Skkn một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học - Pdf 35

Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN KRÔNG ANA
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ LỢI

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP DUY TRÌ SĨ SỐ
HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

Họ và tên tác giả: Phạm Văn Chung
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lê Lợi
Trình độ đào tạo: Đại học
Môn đào tạo: Giáo viên Tiểu học

Krông Ana, tháng 02 năm 2016

MỤC LỤC
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

1


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

Trang
1

4
4

b. Khó khăn

5
5
6
7
7
7

2.2. Thành công, hạn chế
a. Thành công
b. Hạn chế.

7
8

2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
a. Mặt mạnh
b. Mặt yếu

8
8
8

2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động dẫn đến thực trạng trên
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra


12
12
12
12
13
14

b. Giải pháp đối với Giáo viên chủ nhiệm

15
15
16

c. Giải pháp từ phía xã hội và cộng đồng

17
18
19

d. Giải pháp phối hợp với phụ huynh học sinh

20
20

e. Giải pháp đối với học sinh

21
21
22
23


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài:
Nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vô cùng quan trọng, đó là “Nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”. Vì vậy, học sinh được xác định là đối
tượng đặc biệt quan trọng trong hoạt động dạy-học và vấn đề lưu giữ học sinh là
vấn đề quan trọng được đặt ra không chỉ đối với nhà trường, với ngành giáo dục
mà là vấn đề cần được sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là cha mẹ các em
và đội ngũ nhà giáo.
Trong những năm gần đây, tình trạng học sinh có nguy cơ bỏ học ngày
càng phổ biến. Cấp học càng cao tỉ lệ học sinh bỏ học và có nguy cơ bỏ học
càng lớn, đặc biệt là học sinh người dân tôc thiểu số (DTTS). Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh DTTS có nguy cơ bỏ học nhưng
nguyên nhân chính là do các em thiếu sự quan tâm của bố mẹ, đời sống kinh tế
còn nhiều khó khăn, điều kiện học tập chưa đảm bảo, năng lực học tập còn nhiều
hạn chế nên không thích đi học, chưa cảm nhận được “Mỗi ngày đến trường là
một niềm vui” như bao câu khẩu hiệu thường được gắn ở trước cổng một số
ngôi trường Tiểu học trên địa bàn huyện Krông Ana.
Xã hội càng phát triển thì yêu cầu về chất lượng giáo dục càng được nâng
cao. Chúng ta đang ra sức phổ cập giáo dục ở các cấp học. Nhưng trên thực tế có
biết bao nhiêu em học sinh không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết chưa thông
thạo đã vội nghỉ học giữa chừng. Đó là trách nhiệm của nhà trường nói chung và
của mỗi giáo viên đứng lớp nói riêng, do chưa quan tâm đúng mức đến học sinh,
chưa có biện pháp giúp đỡ học sinh còn hạn chế về năng lực học tập để duy trì sĩ
số. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của huyện
Krông Ana nói chung và trường Tiểu học Lê Lợi nói riêng.
Bản thân tôi qua nhiều năm công tác tại các trường thuộc xã vùng đặc

trường Tiểu học Lê Lợi - huyện Krông Ana - Đắc Lắc để khắc phục tình trạng
học sinh DTTS có nguy cơ bỏ học.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng có nguy cơ bỏ học của học
sinh DTTS.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng học sinh có nguy
cơ bỏ học, duy trì sĩ số.
b. Nhiệm vụ:
- Tìm ra nguyên nhân tại sao tình trạng học sinh DTTS chán học, có nguy
cơ bỏ học vẫn còn nhiều.
- Đánh giá lại môi trường giáo dục, chất lượng giảng dạy của trường Tiểu
học Lê Lợi trong những năm qua.
- Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp quản lí giáo
duc, phương pháp giảng dạy học sinh DTTS học tập tiến bộ hơn, tạo môi trường
học tập thân thiện giúp học sinh ham tích học tập và đi học chuyên cần hơn,
nhằm duy trì được sĩ số và đảm bảo chất lượng giáo dục.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Các phương pháp, biện pháp giảng dạy, giúp đỡ học sinh DTTS hạn chế
về năng lực học tập ở các lớp học từ lớp 1 đến lớp 5.
Cách thức tổ chức các hoạt động phong trào, hoạt động ngoài giờ lên lớp
của trường, lớp, các tổ chức có liên quan nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

