Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện đa khoa quốc tế vimec, hà nội - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Xã hội ngày một phát triển nên chất lượng cuộc sống của con người
cũng ngày được nâng cao. Chính vì vậy mà nhu cầu về chăm sóc sức
khỏe ngày càng trở lên thiết yếu và được quan tâm đúng mức hơn. Thực
tế tại nước ta cho thấy, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của con người
đang ngày một tăng cao khiến các bệnh viện lớn tuyến trung ương đều
luôn trong tình trạng quá tải mà vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu
KCB của người dân. Nhu cầu của người dân về số lượng và chất lượng
thì ngày một tăng cao, trong khi số lượng đội ngũ y bác sĩ và thiết bị y tế
thì hạn chế khiến chất lượng KCB của các bệnh viện công còn nhiều
hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính giúp cho sự
ra đời ngày càng nhiều các bệnh viện tư, được đầu tư hơn về trang thiết
bị máy móc hiện đại và nghiệp vụ phục vụ nhằm đáp ứng được tốt hơn
nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Mặc dù nhu cầu KCB là rất lớn nhưng các bệnh viện tư nhân hay
bệnh viện quốc tế vẫn không thoát khỏi được quy luật cạnh tranh của thị
trường. Nỗi lo về sự cạnh tranh với các bệnh viện công giá rẻ hay các
bệnh viện tư tương tự buộc bệnh viện Vinmec phải tạo ra được sự khác
biệt của mình so với các đối thủ cạnh tranh. Muốn làm được điều đó thì
việc nâng cao NLCT trong có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một
bệnh viện.Qua đó, nhờ các biện pháp nâng cao NLCT trong KCB giúp
Vinmec cạnh tranh tốt với những bệnh viện khác.
Thực tế cũng cho thấy, số lượng bệnh nhân tới tham khám tại bệnh
viện còn nhiều hạn chế. Một phần cũng bởi cạnh tranh khá mạnh mẽ của
1


các đối thủ trực tiếp với Bv ĐKQT Vinmec như BV Việt - Pháp, BV
Thu Cúc, BV Hồng Ngọc... Nhưng còn do cả NLCT của VINMEC cũng
chưa được tốt khiến sức hấp dẫn và khả năng khuyến khích KCB của

2016 .
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến việc nâng cao NLCTcủa BVĐKQT Vinmec.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài, luận văn kết hợp sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương
pháp luận rất quan trọng cho phân tích và luận giải bản chất và quá trình
vận động và phát triển của các hiện tượng, sự vật được sử dụng làm
phương pháp luận chung
- Phương nghiên cứu khoa học cụ thể như:


Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, quy nạp, phân tích, hệ
thống,...: thu thập thông tin, dữ liệu lưu trữ về thực trạng cung ứng dịch
vụ KCB tại Bv ĐKQT Vinmec rồi phân tích các dữ liệu bằng cách so
sánh kết quả hoạt động kinh doanh của bệnh viện. Từ đó thấy được
những lợi thế so sánh về cung ứng dịch vụ cũng như năng lực cung ứng
dịch vụ KCB tại Vinmec. Qua đó đánh giá thành công, hạn chế về
NLCT và nguyên nhân. Đồng thời đề xuất các giải pháp và kiến nghị cơ
bản nhằm hoàn thiện việc nâng cao NLCT trong cung ứng dịch vụ KCB
của BVĐKQT Vinmec.
3




Phương pháp khảo sát, điều tra: Nhằm bổ sung thông tin, dữ liệu, phục
vụ nghiên cứu đề tài: thông tin tình hình cung ứng dịch vụ KCB của một
số bệnh viện lớn, lợi thế của Vinmec, các yếu tố và các nguồn lực cho

NLCT trong cung ứng dịch vụ KCB của BVĐKQT Vinmec.

5


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG
DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH VIỆN
1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và NLCT của sản phẩm –
1.1.1.

dịch vụ
Khái niệm về cạnh tranh và NLCT
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp, và là
một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hóa. Có một số định nghĩa
về cạnh tranh như sau:
Theo Mác thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa cá
nhân, tập thể có chức năng như nhau để giành phần hơn, phần thắng
về mình”.
Theo Wikipedia thì: " Cạnh tranh (kinh tế) là sự ganh đua giữa
các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu
dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế
tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay
các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất
cho mình."
Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự



