BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN KIM CÚC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010-2014 LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số
liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ luận văn nào khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi
thực hiện tốt luận văn này.
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Cúc Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
Lời cảm ơn ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Danh mục các chữ viết tắt x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo về đất đai 4
1.1.1. Khái quát về khiếu nại, tố cáo về đất đai 4
1.1.2. Một số khái niệm trong quản lý đất đai liên quan đến vấn đề nghiên
cứu 7
1.1.3. Nội dung khiếu nại, tố cáo về đất đai 9
1.1.4. Một số vấn đề chủ yếu phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai trong
thời gian qua 9
1.2. Kinh nghiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số nước trên thế giới 14
1.2.1. Kinh nghiệm về mô hình giải quyết 14
1.2.2. Kinh nghiệm về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại
Nhật Bản 21
1.2.3. Kinh nghiệm về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại
Trung Quốc 22
1.3. Cơ sở thực tiễn và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt
Nam và tỉnh Quảng Ninh 23
1.3.1. Cơ sở thực tiễn và tính pháp lý về giải quyết khiếu, tố cáo về đất đai
ở Việt Nam 23
1.3.2. Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 29
1.3.3. Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
3.3. Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 69
3.3.1. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 69
3.3.2. Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 73
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất
đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 75
3.4.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai và giải quyết KNTC 75
3.4.2. Nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện 77
3.4.3. Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ 78
3.4.4. Đầu tư kinh phí cho giải quyết KNTC và đầu tư khoa học công
nghệ trong giải quyết KNTC 79
3.4.5. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 79
3.4.6. Một số giải pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Năm
2010-2014) 32
1.2 Tổng hợp công tác giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Quảng
3.10 Tổng hợp nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa
bàn thành phố Hạ Long 68
3.11 Tổng hợp việc khiếu nại, tố cáo và tình hình gửi đơn đến cấp có thẩm
quyền giải quyết của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
3.12 Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai cho hộ gia
đình, cá nhân trên địa bàn thành phố 72
3.13 Tổng hợp ý kiến của hộ gia đình, cá nhân có đơn KN, TC về đất đai
đối với kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền 73
3.14 Tổng hợp giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang3.1 Bản đồ hành chính thành phố Hạ Long 38
3.2 Nguồn thu tiền sử dụng đất 52
3.3 Phòng làm việc của Ban tiếp dân thành phố Hạ Long 60
GCN
: Giấy chứng nhận
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
HCNN Hành chính Nhà nước
HVHC
: Hành vi hành chính
KN
: Khiếu nại
QĐHC
: Quyết định hành chính
QSDĐ
: Quyền sử dụng đất
QPPL
: Quy phạm pháp luật
QLĐĐ
: Quản lý đất đai
TC
: Tố cáo
TĐC Tái định cư
UBND
: Uỷ ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
tổng hợp nhiều yếu tố (sự hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật; nâng cao
chất lượng bộ máy cơ quan hành chính Nhà nước về đất đai, cơ quan Thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm tốt công tác tiếp công dân, tổ chức tuyên truyền,
phổ biến giáo dục về đất đai cho người dân ).
