ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ NGUYÊN CHƢƠNG
THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ NGUYÊN CHƢƠNG
THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1.2. Khái niệm tố cáo và tố cáo về đất đai ................................................. 18
1.1.3. Khái niệm về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai .......................... 19
1.2. Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ................... 23
1.2.1. Khái niệm về thi hành pháp luật ......................................................... 23
1.2.2.Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai .................. 24
1.2.3. Các nhân tố trong thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo
về đất đai ...................................................................................................... 26
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai. ..................................................................................... 29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................................................................... 31
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành ............................................. 31
2.1.1. Các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại về đất đai từ năm 2004
tới nay. ........................................................................................................... 31
2.1.2. Pháp luật về giải quyết tố cáo về đất đai từ năm 2004 tới nay. .......... 37
2.1.3. Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành ........................................ 38
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại
thành phố Đà Nẵng........................................................................................ 43
2.2.1. Tình hình các vụ khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai nổi cộm
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.................................................................... 45
2.2.2. Những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động thi hành
pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng......................................................................................................... 50
2.3. Nguyên nhân của các bất cập trong thi hành pháp luật giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai tại thành phố Đà Nẵng ................................................ 54
2.3.1.Về sự bất cập trongcác quy định pháp luật .......................................... 54
2.3.2. Năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền trong
XHCN : xã hội chủ nghĩa
UBND : ủy ban nhân dân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến
pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị
xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khiếu nại, tố cáo là
hiện tượng xã hội xuất hiện trong quản lý hành chính nhà nước, là một kênh
thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước,
phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức. Do đó, công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà
nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông
qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự
phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở
thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà
nước. Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được
Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm.
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai là một hiện
tượng xảy ra phổ biến trong xã hội; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế đất có giá, việc giao đất, cho
thuê đất phi nông nghiệp, thuê đất sản xuất kinh doanh phải trả tiền thì khiếu
nại, tố cáo về đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng
cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung.
Hiện nay, tình hình khiếu nại, tố cáo trong cả nước nói chung và trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng diễn biến rất phức tạp, số lượng đơn thư
phạm quy định về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu
nại, tố cáo; nhiều Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận giải quyết tố cáo
đã có hiệu lực pháp luật nhưng chậm thi hành hoặc không thi hành; công tác
thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa
3
được quan tâm đúng mức; kỷ luật hành chính trong giải quyết khiếu nại, tố
cáo bị buông lỏng; những vi phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo chưa được xử lý
nghiêm minh, trình độ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáovề đất
đai còn bất cập...
Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai không thể thiếu cơ chế
giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai hoàn thiện và hiệu quả. Việc nghiên
cứu, tìm hiểu các khiếu kiện về đất đai và phân tích, đánh giá đúng công tác
thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là rất cần thiết, không
những giúp Nhà nước trong nỗ lực xác lập cơ chế giải quyết về đất đai một
cách có hiệu quả mà còn góp phần vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống
chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước hiện nay.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, pháp
luật tố cáo và xuất phát từ thực tiễn công tác thi hành pháp luật giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, để góp phần đổi
mới, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng, tôi chọn đề tài: “Thi hành pháp luật giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài
nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thi hành pháp luật nói chung và thi hành pháp luật trong GQKNTC là
đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý. Nhất trong giai
nại trong lĩnh vực đất đai qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Bùi Thị Thuận
Ánh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội),...
- Một số bài viết, công trình khoa học đề cập đến công tác kiểm tra,
giám sát hoạt động GQKNTC hành chính ở những góc độ khác nhau như:
Trách nhiệm của đại biểu dân cử trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân (ThS. Đào Xuân Tiến, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02/2005);
5
Tăng cường giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính
nhà nước - giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (TS Trần Văn
Sơn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2005); Nâng cao hiệu lực, hiệu quả
thanh tra trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo (Bùi Nguyên Súy, đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh
tra Chính phủ năm 2007); ...