5


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

duy trì sĩ số.
Sự quan tâm, giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể ở tại địa phương, hoàn
cảnh gia đình, trình độ nhận thức của cha mẹ học sinh đối việc học tập của con

Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

6


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

trong công tác duy trì sĩ số học sinh: “Duy trì sĩ số học sinh đang học, hạn chế
đến mức thấp nhất tỉ lệ học sinh bỏ học và có nguy cơ bỏ học đang học tại lớp”.
Theo Luật Giáo dục thì vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục đã được
Đảng và Nhà nước ta xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đàu nhằm
nầng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài” (Điều 9 - luật giáo dục
năm 2005).
Vì vậy, công tác duy trì sĩ số, chống học sinh bỏ học và có nguy cơ bỏ học
trong nhà trường là nhiệm vụ cần thiết của mọi cấp, mọi ngành, đặc biệt là của
ngành giáo dục. Còn trong cơ sở giáo dục thì đây là một nhiệm vụ cần được đưa
lên hàng đầu của người cán bộ quản lý nhằm góp phần làm tăng hiệu lực các văn
bản đã được liệt kê ở trên và nhằm đưa hiệu quả đào tạo của nhà trường ngày
càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
- Thông qua hội nghị công chức - viên chức, các cuộc họp của hội đồng
sư phạm, sinh hoạt chuyên môn, tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, giao ban hàng
tuần, hàng tháng, hiệu trưởng cần quán triệt rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng của
công tác duy trì sĩ số, chống nguy cơ bỏ học và bỏ học trong đơn vị, trao đổi
những kinh nghiệm hay, những giải pháp thích hợp nhằm duy trì sĩ số học sinh
có hiệu quả cao.
- Thông qua các cuộc họp giao ban tại xã, đặc biệt qua các cuộc họp hội
cha mẹ học sinh trong năm học, hiệu trưởng cần đề nghị, vận động, tuyên truyền
và nêu rõ cho các cấp, các ban ngành đoàn thể biết và nắm rõ tầm quan trọng về
vấn đề duy trì sĩ số hiện nay không chỉ là trách nhiệm của các thầy cô giáo trong
nhà trường mà còn là trách nhiệm của mọi người, mọi cấp, của toàn xã hội, từ đó

học sinh toàn trường. Trong cuộc sống hàng ngày các em còn phải phụ giúp bố
mẹ công việc trong gia đình chăn bò, hái cà phê, trông em,….Vì điều kiện kinh
tế còn thiếu thốn trăm bề. Trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều, tỉ lệ
học sinh còn hạn chế về năng lực học tập còn nhiều. Phụ huynh chưa quan tâm
đến việc học tập và giáo dục con cái, đa số là phó mặc cho nhà trường. Một số
gia đình giáo dục con cái không đúng phương pháp làm ảnh hưởng nhiều đến
nhân cách của các em. Trong nhiều năm qua có rất nhiều em là học sinh DTTS
của trường hạn chế về năng lực học tập, không thích đến trường. Các em đi học
vì bắt buộc của bố mẹ nhiều hơn là tự nguyện đến trường. Nhiều em con run sợ
khi gặp thầy cô, thụ động trong giờ học, chán học, hay trốn học, nghỉ học vô lí
do, đi học không đều, nhiều lần có ý định bỏ học.
Qua thống kê số liệu của trường Tiểu học Lê Lợi, tỉ lệ học sinh chưa
chuyên cần và có nguy cơ bỏ học (nằm ở học sinh DTTS) của hai năm học qua
như sau:
Năm học 2014-2015
KHỐI
LỚP