Thành phố Hạ Long là trung tâm văn hóa, kinh tế chính trị của tỉnh Quảng
Ninh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, với diện tích đất tự nhiên 271,95 km² và là
thành phố du lịch có tỷ lệ phát triển dân số nhanh nhất là tỷ lệ tăng dân số cơ học.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai thành phố Hạ Long từ năm 2010
đến nay đã đạt được những kết quả nhất định, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn
chế và bất cập trong công tác này như: hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn
thiện, thiếu sự thống nhất gây khó khăn trong thực hiện; lực lượng cán bộ giải
quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai còn thiếu, còn yếu về chuyên môn, vẫn xảy ra
tình trạng khiếu nại, tố cáo về đất đai kéo dài do chưa được giải quyết thấu tình,
đạt lý
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn nêu trên, được sự nhất trí
của Khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và sự hướng
dẫn của PGS.TS Hồ Thị Lam Trà, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2014” để xây dựng Luận văn thạc sỹ
nông nghiệp chuyên ngành Quản lý đất đai.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
- Phân tích, đánh giá được thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ ngày 01/01/2010 đến
31/12/2014 nhằm chỉ ra những mặt làm được, những mặt chưa làm được, tìm ra
nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn
phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên chính phủ và
Chủ tịch Hồ Chí Minh… Như vậy, khiếu nại trong Sắc lệnh số 64/SL là khiếu nại
của nhân dân với chính quyền khi có căn cứ cho rằng cán bộ, nhân viên nhà nước
đang làm việc trong bộ máy chính quyền có những hành vi vi phạm pháp luật hoặc
vi phạm quyền lợi của mình. Quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của
nhân dân tránh những việc làm sai trái của cán bộ hoặc cơ quan nhà nước, điều này
phản ánh bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông
Nam Á. (Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ tư pháp, 2012b)
- Giải quyết khiếu nại: là việc cơ quan Nhà nước thụ lý, xác minh, kết luận
và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.
(Quốc hội, 2011a)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
- Tố cáo: là việc công dân theo thủ tục của pháp luật quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. (Quốc hội, 2011b)
Tố cáo xuất hiện khi xã hội có phân chia giai cấp và đặc biệt được thừa
nhận khi Nhà nước ra đời. Trong mỗi thời đại, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau,
khi có hành vi xâm phạm lợi ích của tập thể, của cá nhân thì mọi người đều có
quyền đưa vụ việc đó đến cơ quan đại diện cho giai cấp thống trị để yêu cầu giải
quyết. Khi Nhà nước ra đời, Nhà nước thừa nhận tố cáo là quyền của công dân,
quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật. (Vụ Phổ biến, giáo dục
pháp luật – Bộ tư pháp, 2012a)
- Giải quyết tố cáo: là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận,
xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố
cáo. (Quốc hội, 2011b)
- Khiếu nại, khiếu kiện về đất đai: Người sử dụng đất, người có quyền lợi
nhiều đơn (điều này hết sức dễ dàng với sự trợ giúp của các công cụ tin học), gửi
đến rất nhiều cơ quan khác nhau của đảng và nhà nước, thậm chí gửi đến nhà
riêng của các cán bộ lãnh đạo của địa phương và trung ương. Việc chuyển đơn
gây ra sự lãng phí và không cần thiết. Với tố cáo thì khác, người dân vì lợi ích
của nhà nước và xã hội mà phát hiện, thông báo với cơ quan nhà nước. Họ không
thể biết được hành vi vi phạm đến mức độ hành chính hay hình sự, thuộc thẩm
quyền của cơ quan quản lý hay cơ quan tố tụng, thậm chí của cơ quan nhà nước
hay tổ chức đảng, nên khi nhận được dù không thuộc thẩm quyền của mình thì
cũng phải có trách nhiệm xử lý thông tin đó bằng cách chuyển đến cơ quan có
thẩm quyền giải quyết và nếu thấy cần thiết thì phải thông báo ngay cho cơ quan
chức năng để ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm tránh thiệt hại có thể xảy ra.
- Giải quyết khiếu nại phải có quyết định giải quyết trong khi tố cáo chỉ
quy định vấn đề xử lý tố cáo: Quyết định giải quyết khiếu nại phải gửi cho người
khiếu nại trong khi kết quả xử lý tố cáo được gửi cho người tố cáo chỉ khi họ có
yêu cầu.