cũng có thể là cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; hay cạnh tranh
thông qua hình thức tiện ích trong thanh toán ...
1.1.1.2. Khái niệm về NLCT
Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng
khái niệm NLCT. NLCT được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như
NLCT quốc gia, NLCT doanh nghiệp, NLCT của sản phẩm và dịch
vụ.
NLCT được hiểu là vị thế của doanh nghiệp trên thị trường cho nhằm
mục tiêu vượt qua đối thủ cạnh tranh để thu hút KH về phía mình.
NLCT là một yếu tố quan trọng để đánh giá sức mạnh cạnh tranh của
mỗi doanh nghiệp bởi đó là yếu tổ tổng hợp của các lợi thế doanh
nghiệp có được từ môi trường kinh doanh hay chính từ bản thân nội
lực doanh nghiệp.
Như vậy, NLCT của doanh nghiệp trước hết được tạo ra từ chính nội
bộ hay thực lực của doanh nghiệp. Đó là các yếu tố nội hàm của mỗi
doanh nghiệp, không chỉ tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tổ chức
quản trị doanh nghiệp, tài chính, nhân lực,... một cách riêng biệt mà
cần đánh giá để so sánh với các đối thủ cùng hoạt động trên cùng một
lĩnh vực, trong cùng một thị trường. Trên cơ sở đó, muốn tạo nên
NLCT đòi hỏi doanh nghiệp cần tạo được lợi thế so sánh với đối thủ
của mình. Nhờ vậy, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn những đòi
hỏi của KH cũng như lôi kéo được KH từ đối thủ cạnh tranh.
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại thì: “Sức cạnh
tranh là năng lực của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia
8


không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”

đầu tư nghiên cứu công nghệ và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất
và quan hệ với bạn hàng ...
- Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường
kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá, chi ngân sách
cho hoạt động nghiên cứu triển khai, hệ thống luật pháp điều chỉnh
quan hệ giữa các bên tham gia thị trường...
- Nhóm yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một
phần như: nguyên liệu đầu vào sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng,
môi trường quốc tế.
- Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như:
môi trường tự nhiên, quy luật kinh tế ...
c. NLCT doanh nghiệp
NLCT của ngành hay doanh nghiệp lại được thể hiện thông qua
NLCT của sản phẩm, dịch vụ của nó. Đây cũng là cái thể hiện rõ nhất
NLCT của các chủ thể nói chung.
Doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc và thị trường ngày càng
được mở rộng thì cần có tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên
thị trường.
NLCT của sản phẩm có thể được đánh giá thông qua các tiêu chí
như: giá sản phẩm, sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu
dáng sản phẩm, thương hiệu… so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một
phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm. Những yếu tố đó tạo ra
10


lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tức là tạo cho doanh nghiệp đó có
khả năng triển khai các hoạt động với hiệu quả cũng như hiệu suất cao
hơn những đối thủ cạnh tranh, và tạo ra giá trị cho KH dựa trên sự
khác biệt của các yếu tố như chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai.
d. NLCT của sản phẩm/ dịch vụ

thụ
phẩm
Do đó, doanh thu được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời
kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh
doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu. Nhưng để đánh
giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay
không chúng ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh
thu đó. Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua
các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí
thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, Doanh
nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi
phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư
mua sắm trang thiết bị, mở rộng thị trường ….
1.1.2.2 Thị phần
Để đánh giá NLCT của doanh nghiệp, người ta còn dựa trên tiêu chí
thị phần. Thị phần được định nghĩa là phần thị trường mà doanh
nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Công thức xác
định như sau:
Doanh thu của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp = ---------------------------------------Tổng doanh thu toàn ngành
Ý nghĩa của chỉ tiêu này cho biết: Chỉ tiêu này càng lớn nói lên
sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng. Thông qua sự
biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ hoạt động của
12


doanh nghiệp có hiệu quả hay không, bởi nếu doanh nghiệp có một
mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho
doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường. Doanh nghiệp có một

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế =

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần

trên doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho thấy trong 100 đồng doanh thu thuần thì DN sẽ
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ tiêu này thấp tức
là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng
tỏ sức cạnh tranh của DN thấp, hiệu quả kinh doanh của DN chưa cao
và đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường cuả DN. Do đó
DN không ngừng phải mở rộng thị trường để nâng cao khả năng cạnh
tranh nhằm mục đích nâng cao được lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này cao
tức là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu, hoạt
động kinh doanh của DN được đánh giá là có hiệu quả. Điều này
chứng tỏ khả năng cạnh tranh của DN là tốt, DN cần phát huy lợi thế
của mình một cách tối đa và không ngừng đề phòng các đối thủ cạnh
tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của DN bất cứ lúc nào do sức
hút lợi nhuận cao.
1.1.2.4Sự trung thành của khách hàng
Ngoài ra, khả năng cạnh tranh của DN còn được biểu hiện qua
chỉ tiêu định tính chính là sự trung thành của khách hàng. Điều này
được thể hiện thông qua sự gắn bó lâu dài và mật thiết của khách hàng
đối với một loại sản phẩm, dịch vụ của một công ty nào đó. Nó được
14