Chưa

Đầu năm học 2015-2016

Có nguy
cơ bỏ học

Chưa

TSHS chuyên cần
TSHS chuyên cần
SL HSDT SL HSDT

II

47

5

5

2

2

51

5

5

2

2

III

40

4

4


7

3

3

V

42

6

6

4

4

46

6

6

3

3

TT


MẪU PHIẾU TRIỀU TRA THÔNG TIN HỌC SINH
Họ tên học sinh:……………………Sinh ngày ..… tháng .…năm … ..
Trường:………………………..
Lớp…………
Địa chỉ ( Nơi em ở): Thôn (Buôn)……... xã…………………………………
1. Gia đình em gồm có những ai?...................................................................
2. Bố mẹ em làm nghề gì?..............................................................................
2. Ở trường em thích học môn nào nhất ?........................................................
3. Môn học nào em thấy khó nhất? ……………………….............................
4. Những hoạt động nào? Hội thi nào ở trường, ở lớp tổ chức mà em thấy
vui và thích tham gia nhất?..............................................................................
4. Em có thường xuyên nghỉ học không?.............Vì sao nghỉ học?...............
5. Bố mẹ có ý kiến gì khi thấy em nghỉ học ?..................................................
5. Ở nhà em có góc học tập riêng không?........................................................
6. Trong gia đình những ai hay nhắc nhở và giúp em học ở nhà?....................
7. Hằng ngày ngoài thời gian học ở trường ra em thường làm gì để giúp đỡ
gia đình?.......................................................Công việc đó là do em tự làm
hay bố mẹ yêu cầu em làm?.............................................................................
8. Ước mơ của em sau này là gì?...................................................................

Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

9


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

- Đối với giáo viên chủ nhiệm trao đổi trực tiếp và ghi lại những nhận
định chung về thực trạng vấn đề học sinh hay nghỉ học và có nguy cơ bỏ học.
Số liệu thống kê được qua điều tra, phỏng vấn: (Năm học 2014-2015)

IV

4

4

1

V

3

5

2

TT

18

21

3

KHỐI
LỚP

2

Số liệu thống kê được qua điều tra, phỏng vấn: (Đầu năm học 2015-2016)


IV

3

6

V

3

4

1

1

TT

17

22

1

4

1

- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu thốn, chưa

trường.
- Nhà trường chưa huy động được mọi tiềm năng của cộng đồng, xã hội
để làm tốt công tác duy trì sĩ số và chống nguy cơ bỏ học của học sinh DTTS
tại địa phương.
- Phương pháp giáo dục học sinh của một số giáo viên còn cứng nhắc và
quá nghiêm khắc, gây áp lực cho học sinh. Giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh
học sinh chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ về các biện pháp giáo dục học sinh
ở lớp, ở nhà và giúp đỡ học sinh còn hạn chế năng lực trong học quá trình học
tập.
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn và tạm bợ, chưa tạo được
môi trường giáo dục thực sự tốt.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu.
a. Mặt mạnh:
Các phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương cũng được nhà nước
và chính quyền địa phương quan tâm, giúp nhân dân nắm bắt kịp thời về
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ban hành cũng như
các vấn đề liên quan đến đời sống, kinh tế, văn hóa, giáo dục tại địa phương,
góp phần từng bước làm thay đổi cách nhìn về vai trò công tác giáo dục của
các bậc phụ huynh học sinh, hỗ trợ nhà trường làm công tác vận động, tuyên
truyền giáo dục, phổ cập giáo dục Tiểu học (PCGDTH) và xóa mù chữ.

Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

11


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

Học sinh người DTTS tại địa phương bước đầu đã nhận thức được mục
tiêu, nhiệm vụ học tập của mình, ham thích tham gia các hoạt động ngoại

nhiều hạn chế.
- Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục hoạt động hiệu quả chưa cao.

.

Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

12


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Nhà trường: Xây dựng kế hoạch đầu năm chưa khả thi về công tác duy
trì sĩ số học sinh - chống học sinh có nguy cơ bỏ học, kế hoạch, biện pháp còn
mang tính chung chung và chưa đưa công tác duy trì sĩ số học sinh vào công tác
thi đua khen thưởng.
Công tác phối hợp của lãnh đạo trường với hội cha mẹ học sinh và ban tự
quản thôn (buôn) chưa tốt.
Đội thiếu niên tổ chức các phong trao vui chơi còn hạn chế, tổ chức hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp để thu hút học sinh đến trường đôi khi còn hình
thức, đơn điệu, thiếu sự đầu tư về hình thức lẫn nội dung.
Cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và
học; các phòng thiết bị, thư viện, phòng truyền thống, sân chơi bãi tập, cây xanh
bóng mát chưa đạt yêu cầu nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh. Khuôn viên
nhà trường (hàng rào thấp, tạm bợ) đã làm ảnh hưởng đến công tác an ninh trong
nhà trường.
Về công tác chủ nhiệm: Còn mang tính chất hành chính sự vụ, nội dung
sinh hoạt lớp còn mang tính đối phó, rập khuôn, còn nặng nề đối với những học
sinh vi phạm các lỗi thông thường mà không biết rõ nguyên nhân dẫn đến các

cho học sinh dẫn đến chán học môn đó và có thái độ bất hợp tác với giáo viên
trong học tập cũng như trong các hoạt động khác.
Học sinh: Một số học sinh mất kiến thức cơ bản ở lớp dưới và không đủ
khả năng tiếp thu kiến thức của lớp mới.
Thái độ động cơ học tập của học sinh chưa đúng đắn, chưa hiểu hết học
để làm gì.
Một số học sinh chán học do mặc cảm vì hoàn cảnh hay thường xuyên bị
nhận xét còn nhiều hạn chế về năng lực, phẩm chất và nhắc nhở trước lớp, trước
đông người.
Gia đình, cha mẹ học sinh: Không ít gia đình phụ huynh học sinh thiếu
quan tâm đến việc học tập của con em mà khoán trắng cho nhà trường họ nghĩ
rằng việc dạy học là nhiệm vụ của nhà trường và việc học là của con em không
thích học thì nghỉ, họ chỉ tập trung lo làm ăn kiếm tiền.
Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện học tập cho con
em về đồ dùng học tập cũng như quỹ thời gian dành cho học ở nhà, môi trường
học tập, góc học tập.
Có gia đình đồng ý cho con mình nghỉ học để làm kinh tế phụ giúp gia
đình. Có gia đình quan tâm đến học tập con cái mình nhưng do trình độ hiểu biết
thấp cho nên hạn chế về phương pháp kèm cặp, hướng dẫn về việc học tập của
con em cũng như đôn đốc kiểm tra việc học tập của con em, thiếu sự phối hợp
giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
Cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, các đoàn thể:
Về việc lãnh đạo của Đảng ủy đối với các ban ngành trong xã về công tác
giáo dục có quan tâm nhưng về mảng công tác phổ cập cũng như duy trì sĩ số
chống học học sinh có nguy cơ bỏ học còn nhiều hạn chế, chưa đưa ra những
biện pháp, giải pháp cụ thể để phối kết hợp với các ban ngành trong xã.
Đối với chính quyền địa phương xem như đây là việc của nhà trường còn
họ chỉ biết chăm lo cơ sở vật chất nhà trường một phần nào đó. Chưa có sự chỉ
đạo chặt chẽ việc phối kết hợp giữa gia đình – nhà trường và xã hội.


- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền về vai trò quan trọng của giáo dục.
- Vận động xây dựng quỹ hỗ trợ về giáo dục đối với học sinh DTTS có
hoàn cảnh khó khăn.
- Vinh danh những tấm gương học sinh người DTTS có thành tích cao
trong học tập và hiếu học.
d. Giải pháp phối hợp với phụ huynh học sinh:
- Cần nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của bố mẹ trong việc
phối hợp với nhà trường để giáo dục tốt con em mình.
- Tạo điều kiện để trẻ đến trường học tập.
e. Giải pháp đối với học sinh DTTS:
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

