hành vi, tỉ lệ GV đạt khá - tốt có
chiều hướng tăng rõ sau khi áp dụng các biện pháp tích cực. Tuy nhiên vẫn còn
hạn chế một số GV cắt xén thao tác, quy chế chuyên môn, đối phó khi kiểm tra.
- Nhân viên : Có nhiều cố gắng trong công tác, có tiến bộ trong thực hiện
giờ giấc làm việc, giao tiếp với mọi người xung quanh, Không còn nhân viên nào
có sức ỳ, chưa tự giác, nhận lỗi rồi lại tái phạm, trong các hoạt động của nhà
trường
3. Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
12
Tôi xin trình bày một số biện pháp dưới dạng sáng kiến kinh nghiệm với đề
tài : một số biện pháp quản lý nhằm huy động trẻ vào bán trú ở trường mầm non
vùng khó khăn DTTS nhằm mục đích:
+ Tổng hợp lại toàn bộ kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình xây
dựng một số biện pháp quản lý nhằm huy động trẻ vào bán trú ở trường mầm non
vùng khó khăn DTTS tại trường Mẫu giáo Hoa Pơ Lang.
+ Nhắc lại những biện pháp đó để một lần nữa cùng đội ngũ cán bộ GVNV
trong nhà trường duy trì, củng cố và nâng cao hơn nữa vấn đề “ một số biện pháp
quản lý nhằm huy động trẻ vào bán trú ở trường mầm non vùng khó khăn DTTS"
trong giai đoạn tiếp theo.
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Xác định rõ mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt
trẻ ở các điểm trường còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhà trường đã đề ra các giải
pháp thực hiện tổ chức ăn bán trú cho trẻ ở các điểm trường, cụ thể như sau.
Giải pháp 1: làm tốt công tác tuyên truyền tới CMHS và cộng đồng để huy
động trẻ ra lớp được ăn bán trá:
hoá,…
Để nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc
cho trẻ ở lại bán trú, trẻ sẽ được chăm sóc, ăn ngủ theo khoa học, phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất và
trí tuệ. Chúng tôi đã chỉ đạo cho mỗi giáo viên là một tuyên truyền viên tích cực.
Tuyên truyền ở mọi lúc mọi nơi và bằng nhiều hình thức.
- Qua các góc tuyên truyền của lớp, qua trực tiếp với phụ huynh, tuyên
truyền thông qua các bậc phụ huynh với nhau: Nhằm làm cho số phụ huynh có
tư tưởng tiến bộ ủng hộ chủ trương kế hoạch của nhà trường, tuyên truyền cho
14
những phụ huynh có tư tưởng tiến bộ ủng hộ chủ trương kế hoạch của nhà
trường, tuyên truyền cho những phụ huynh có tư tưởng chậm tiến.
- Chỉ đạo viết bài truyền thông vào giờ đón trẻ, trả trẻ tại trường.
- Để mở rộng phạm vi tuyên truyền chúng tôi kết hợp đài phát thanh của
xã tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh. Ngoài ra chúng tôi phân công Ban
giám hiệu cùng với giáo viên ở từng địa bàn luôn tranh thủ hoà nhập vào các
cuộc họp xóm, họp phụ nữ để tuyên truyền trong các tổ chức để mọi phụ huynh
thấm nhuần và gửi con vào bán trú
-Mặt khác chúng tôi thường tổ chức giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao
với các đoàn thể trong xã, các buôn kết nghĩa trên địa bàn khu vực trường tạo
nên sự gắn bó thân tình, từ đây sẽ thuận lợi hơn cho công tác tuyên truyền.
- Công tác tuyên truyền được thực hiện xuyên suốt từ lúc xây dựng kế
hoạch cho đến lúc triển khai.
- Khi đa số các bậc phụ huynh đã đồng tình gửi con, nhưng còn một số ít
đình ở buôn Krang chua mạnh dạn cho con ăn ngủ tại lớp. Chúng tôi lại tiếp tục
phân công 1 Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm cùng với thôn đến tận hộ gia
đình để nắm tình hình cụ thể và tìm cách động viên họ gửi con vào bán trú.
Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng- chăm sóc- giáo dục trẻ
và tỷ lệ bé ngoan tăng cao. Vì vậy nhiều phụ huynh đã đến trường xin cho con đi
học và học bán trú.
Tổ chức tốt hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về chuyên môn nghiệp
vụ:
Muốn tuyên truyền vận động cho các bậc cha mẹ các cháu đưa trẻ ra lớp
đều ăn bán trú tại trường.thì điều quan trọng là phải nâng cao chất lượng chăm
sóc- nuôi dưỡng- giáo dục trẻ, mà muốn nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi
dưỡng- giáo dục trẻ thì phải quan tâm đến bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên về tư tưởng chính trị, về đạo đức sư phạm và năng lực chuyên môn, phải
16
có một đội ngũ giáo viên vừa " Hồng" vừa " chuyên" thì mới đáp ứng được yêu
cầu về đổi mới giáo dục hiện nay. Chính vì vậy tôi đã xây dựng kế hoạch bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ như sau:
Tham mưu với Trung tâm Y tế mở các lớp bồi dưỡng cô nuôi cho đội ngũ
nhân viên và cán bộ quản lý bán trú theo chuyên đề. Đặc biệt vào đầu năm học
nhà trường tiến hành mời những nhân viên nấu ăn được hợp đồng và một số phụ
huynh tại các điểm bản đến trường để bồi dưỡng, tư vấn cách chế biến thực phẩm,
cách quản lý giữ gìn thực phẩm, vệ sinh các dụng cụ nhà bếp, cách sử dụng dụng
cụ nhà bếp hợp lý khoa học
* Bồi dưỡng chuyên môn hè: hằng năm, sau khi tập huấn bồi dưỡng chuyên
môn hè từ Phòng GD&ĐT về, tôi đã triển khai nghiêm túc công tác bồi dưỡng đến
100% giáo viên trong trường, có bồi dưỡng thêm những nội dung mà nhiều giáo
viên còn vướng mắc. xây dựng các tiết dạy minh họa để giáo viên rút kinh
nghieejm, thống nhất phương pháp dạy học.
* Bồi dưỡng chuyên môn qua các buổi sinh hoạt chuyên môn: trong các
buổi sinh hoạt chuyên môn của trường, của các tổ chuyên môn, tôi đều chỉ đạo các
tổ trưởng tập trung cho giáo viên trao đổi, thảo luận về kỷ năng chăm sóc trẻ, về
đổi mới hình thức dạy học, cách chọn bài phù hợp khi lên mạng hoạt động, cách tổ
được giao lưu, học hỏi, rút ra những kinh nghiệm quý báu trong công tác chăm
sóc- giáo dục- nuôi dưỡng trẻ của mình, vì vậy tôi đã chỉ đạo các tổ chuyên môn
xây dựng kế hoạch hội giảng vòng tỏ, vòng trường, khuyến khích giáo viên phát
huy hết khả năng của mình trong việc sáng tạo thiết kế giáo án giảng dạy, làm đồ
dùng dạy học, từ đó giáo viên tự khẳng định mình và có hướng phấn đấu vươn lên.
năm học 2009-2010 nhà trường có 05 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp trường 02
giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện. năm học 2015-2016. phấn đấu 100%
giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường và.05 giáo viên phấn đấu đạt giáo viên
giỏi cấp huyện.
18
Tóm lại: Bồi dưỡng chuyên mon nghiệp vụ cho giáo viên để nâng cao chất
lượng đội ngũ đã giúp cho chất lượng giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của nhà
trường tăng cao, giúp các bậc cha mẹ trẻ yên tâm, tin tưởng đưa con đến trường
nhiều hơn.
Giải pháp 3: Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục.