thể hiện bằng hoạt động lặp lại việc mua hoặc giới thiệu cho khách
hàng
Sự

chính sách, chiến lược kinh doanh cũng sẽ thay đổi để hạn chế sự suy
giảm của lợi nhuận. Có thể nói, thể chế kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính
sách tài chính, tiền tệ…ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh
15


cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, như tác động các yếu
tố đầu vào (lãi suất huy động vốn cũng như lãi suất cho vay), thu hẹp
hay mở rộng mức độ cạnh tranh….
b. Nhân tố chính trị và pháp luật.
Ngoài ra, các yếu tố chính trị và pháp luật. Cụ thể: yếu tố chính trị
gồm: các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu hướng chính
trị...các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của
doanh nghiệp. Không những thế, hiện nay, các doanh nghiệp chịu chi
phối và ảnh hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, luật
dân sự, luật xây dựng, luật đất đai, luật cạnh tranh…Sự ổn định về
chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn tạo sự ảnh
hưởng tới công tác kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa chính trị và
kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện
trong các quan hệ quốc tế.Để đưa ra được những quyết định hợp lí
trong quản trị doanh nghiệp, cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi
của môi trường trong từng giai đoạn phát triển.
c. Nhân tố xã hội
Môi trường xã hội cũng ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp. Một số yếu tố chính tác động của môi trường văn
hóa đó là: thói quen tiêu dùng, cơ cấu tuổi của tầng lớp dân cư, trình
độ học vấn, phân bổ dân cư,…gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu
tiêu dùng sản phẩm, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Do đó, khi nghiên cứu năng



nhỏ của đối thủ cạnh tranh trong chiến lược phát triển của họ đều ảnh
hưởng rất lớn tới sự phất triển của bản thân doanh nghiệp. Theo mô
hình nghiên cứu năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter thì các
doanh nghiệp luôn luôn chịu áp lực từ môi trường ngành bao gồm:
cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại trong ngành, cạnh tranh từ các đối
thủ cạnh tranh tiềm ẩn, cạnh tranh từ các sản phẩm có khả năng thay
thế, cạnh tranh từ khách hàng và cạnh tranh từ từ phía nhà cung cấp.
Nội dung cụ thể như sau:
*Cạnh tranh từ đối thủ hiện tại trong ngành:
Đối thủ hiện tại của doanh nghiệp chính là các doanh nghiệp cùng sản
xuất một loại sản phẩm trên thị trường. Do đó, mỗi quyết định hành
động của đối thủ đều có những tác động nhất định đến hoạt động và
kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp luôn
phải dự đoán hành động của đối thủ để chủ động có những chiến lược
đối phó nhằm củng cố và nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
Mức độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong ngành bao gồm số
lượng các đối thủ cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, giá thành của đối
thủ cạnh tranh, đánh giá được khả năng của đối thủ cạnh tranh và
những khó khăn có thể gặp phải để vượt qua được đối thủ cạnh tranh.
*Cạnh tranh từ việc ra đời các đối thủ cạnh tranh tiềm năng
Thực tế cho thấy: Đối thủ cạnh tranh tiềm năng là những đối thủ cạnh
tranh chưa xuất hiện trên thị trường nhưng lại có khả năng cạnh tranh
trong tương lai. Số lượng các đối thủ này nhiều hay ít tùy thuộc vào
mức độ thuận lợi hay khó khăn khi gia nhập một ngành kinh doanh
nhất định. Nếu có các rào cản hay có sự trả đũa quyết liệt của các đối
18



mãn những nhu cầu tương tự của khách hàng. Khả năng của sản phẩm
thay thế có nguy cơ làm hạn chế khả năng đặt giá cao và do đó có thể
hạn chế khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Sản phẩm thay thế là
những sản phẩm có chức năng gần giống chức năng các sản phẩm mà
doanh nghiệp đang cung cấp.Sản phẩm thay thế có tác động đến vòng
đời sản phẩm đồng thời có ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp.Mối đe dọa từ sản phẩm thay thế được đánh giá từ sự đa dạng
của sản phẩm thay thế và mức độ đáp ứng các nhu cầu của khách
hàng.
1.2NLCT trong cung ứng dịch vụ KCB tại Bệnh viện
1.2.1Giới thiệu dịch vụ KCB của bệnh viện
1.2.1.1Dịch vụ KCB của bệnh viện
Hiện nay, dịch vụ là một trong ba ngành trụ cột của nền kinh tế Viêt
Nam, bao gồm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Do đó, để hiểu
về dịch vụ, cần quan tâm đến khái niệm của loại ngành này. Có một số
khái niệm về dịch vụ, cụ thể như sau:
Theo cách hiểu phổ biến thì “Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm
của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc
với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền
sở hữu”.
Theo Kotler & Armtrong, dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà
doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố
và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
20