15


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

- Giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng và mục đích của việc học
xóa bỏ tâm lí, quan niệm học cho biết chữ.
- Xây dựng được mối quan hệ thầy trò bằng tình thương.
- Xây dựng mối quan hệ bạn bè tốt để giúp đỡ nhau học tập tiến bộ.
3.2. Nội dung và cách thực hiện giải pháp:
a. Giải pháp đối với nhà trường:
Nhà trường có kế hoạch tham mưu thật cụ thể với các cấp ủy đảng và
chính quyền địa phương cùng các ban ngành tổ chức đóng trên địa bàn xã chăm
lo cho giáo dục về vật chất, tinh thần và đặc biệt là huy động học sinh ra lớp
học.
Khi tham mưu cần phải kiên trì, khéo léo và có tính thuyết phục những
vấn đề đưa ra một cách cụ thể.
Nhà trường phải làm chuyển biến nhận thức của các cấp ủy đảng, chính

huy vai trò của hội khuyến học để chăm lo cho giáo dục của xã nhà nói chung và
của trường Tiểu học Lê Lợi nói riêng. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục,
tranh thủ huy động mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục nhằm tạo một xã hội học
tập đồng thời khen thưởng những giáo viên giỏi các cấp, học sinh năng khiếu
các cấp và hỗ trợ động viên những học sinh nghèo vượt khó trong học tập.
Phân công những giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn và
nhiệt tình trong công tác làm chủ nhiệm các lớp. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác
bàn giao giữa giáo viên chủ nhiệm cũ và giáo viên chủ nhiệm mới để năm bắt
tình học tập của lớp kịp thời, rà soát những học sinh hạn chế về năng lực có
nguy cơ bỏ học, tìm hiểu hoàn cảnh sống của gia đình, công việc thường ngày
và tâm tư nguyện vọng của học sinh, nguyên nhân hay nghỉ học, (khi đến gia
đình phụ huynh học sinh phải có sổ nhật kí mang theo để thông báo tình hình
của học sinh đồng thời phụ huynh ký xác nhận vào sổ).
Công tác vận động học sinh phải thường xuyên liên tục và trở thành
phong trào không thể thiếu được trong nhà trường.
Mở các chuyên đề bồi dưỡng những kinh nghiệm nghiệp vụ cho toàn bộ
đội ngũ giáo viên.
Thường xuyên kiểm tra đôn đốc kịp thời các hoạt động của giáo viên chủ
nhiệm.
Họp giáo viên chủ nhịêm với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng 1 lần/tháng.
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng nên dành thời gian đi dự giờ tiết sinh hoạt lớp cuối
tuần để nắm bắt tình của học sinh.
Đưa chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh vào công tác thi đua khen thưởng của
năm học đối với công tác chủ nhiệm.
Nhà trường thành lập ban duy trì nề nếp và ban duy trì sĩ số học sinh do
hiệu trưởng làm trưởng ban, phó hiệu trưởng, TPT Đội làm phó ban, giáo viên
chủ nhiệm làm ủy viên để giúp cho nhà trường về việc vận động khi có học sinh
nghỉ học và học sinh có nguy cơ bỏ học.
Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo thực hiện tốt công tác, chương trình
giáo dục phối hợp với gia đinh học sinh, với ban đại diện cha mẹ học sinh:

mua sắm cơ sở vật chất, thiết bị cho nhà trường; góp phần cải thiện đời sống tinh
thần vật chất cho giáo viên; khen thưởng học sinh năng khiếu, giúp đỡ học sinh
nghèo, xây dựng môi trường học tập thân thiện.
Lãnh đạo nhà trường phối kết hợp với Công đoàn, Đoàn, Đội:
Đối với công đoàn: Phối kết hợp với nhà trường để tuyên truyền các cuộc
vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh”; cuộc vận
động “Hai không” với 4 nội dung; cuộc vận động “ Mỗi thầy giáo, cô giáo là
tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; hưởng ứng tích cực phong trào“ Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Đẩy mạnh các phong trào thi đua dạy tốt học tốt làm tốt công tác vận
động, động viên cán bộ giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; cùng nhà
trường xây dựng cơ quan văn hóa và xây dựng khối đoàn kết nội bộ.
Đối với Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh: Nhà trường cần phải nắm
vững chức năng, nhiệm vụ công tác của Tổng phụ trách Đội để định hướng cho
họ thực hiện tốt trách nhiệm của mình.
Tổ chức các phong trào thi đua thiết thực và động viên khen thưởng kịp
thời những đội viên có nhiều cố gắng trong học tập và rèn luyện. Tổ chức tốt các
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