Tham mưu với phòng GD&ĐT, lãnh đạo xã đầu tư cơ sở vật chất: mua
sắm, trang bị dụng cụ nấu ăn, tủ lạnh bảo quản, cải tạo bếp, nguồn nước... Thời
gian đầu nhà trường vận động phụ huynh đóng góp ngày công đến nấu ăn cho trẻ,
đóng góp củi đốt, rau, củ quả sẵn có tại địa phương. Sau đó, nhà trường tuyên
truyền rộng ra đến các nhà hảo tâm, các chương trình dự án, sự đóng góp của đội
ngũ CB-GV-NV trong nhà trường đầu tư mua sắm các thiết bị, dụng cụ nấu ăn,
thực phẩm,… góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ.
Làm tốt công tác xã hội hóa để tu sửa CSVC, mua săm trang thiết bị:
Cơ sở vật chất rất quan trọng trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
trẻ, cơ sở vật chất đầy đủ khang trang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
của trẻ, các bậc cha mẹ trẻ sẽ tin tưởng hơn khi cho con em tới trường vì vậy hằng
năm, vào đầu năm học tôi đều xây dựng kế hoạch đầu tư , tu sửa CSVC và mua
sắm trang thiết bị phù hợp với địa phương và tình hình thực tế của nhà trường. là
3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện giải pháp, biện pháp này phải đảm bảo những điều kiện như
CBGV phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, BGH đi đầu gương mẫu. Bố trí
đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, có khả năng giao tiếp với người địa phương tại
các điểm trường (biết tiếng dân tộc địa phương). BGH tăng cường công tác kiểm
tra, hỗ trợ điểm trường. Tổ chức nấu ăn thí điểm tại một số điểm trường để rút
20
kinh nghiệm trong tổ chức chỉ đạo.
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
- Biện pháp có tính quyết định trong công tác tham mưu là phải hoạch định
được bước đi thích hợp, kế hoạch xây dựng cụ thể, rõ ràng, nhất là thống nhất chỉ
tiêu và phải thực thi phù hợp có tính khả thi cao.
- Nhà trường phải có lòng kiên trì, nắm bắt thời cơ thích hợp để tham mưu
hiệu quả. Việc tham mưu không phải một lần có kết quả ngay mà phải tham mưu
nhiều lần. Công tác tham mưu phải được thực hiên thường xuyên, chủ động, tích
cực, dứt điểm, tránh hình thức.
- Chú trọng công tác xã hội hóa giáo dục để ngày càng phát triển trên diện
rộng, huy động mọi tổ chức đoàn thể, dân nhân trên địa bàn nhằm hỗ trợ nhiều
mặt cho nhà trường thực tốt nhiệm vụ giáo dục.
- Xã hội hóa giáo dục phải dựa vào cộng đồng, làm cho mỗi thành viên
trong cộng đồng thấy rõ ý nghĩa của phát triển giáo dục mầm non trong sự nghiệp
giáo dục. Hoạt động xã hội hóa giáo dục phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và
công khai.
- Việc tổ chức thực hiện các nội dung phải rõ ràng, phải tạo được niền tin
đối với các cấp lãnh đạo, phụ huynh, nhân dân bằng việc làm không ngừng nâng
cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
phát biểu chu đáo, bố cục phải rõ ràng và trong quá trình điều hành Hiệu trưởng
phải linh hoạt, khả năng ửng xử tốt trong mọi tình huống. Vận động mọi người
làm xã hội hóa công tác giáo dục phải hết sức thận trọng và có bài bản. Phải xác
định được hết các đối tượng cần tham gia tuyên truyền vận động và đối tượng cần
tuyên truyền. Các đối tượng tham gia tuyên truyền: Học sinh, cán bộ giáo viên,
phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể...Các đối
tượng này cần được tập huấn kỹ lưỡng về nội dung, về phương pháp làm xã hội
hóa công tác giáo dục. Vận động tuyên truyền xã hội hóa công tác giáo dục cần
22
thông qua các cuộc họp, các hội nghị, các buổi tập trung... Các đối tượng được
tuyên truyền vận động là phụ huynh học sinh và nhân dân, các tổ chức đoàn thể...