- Khiếu nại có thời hiệu trong khi tố cáo không có thời hiệu: Khiếu nại là
phản đối một quyết định hay hành vi đụng chạm đến lợi ích của mình nên trong
tuyệt đại đa số các trường hợp người khiếu nại được nhận quyết định hoặc biết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
được hành vi đó. Pháp luật định ra một thời gian nhất định để họ suy nghĩ về căn
cứ và quyết định có nên phản đối quyết định, hành vi đó hay không. Thời hiệu
khiếu nại là 90 ngày. Trong khi đó hành vi bị tố cáo không liên quan trực tiếp
đến người tố cáo, thậm chí có những trường hợp họ chỉ biết hành vi đó một cách
vô tình rồi thông báo với cơ quan nhà nước để xử lý. Vì thế không đặt vấn đề
thời hiệu đối với tố cáo. Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là mọi tố cáo nhận
được đều buộc phải giải quyết mà căn cứ vào trường hợp cụ thể các cơ quan cơ
trách nhiệm sẽ quyết định việc này, điều đó phụ thuộc vào khả năng giải quyết vụ
việc. Cơ quan nhà nước có thể không thụ lý trong những trường hợp quy định tại
tổ chức liên chính phủ; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của
pháp luật về quốc tịch; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy
định của pháp luật về đầu tư. (Quốc hội, 2013b)
- Thửa đất: là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên
thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ. (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước giao quyền sử dụng đất (Nhà nước giao đất): là việc Nhà nước
ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng đất. (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (Nhà nước cho thuê đất): là việc
Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng
đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất: là việc Nhà nước trao quyền sử
dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất
xác định. (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng
đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. (Quốc hội, 2013b)
- Bồi thường về đất: là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. (Quốc hội, 2013b)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất: là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền
- Có sự biến động lớn về chủ sử dụng đất:
Nhu cầu của người dân ngày càng cao và giá trị từ đất đem lại ngày càng
tăng lên, cùng với những chính sách đất đai của từng thời kỳ có nhiều thay đổi đã
dẫn đến những biến động lớn về chủ sử dụng đất. Trải qua quá trình sử dụng đất
nhiều thửa đất có nhiều chủ sử dụng đất khác nhau, mặt khác các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền không quản lý việc sử dụng đất một cách chặt chẽ đã phát
sinh tình trạng khiếu nại, tố cáo về đất đai.
- Sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai:
Hệ thống pháp luật đất đai trong thời gian dài đã không giải quyết được
một số quan hệ về đất đai, dẫn tới tồn đọng số vụ việc cần giải quyết và gây ra
tình trạng những vấn đề giống nhau nhưng lại vận dụng chính sách đất đai khác
nhau giữa các địa phương khi giải quyết.
Từ chỗ pháp luật công nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai chuyển sang
quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đến sau này quy định cho người sử dụng
đất có đầy đủ các quyền, do vậy việc nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật của
cán bộ và người dân hạn chế, việc hiểu các quy định pháp luật cũng không đầy
đủ và quan niệm về chế độ sở hữu tư nhân về đất đai trong nhân dân vẫn còn tồn
tại. Việc ban hành văn bản pháp luật về đất đai theo từng giai đoạn lịch sử, phát
triển của đất nước nên thiếu đồng bộ và còn chồng chéo, thiếu công bằng, người
hưởng chính sách sau được lợi hơn người hưởng chính sách trước (có một số
trường hợp những người chây ỳ, không chấp hành pháp luật được lợi hơn người
chấp hành nghiêm pháp luật), từ đó dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Hệ thống pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai thiếu
tính đồng bộ. Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai có các quy định không thống
nhất trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Cho đến nay, vẫn chưa có
hướng dẫn cụ thể về mối quan hệ trong giải quyết khiếu nại, tranh chấp giữa cơ quan
hành chính và toà án nhân dân, giữa Bộ quản lý chuyên ngành và Thanh tra Chính
phủ. Thẩm quyền giải quyết giữa cơ quan hành chính và cơ quan toà án chưa cụ thể,
rõ ràng nên nhiều trường hợp người dân phải đi lại nhiều lần giữa Toà án nhân dân
và Ủy ban nhân dân nhưng vẫn không được tiếp nhận để giải quyết.
thực hiện dự án có liên quan đến nhiều tỉnh hoặc việc cho người có nhu cầu sử
dụng đất phát triển các dự án tự thoả thuận bồi thường với người dân đang sử
dụng đất, người được giao đất muốn giải phóng mặt bằng nhanh đã chấp nhận giá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
bồi thường cao hơn quy định của Nhà nước làm cho mức đền bù chênh lệch trên
cùng một khu vực, từ đó phát sinh khiếu nại.