18


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

hoạt động sinh hoạt với nhiều hình thức đa dạng phong phú nhằm thu hút sự
tham gia họat động của học sinh. Tổ chức tốt phong trào văn hóa văn nghệ, thể
dục thể thao để học sinh có cơ hội thể hiện năng khiếu, tài năng của mình, thu
hút học sinh đến trường, làm cho các em thấy được đi học vui và bổ ích hơn ở
nhà, nhằm phục vụ cho công tác dạy và học.
Tổng phụ trách Đội thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ

Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

19


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

gian còn lại tổ chức các hoạt động văn nghệ, thơ, ca… (tránh tình trạng biến tiết
sinh hoạt cuối tuần thành những hình phạt, phê bình kiểm điểm học sinh làm cho
học sinh chán nản và tiêu cực). Đối với học sinh thường xuyên nghỉ học với
những lí do không chính đáng, giáo viên cần nhẹ nhàng phân tích cho các em
thấy việc nghỉ học của mình làm ảnh hưởng như thế nào đến kết quả học tập,
phẩm chất của bản thân, đến lớp, thầy cô và bạn bè, từ đó các em nhận thức
đúng đắn về nhiệm vụ của người học sinh và cố gắng đi học chuyên cần hơn.
Hàng tháng giáo viên chủ nhiệm phải thông báo kết quả học tập cho học
sinh qua sổ liên lạc hoặc điện thoại vào cuối tháng.
Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm phối kết
hợp với giáo viên bộ môn chuẩn bị tốt bài giảng và sử dụng khai thác thiết bị
dạy học một cách triệt để và có hiệu quả, phối kết hợp các phương pháp dạy học
phù hợp với từng đối tượng học sinh người kinh, học sinh người DTTS của lớp
để truyền đạt hướng dẫn học sinh học tập một cách có hiệu quả nhất. Đơn giản
hóa kiến thức, lối truyền đạt đối với học sinh DTTS.
Giáo viên phải giao tiếp được bằng tiếng dân tộc nơi công tác và xem việc
giảng dạy bằng “song ngữ” là điều cần thiết đối với học sinh người DTTS.
Đối với học sinh còn hạn chế về năng lực thường không hứng thú học tập,
rụt rè và tự ti, chính vì vậy giáo viên cần tăng cường các trò chơi, hình thức học
tập sinh động trong tiết học, giáo viên lưu ý phải để cho học sinh còn hạn chế về
năng lực tham gia và phải biết được trong hình thức học tập đó học sinh tham
gia được ở phần nào. Đối với học sinh DTTS, tiếng Việt không phải là tiếng mẹ
đẻ nên giáo viên cần chú trọng việc tăng cường tiếng Việt trong mỗi tiết học, tạo