- Trước những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, đã có một số công trình
nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp đổi mới cơ chếgiải quyết khiếu nại, tố cáo
(GQKNTC) hành chính (thậm chí có những công trình, bài viết khai thác những
khía cạnh liên quan đến mô hình GQKNTC hành chính còn đang có những ý
kiến khác nhau về vị trí, vai trò, thẩm quyền) như: Hoàn thiện cơ chế giải quyết
khiếu kiện hành chính (Nguyễn Văn Thanh, đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh
tra Chính phủ năm 2004); Cơ quan tài phán hành chính - nhận thức mới, giải
pháp mới cho một vấn đề không mới (Đinh Văn Minh, Tạp chí Thanh tra, 2005);
Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay
(PGS.TS.Bùi Xuân Đức, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số 5/2008); Trao đổi
thêm về việc áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003 (Phạm Thanh Hải, Tòa án
nhân dân huyện Đan Phượng, Hà Tây, Tạp chí Tòa án, tháng 5/2005); Những
vấn đề cần trao đổi khi áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003 (TS Nguyễn
Văn Cường, Tạp chí Tòa án tháng 8/2005); Một số khía cạnh của việc nâng cao
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố;
- Đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng trong thời gian từ khi có Luật Đất đai năm 2003 và 2013 đến nay;
dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong thời gian tới;
- Thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về
đất đai trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại thành phố Đà Nẵng từ
khi có Luật Đất đai năm 2013.
7
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong những năm tiếp theo.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
Thông qua việc nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật về giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng như việc áp dụng các quy định pháp
luật vào thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng để thấy được những vướng mắc, bất cập trong hệ thống
pháp luật hiện hành, đề xuất sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật
khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần hỗ trợ chính quyền các cấp trong việc ra
các văn bản, chính sách liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
cũng như các văn bản, chính sách để đảm bảo hiệu quả thi hành pháp luật giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố.
Ý nghĩa thực tiễn:
Phân tích tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và thực trạng công tác
thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành
phố, vận dụng những quy định của pháp luật, đánh giá những tồn tại, vướng
mắc, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác thi hành pháp luật giải
Đề tài được tiến hành từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 06 năm 2014.
Số liệu và thông tin thu thập từ thời điểm năm 2004 (thời điểm Luật
Đất đai năm 2003 có hiệu lực) đến cuối năm 2013.
- Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và thực trạng
công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, tập trung
vào các cơ quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Tiếp công dân thành
phố, Thanh tra thành phố, UBND các quận, huyện trên địa bàn thành phố.
9
6. Nội dung nghiên cứu:
- Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu: cơ sở pháp lý của khiếu nại, tố
cáo về đất đai; tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - chính trị của thành phố Đà
Nẵng và ảnh hưởng của nó đến khiếu nại tố cáo và công tác thi hành pháp
luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; vai trò của giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai.
- Phân tích, đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay;
dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong thời gian tới
- Nghiên cứu thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại thành phố
Đà Nẵng từ khi có Luật Đất đai năm 2003, bước đầu triển khai Luật đất đai
năm 2013, rút ra những tồn tại, vướng mắc và bài học kinh nghiệm trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả
việc thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong những năm tiếp theo.
- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề
nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a. Xây dựng bảng hỏi điều tra phỏng vấn các đối tượng liên quan đến
đề tài
- Lập bảng hỏi điều tra phỏng vấn: Bảng hỏi được thiết kế gồm bảng
hỏi mở và bảng hỏi phỏng vấn sâu.
+ Bảng hỏi mở: để phỏng vấn các đối tượng có đơn khiếu nại, tố cáo
và yêu cầu giải quyết về đất đai. Thông tin cấu trúc nội dung bảng hỏi mở sẽ
gồm các nội dung: hỏi về các giấy tờ về quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản
11
gắn liền với đất, nội dung khiếu nại, tố cáo, thời điểm xảy ra vụ việc; yêu cầu,
nguyện vọng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai....
+ Bảng hỏi phỏng vấn sâu: để phỏng vấn các cán bộ, công chức, thanh
tra viên tham gia công tác xây dựng pháp luật, tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai trong các cơ quan hành chính nhà nước. Thông tin cấu trúc
nội dung bảng hỏi sẽ gồm các nội dung: các dạng khiếu nại, tố cáo về đất đai
thường gặp; các câu hỏi đánh giá về trình tự, thủ tục giải quyết, đánh giá công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; yêu cầu, điều kiện để thực hiện
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai...
b. Chọn mẫu phỏng vấn
- Phỏng vấn trực tiếp một số đối tượng có đơn khiếu nại, tố cáo về đất
đai: gồm 4 nhóm đối tượng: đối tượng khiếu nại, đối tượng tố cáo, đối tượng
có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án và các đối tượng có kiến nghị
khác trong lĩnh vực đất đai.
- Phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ tham gia tiếp công dân, trực tiếp
giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại các cơ quan hành chính nhà nước:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng
13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
1.1. Quan niệm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.1.1. Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai
Trong khoa học pháp lý tại Việt Nam, kể từ khi Hiến pháp 1959 ra
đời, bản Hiến pháp này đã công nhận rằng “Khiếu nại, tố cáo là một trong
những quyền cơ bản của công dân” và là một trong những cách thức để công
dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Nếu giải quyết tốt các khiếu nại sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, xây dựng
và phát triển đất nước.
- Quan điểm về khái niệm khiếu nại
Khiếu nại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã
hội, khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant", nghĩa là sự phàn nàn, phản
ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình
[33, tr. 205].
Theo sách “3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông”: “khiếu nại là việc yêu
Theo quy định tại Điều 2, Khoản 1 của Luật khiếu nại năm
2011:“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho
rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích
hợp pháp của mình”. Định nghĩa này cho rằng Khiếu nại chỉ có thể nhắm đối
các chủ thể ra quyết định là người , cơ quan thuộc Nhà nước. Tuy nhiên trên
thực tế, bất cứ cá nhân tổ chức nào có quyền lực tác động đến các quyền lợi
của chủ thể khác đều có thể nhận được sự phản hồi thông qua hình thức
khiếu nại. Do đó về mặt khoa học pháp lý, việc gói gọn nghĩa của thuật ngữ
16
Khiếu nại như định nghĩa này là không thực sự xác đáng. Nên đặt lại thành
thuật ngữ “Khiếu nại hành chính” sẽ hợp lý hơn.
- Thuật ngữ “Khiếu nại về đất đai”
Trong giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà
xuất bản Công an nhân dân năm 2009, ThS Nguyễn Thị Dung đã kế thừa hai
cách hiểu của nhóm Nguyễn Như Ý và Nguyễn Ngọc Điệp, cùng với định
nghĩa về Khiếu nại trong Luật Khiếu nại,tố cáo năm 1998 để cho ra khái niệm
về “Khiếu nại về đất đai” như sau : “Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan,
tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các
quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có
căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của mình”. Định nghĩa này về cơ bản là chấp nhận được, tuy nhiên
vẫn chưa đi đúng tinh thần của thuật ngữ Khiếu nại.Bản chất của việc khiếu
nại là đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại các quyết định không hợp
trái pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của
công dân nói chung, kể cả không gây thiệt hại trực tiếp cho công dân thực
hiện việc tố cáo.” . Theo học viên, định nghĩa này cũng sát với định nghĩa về
“Tố cáo” trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998.Tương tư với cách hiểu trên,
các nhà làm luật đã định nghĩa Tố cáo theo quy định tại Điều 2, khoản 1 Luật
Tố cáo năm 2011 như sau : “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này
quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi
phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức.” Như vậy, cách hiểu như này về cơ bản sẽ dễ cho các
chủ thể thực hiện quyền tố cáo của mình, tuy nhiên về mặt học thuật thì hơi
“thừa chữ”.Nên chăng bỏ đi cụm từ “theo thủ tục do Luật này quy định” và
lập ra một điều khoản khác thì sẽ đảm bảo về nghĩa Tiếng Việt của từ “Tố
18
cáo”.Học viên có ý kiến như vậy bởi lẽ“Tố cáo” là hiện tượng có tuần suất
rất thường ngày và đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, không phụ thuộc vào sự
tồn tại củacác thủ tục trong Luật nên việc định nghĩa Tố cáo không nhất thiết
phải cho thêm cụm từ như vậy.
Mặt khác, về bản chất củaTố cáo là việc các chủ thể báo cho cơ quan
chức năng biết về một hành vi có thể gây thiệt hại tới các quyền lợi hợp pháp của
mình và các chủ thể khác. Do đó, tố cáo có thể góp phần ngăn chặn các hậu quả
có thể xảy ra, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Phạm vi của tố cáo
nên được khuyến khích và mở rộng, bởi việc đưa các hành vi xấu ra trước pháp
luật trước tiên sẽ giúp các chủ thể bị xâm hại quyền lợi lấy lại được những gì
mình đã bị mất, đồng thời trừng trị những chủ thể gây ra những hậu quả đó, là
nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp và công bằng.