Việc thu hồi đất để phục vụ quy hoạch phát triển đô thị và các khu công
nghiệp chưa tính toán đồng bộ, toàn diện, người dân bị thu hồi bồi thường giá trị
thấp, việc chuyển đổi nghề nghiệp là rất khó khăn do trình độ hạn chế dẫn đến
thất nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn phát sinh ra khiếu nại, tố cáo.
Nguyên nhân sâu xa của những biểu hiện nêu trên là chưa quán triệt và chấp
hành nghiêm chỉnh quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai.
- Công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai còn hạn chế:
Việc áp dụng pháp luật về đất đai của một số cấp cơ sở còn nhiều bất cập,
nhất là trong việc thu hồi đất, nhiều cấp cơ sở vẫn chưa nắm chắc những quy định
mới của pháp luật về đất đai nên vẫn áp dụng những quy định cũ đã bị huỷ bỏ hoặc
thay thế, nhiều trường hợp áp dụng trái với quy định. Những bất cập này đã tạo nên
những vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất cập, hồ sơ địa chính chưa đảm
bảo, không đủ cơ sở cho việc quản lý đất đai. Công tác quy hoạch sử dụng đất
chậm, việc chỉnh lý biến động đất đai không được theo dõi, cập nhật thường
xuyên dẫn đến việc tham mưu không đầy đủ, thiếu chính xác trong việc quy
hoạch, thu hồi đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Qua từng giai đoạn, nhiều địa phương cấp xã chưa có quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết, dẫn tới việc tuỳ tiện trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
chuyển mục đích sử dụng đất.
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, chưa cơ bản
hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tất cả các loại
khiếu nại, tố cáo chậm chạp, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp.
Trong quá trình giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai nhiều
nơi chưa nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, nên có những trường hợp áp
dụng chưa phù hợp. Nhiều vụ việc tồn đọng mà nếu giải quyết thì sẽ kéo theo
nhiều trường hợp tương tự khác cũng phải giải quyết, nhưng không giải quyết thì
người khiếu nại không chấp nhận. Nhiều trường hợp đã giải quyết theo đúng quy
định của pháp luật nhưng người dân vẫn tiếp tục có ý kiến.
Việc phân công thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh
trong việc giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai chưa thống nhất, có vụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
việc giao cho Thanh tra tỉnh chủ trì, có vụ việc giao cho Sở Tài nguyên và Môi
trường chủ trì; ở cấp huyện giao cho Thanh tra huyện hoặc giao cho Phòng Tài
nguyên và Môi trường, thậm chí có nơi vừa giao cho Thanh tra vừa giao cho cơ
quan Tài nguyên và Môi trường. Tình trạng này đã gây khó khăn lúng túng trong
việc xác định thẩm quyền tham mưu giải quyết.
Việc phối hợp giải quyết khiếu nại về đất đai giữa các cơ quan có thẩm
quyền chưa được chặt chẽ và thống nhất, vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm,
có nhiều vụ việc ý kiến khác nhau. Trước những vấn đề phức tạp đã không
nghiên cứu kỹ chính sách, pháp luật và vận dụng cụ thể vào tình hình thực tế để
giải quyết.
- Một số vấn đề khác:
Do sự thiếu gương mẫu, sa sút về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán
bộ, công chức dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai không
đúng đắn, không chính xác, trái với quy định của pháp luật.
Do sự thiếu hiểu biết và thiếu ý thức chấp hành pháp luật, một bộ phận
người dân chưa nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật nên khiếu nại, tố
cáo gay gắt đối với những trường hợp đã được giải quyết đúng pháp luật. Một số
trường hợp lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để kéo dài thời gian, không chấp hành