đòi hỏi việc đánh giá thận trọng, khách quan, công bằng trung thực, tế nhị đúng
lúc, đúng nơi. Mục đích đánh giá là giúp học sinh tự điều chỉnh, tự khẳng định
mình, lạc quan, tự tin hơn trong học tập và rèn luyện.
Giáo viên không ngừng học tập, nghiên cứu, trau dồi năng lực, nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân, nhằm đáp ứng kịp với từng giai
đoạn phát triển của giáo dục.
c. Giải pháp từ phía xã hội và cộng đồng:
* Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hoá
giáo dục.
Thực tế đã chứng minh rằng, một trong những nguyên nhân thành công
hoặc chưa thành công trong việc tổ chức thực hiện xã hội hoá giáo dục chính là
vấn đề nhận thức. Tất cả mọi người trong cộng đồng phải hiểu đúng bản chất
của xã hội hoá giáo dục, sự cần thiết phải tham gia giáo dục, từ đó nâng dần tính
tự giác, tích cực, chủ động, tình cảm và năng lực hoàn thành công việc này. Vì
vậy, phải tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cung cấp thông tin một
cách đầy đủ về đường lối, mục đích, chủ trương, yêu cầu, thuận lợi, khó khăn
nhằm làm chuyển biến nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương,
các tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân theo hướng tích cực về vị trí hàng đầu
của giáo dục, về bản chất, nghĩa vụ và quyền lợi của xã hội hoá giáo dục để
quần chúng có đủ hiểu biết, chủ động tham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục.
Để làm được điều này, tôi đã quan tâm tới các vấn đề sau:
+ Trước hết phối hợp với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương; giáo viên
và các ban ngành đoàn thể sau đó đến toàn dân tổ chức học tập, quán triệt các
văn bản, nghị quyết, chỉ thị có liên quan đến giáo dục và xã hội hoá sự nghiệp
giáo dục để mọi người đều nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách vận
dụng vào thực tiễn.
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

21


hoá, hiện đại hoá đất nước. Trên cơ sở mục tiêu giáo dục, mỗi cơ quan đoàn thể,
mỗi cá nhân trong cộng đồng đều tham gia vào một số công việc phù hợp với
khả năng và điều kiện của mình góp phần thiết thực vào công tác xã hội hoá giáo
dục ở địa phương mình đang sinh sống, mọi người thấy rằng chỉ có thể làm tốt
xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mới có thể tạo điều kiện phát triển kinh tế- xã hội;
Giáo dục- đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của toàn dân, kết hợp chặt chẽ ba
môi trường giáo dục: nhà trường - gia đình - xã hội sẽ tạo được môi trường giáo
dục lành mạnh, thống nhất ở mọi nơi, mọi lúc, trong từng gia đình, từng tập thể,
cộng đồng và có như vậy mới có thể có kết quả giáo dục như mong muốn.
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

22


Đề tài: Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

* Tổ chức các hoạt động, phong trào tạo động lực trong việc huy động
tiềm năng của cộng đồng để phát triển giáo dục.
Vị thế của giáo dục chỉ thực sự được tôn vinh một khi xã hội thừa nhận.
Chính vì vậy, nhà trường phải biết thiết kế, tổ chức các hoạt động, các phong
trào có sự chứng kiến, tham gia trực tiếp của cộng đồng, đó là biện pháp làm
thay đổi bộ mặt giáo dục. Ví dụ: tổ chức“ Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”, tổ
chức “Tháng hành động vì trẻ em” nhằm vận động cha mẹ học sinh quan tâm
chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và tạo điều kiện tốt nhất có thể cho con em học tập,
vui chơi; có trách nhiệm cùng với nhà trường chăm sóc, nuôi dạy con tốt. Đây
cũng là dịp vận động nhân dân, các cơ quan, các tổ chức xã hội cùng tham gia
xây dựng, sửa chữa trường lớp, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ việc dạy học.
Bên cạnh đó, bằng việc tổ chức các hội thi trong năm học như: Giao lưu
tiếng Việt cho học sinh DTTS, rung chuông vàng, tổ chức Trung thu, thi hát dân
ca, đã thu hút được sự quan tâm đông đảo các lực lượng xã hội, mọi thành phần