Theo ISO 8402 thì “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp
xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của
người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Bên cạnh đó, theo Luật khám chữa bệnh, khái niệm việc khám chữa

1.2.2.1. Khái niệm về cạnh tranh và nâng cao NLCT trong cung ứng
dịch vụ KCB
Cạnh tranh trong dịch vụ KCB của các bệnh viện chính là việc các
bệnh viện cố gắng nhằm dành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong
việc tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm bệnh nhân cho bệnh viện.
Như vậy, nâng cao NLCT trong dịch vụ khám chữa bệnh được hiểu là
việc tìm cách nâng cao vị thế của bệnh viện nhằm mục đích vượt qua
đối thủ cạnh tranh trong việc chăm sóc bệnh nhân đến với bệnh viện
mình.
1.2.2.2. Đặc điểm về cạnh tranh và nâng cao NLCT trong cung ứng
dịch vụ KCB
Cạnh tranh trong việc cung ứng dịch vụ KCB hiện nay cũng rất đa
dạng. Đặc điểm về cạnh tranh và nâng cao NLCT được cụ thể như sau:
Thứ nhất, cạnh tranh trong việc dành được những điều kiện thuận lợi
hơn như gần nơi động dân cư, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật
phát triển…nhằm tăng được số lượng khách hàng đến với bệnh viện.
Thứ hai, cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế
trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, khám
chữa được nhiều bệnh nhân hơn nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.
22


1.2.3. Các tiêu chí đánh giá NLCT dịch vụ KCB
1.2.3.1. Doanh Thu
Hiện nay, tổng doanh thu của bệnh viện được tính bằng tổng các
doanh thu KCB ngoại trú, doanh thu lưu viện, doanh thu từ các dịch
vụ khác. Nội dung cách tính doanh thu trong dịch vụ khám chữa bệnh
của bệnh viện như sau:
Doanh thu đối với việc khám chữa bệnh được tính bằng công thức:
Doanh

thuộc về đối thủ.
Do đó, để dành thị phần trước đối thủ, bệnh viện thường phải có
chính sách giá phù hợp thông qua mức giá cần thiết, nhất là khi bắt
đầu thâm nhập thị trường mới. Như vậy thị phần dịch vụ KCB là
thước đo cho thấy được một sản phẩm có sức cạnh tranh như thế nào
trên thị trường. Thị phần càng lớn thì dịch vụ KCB càng có sức cạnh
tranh và ngược lại.
1.2.3.3. Lợi nhuận
Nếu như doanh thu có ba loại thì chi phí trong dịch vụ KCB
cũng vậy, tuy nhiên, ngoài những chi phí trên, bệnh viện còn có chi
phí như tiền lương, thưởng cho các cán bộ nhân viên tại cơ quan.
Do đó, lợi nhuận của dịch vụ KCB tại bệnh viện được tính bằng
tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí.
1.2.3.1. Sự trung thành của KH
Có thể nói: sự trung thành của KH chính là sự gắn bó lâu dài và mật
thiết của khách hàng đối với một loại sản phẩm, dịch vụ của một bệnh
viện nào đó. Nó được thể hiện bằng hoạt động lặp lại việc sử dụng các
loại dịch vụ của bệnh viện. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ của bệnh
viện nhiều lần, rồi rủ thêm khách ahngf tham gia các dịch vụ KCB của
bệnh viện thì đó chính là sự trung thành của KH đã tăng lên.
Lòng trung thành và sự thỏa mãn có mối quan hệ với nhau. Một khách
hàng trung thành với bệnh viện sẽ thường cảm thấy thỏa mãn khi sử
dụng dịch vụ của bệnh viện ấy. Ngược lại, sự thỏa mãn càng làm cho
24


khách hàng trở nên trung thành với bệnh viện hơn.
Lòng trung thành của KHbền vững, không những ít khi bị thay
đổi mà giá trị của nó còn có thể tăng lên theo thời gian. Do đó, việc
quan tâm đến dịch vụ KCB chính là còn quan lòng trung thành của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status