Xã hội hóa công tác giáo dục càng thắng lợi nếu Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo và
họp được với toàn thể phụ huynh học sinh toàn trường, bởi có như vậy 100% phụ
huynh mới được trực tiếp lĩnh hội những ý tưởng và chủ trương của trường tránh
việc truyền đạt sai lệch thông tin hoặc hiểu không đầy đủ vấn đề .
2. Trong quá trình triển khai nhà trường phải đóng vai trò chủ đạo, trung
tâm. Tuy nhiên xã hội hóa công tác giáo dục muốn thành công thì phải phát huy
cao độ tính dân chủ. Cụ thể: Khuyến khích họ bàn bạc trao đổi để đi đến thống
nhất. Nếu phụ huynh học sinh còn có ý kiến trao đổi ta nên tạo điều kiện cho họ
được phát biểu. Sau đó dựa trên ý kiến phát biểu đó người điểu khiển cuộc họp sẽ
hướng về vấn đề cần kết luận. Bao gồm: - Nội dung công việc. - Cách thức tìm. Đối tượng tham gia. - Mức độ đóng góp (nếu có). - Kết quả. * Phải huy động được
nhiều người cùng tham gia làm xã hội hóa công tác giáo dục*
3. Sau khi họp xong, để một lần nữa mỗi thành viên tham gia xã hội hóa
công tác giáo dục thể hiện chính kiến của riêng mình tránh tình trạng là cho rằng
thấy mọi người nhất trí tôi cũng nhất trí theo thì khi tiến hành bao giờ tôi cũng
phát phiếu xin ý kiến cho từng thành viên. Các thành viên có quyền mang phiếu về
nhà bàn bạc trao đổi với gia đình. Nếu nhất trí với nội dung nào thì ghi đồng ý với
nội dung đó, nếu không nhất trí thì ghi không đồng ý. Nếu có ý kiến khác thì ghi ý
tăng cao:
* Về chất lượng giáo dục: trẻ ham muốn đi học, tỷ lệ chuyên cần đạt 97%
so với trước đây chỉ đạt 70%- 75%. Trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn, tự tin, có kiến
thức và kỷ năng giao tiếp với mọi người, tỷ lệ bé ngoan đạt 96% so với các năm
24
trước đây chỉ đạt 65-70%. Tỷ lệ trẻ SDD giảm 24,8% so với đầu năm và giảm
5,7% so với cùng kỳ năm trước.
* Cha mẹ học sinh và cộng đồng nhận thức rõ về tầm quan trọng của
GDMN, đặc biệt là công tác huy động trẻ ra lớp, huy động trẻ ăn bán trú, Các bậc
cha mẹ trẻ tin tưởng vào các cô giáo từ đó quan tâm tới việc cho con em mình đi
học và ăn bán trú...Hằng năm nhà trường đều đạt chỉ tiêu kế hoạch giao, so với
dân số độ tuổi năm sau cao hơn năm trước...
Với những kết quả đạt được như trên, đã khẳng định những biện pháp tôi
đưa ra là phù hợp, là thục thi và tin tưởng rằng trong những năm tới; trường MN
Hoa Pơ Lang sẽ huy động và tổ chức ăn bán trú cho trẻ duy trì và phát triển, chất
lượng những bửa ăn phong phú đa dạng hơn.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Công tác tổ chức bán trú cho trẻ MN vùng DTTS là chủ trương hết sức nhân
văn, hết sức đúng đắn, phù hợp của Đảng, nhà nước ta trong xu thế phát triển của
xã hội hiện nay vì vậy rất cần có những hình thức và biện pháp tuyên truyền phù
hợp với tình hình thực tế tại địa phương, mặt khác cần phải chú ý đến bản sắc đặc
thù của đồng bào dân tộc, nắm được đặc điểm tâm lý cũng như phong tục tập quán
của mỗi dân tộc để tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của
GDMN tới các bậc CMHS và tòan cả cộng đồng
Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cho giáo viên là yếu tố quyết định
trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục và nuôi dưỡng trẻ MN vì vậy