gàng, đầy đủ, khoa học, trang trí theo sở thích của các em để các em cảm thấy
góc học tập cũng là góc vui chơi bổ ích. Phụ huynh cần giúp đỡ con học ở nhà,
động viên kịp thời những tiến bộ của con em mình, khi các con cái phạm lỗi
nên tìm hiểu rõ nguyên nhân rồi phân tích cho các em hiểu thế nào là đúng sai, việc nào nên làm và việc nào không nên làm chứ không nên mắng chửi
nặng lời hoặc trừng phạt bằng roi vọt mà không cần rõ lí do, nguyên nhân dẫn
tới sai phạm của các em. Giáo viên cần phân tích giúp phụ huynh hiểu việc
quan tâm đến bạn bè của con cái cũng rất quan trọng như cha ông ta có câu
“Gần mực thì đen - gần đèn thì sáng”, phụ huynh cần chú ý đến thời gian ngoài
giờ học con em mình đi đâu? Làm gì? Chơi với ai? Để uốn nắn, nhắc nhở con
em kịp thời, tránh để các em có quá nhiều thời gian tự do một mình, làm nhiều
điều mà cha mẹ không hề hay biết. Giáo viên và phụ huynh cần tạo được mối
liên hệ thông tin hai chiều chặt chẽ và thường xuyên để biết con em mình có
đến trường không? Đi học đúng giờ không? Có hành vi gì cần sửa chữa không?
Khi con em mình hạn chế về năng lực, phụ huynh cần giúp các em lấy lại niềm
tin trong học tập, giúp các em thấy được những điều quý giá có được từ các bài
học trên lớp, giúp các em vượt qua khó khăn, cố gắng học tập nhiều hơn mà
không thấy chán nản, tự ti. Động viên kịp thời khi các em đã tiến bộ cho dù là
sự cố gắng nhỏ nhất để các em có thêm động lực tiếp tục phấn đấu.
e. Giải pháp đối với học sinh:
Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi biết rằng có những em
học chậm tiến bộ, lười học hay nghỉ học vô lí do mà đa số là học sinh người
DTTS nhưng lỗi không phải hoàn toàn là do các em. Có em ham chơi nên quên
học bài, có em do bị mất căn bản từ các lớp dưới, nhưng cũng có em học chậm,
hoặc lười học, không thích học là do những điều kiện khách quan khác. Gia đình
của các em đâu phải lúc nào cũng đầm ấm, hạnh phúc; đâu phải em nào cũng
may mắn được bố mẹ, ông bà động viên, khuyến khích trong mỗi bước học tập.
Và có biết bao nhiêu bố mẹ phải lo làm thuê, làm mướn kiếm sống hoặc vì
nghiện ngập, ốm đau bệnh hoạn, nên không ngó ngàng gì đến việc học của con
cái, thậm chí các em còn bị mắng chửi, bị đánh đập. Những sóng gió đó đã tác
động đến tâm lí trẻ thơ, cản trở việc học tập của các em. Nếu như giáo viên

cho đúng mới thôi. Nhưng đúng là đúng từ việc làm, nghiêm là nghiêm trong
việc làm chứ không phải ở thái độ khắt khe, gay gắt. Quan hệ cơ bản nhất của
thầy và trò là quan hệ hợp tác làm việc: giáo viên giao việc - học trò làm; giáo
viên hướng dẫn- học trò thực hiện.
Khi giao việc, đặc biệt là đối với học sinh DTTS giáo viên chỉ nói một
lần, nói chậm, nói kĩ nhưng chỉ nói khi lớp trật tự. Với cách làm này, tự nhiên
thầy sẽ trở nên nói ít, học trò sẽ làm nhiều. Làm việc như thế nào thì đạo đức, ý
thức sẽ kèm theo như thế ấy. Làm đến nơi đến chốn thì ý thức kỉ luật cũng đến
nơi đến chốn.
Hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí cũng như sự hình
thành tính cách của học sinh. Vì vậy, khi lên lớp, giáo viên luôn chú ý đến cả
cách đi đứng, nói năng, cách ăn mặc, cách cầm sách, chữ viết, thái độ, để học trò
noi theo. Không vì bất cứ lí do gì mà giáo viên cho phép mình cẩu thả hoặc xuề
xòa, qua loa trước mặt học sinh.
- Khi học sinh nào làm bài chưa đúng, giáo viên yêu cầu học sinh đó phải
làm lại chứ không vội phê bình ngay. Giáo viên giúp đỡ, hướng dẫn học sinh
làm lại ngay tại lớp cho đến khi học sinh làm đúng mới thôi. Điều đặc biệt lưu ý
là đối với học sinh người DTTS tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ nên việc
Phạm Văn Chung - Trường Tiểu học Lê Lợi – Krông Ana – Đắc Lắc

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status