Điều tra đánh giá sinh trưởng của loài cây bạch đàn Mô trồng theo chương trình dự án Innovgreen tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ MINH ĐẠT

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA LOÀI CÂY
BẠCH ĐÀN MÔ (EUCALYPTUS UROPHYLLA) TRỒNG
THEO CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN INNOVGREEN
TẠI HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ MINH ĐẠT

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG
CỦA LOÀI CÂY BẠCH ĐÀN MÔ
(EUCALYPTUS UROPHYLLA) TRỒNG
THEO CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN INNOVGREEN
TẠI HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN THÁI

Tác giả xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng
quản lý Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành
bản luận văn thạc sĩ Lâm nghiệp.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND huyện Tiên Yên, các xã và
một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong
việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014
Tác giả

Lê Minh Đạt


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề .................................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
4. Ý nghĩa đề tài ............................................................................................. 2
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .................................................. 4
1.1. Khái quát về đối tượng nghiên cứu.......................................................... 4
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.................................................................. 6
1.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới ............................................................ 6
1.2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam ........................................................... 13
1.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu.............................................................. 24
1.3.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu ........................................ 24

1. Kết luận chung ......................................................................................... 51
2. Những tồn tại và kiến nghị ....................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 53


v

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
D1.3
Dg
Dg0
Dt
N
dM
dm
di
G
H
h0
Hg
Hvn
M
n
n’
M
OTC
Rd
rd
St
Si

: Phần trăm số cây tỉa thưa theo cỡ kính i
: Tuổi
: Tỷ lệ phần trăm theo kế hoạch
: Tỷ lệ phần trăm cùng kỳ
: Tính thể tích cây tiêu chuẩn


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Bảng liệt số phân bố N/D ............................................................. 36
Bảng 3.2. Bảng tổng hợp các phương trình tương quan Hvn và D1.3 .............. 39
Bảng 3.3. Bảng tổng hợp các phương trình tương quan Dt và D1.3 ............... 41
Bảng 3.4. Kết quả tính toán các chỉ tiêu cơ bản của lâm phần bạch đàn ....... 43
Bảng 3.5. Kết quả lập phương trình tương quan giữa nhân tố điều tra .......... 45
Bảng 3.6. Kết quả kiểm tra sự tồn tại của các phương trình sản lượng
trong tổng thể ............................................................................. 45
Bảng 3.7. Kết quả chọn phương trình xây dựng mô hình sản lượng ............. 46
Bảng 3.8. Kết quả tính toán các chỉ tiêu điều tra cơ bản ............................... 46
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra tính thích ứng của các mô hình sản lượng.......... 47


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Một số biểu đồ nắn phân bố N/D rừng trồng Bạch đàn tại Tiên
Yên, Quảng Ninh ........................................................................................38
Hình 3.2. Biểu đồ thăm dò mối tương quan giữa chiều cao và đường kính .........40
Hình 3.3. Biểu đồ thăm dò mối tương quan giữa đường kính tán và D1.3...................42


đàn mô đang được phát triển rộng rãi bởi tính ưu việt của nó. Bạch đàn mô


2
đang được nhân giống theo phương pháp vô tính. Các nhà khoa học Việt Nam
đã nhân được nhiều dòng khác nhau bao gồm giống quốc gia và giống tiến bộ
kỹ thuật. Tuy nhiên việc đưa dòng nào vào sản xuất cần được khảo nghiệm
trên từng địa phương hoặc các điều kiện lập địa khác nhau.
Trong những năm gần đây diện tích trồng rừng Bạch đàn ở Tiên Yên,
Quảng Ninh ngày càng được mở rộng nhằm cung cấp nguyên liệu cho các
Nhà máy bột giấy, Công ty chế biến gỗ. Tuy nhiên việc đánh giá khả năng
sinh trưởng làm cơ sở khoa học cho việc xác định biện pháp kỹ thuật tác động
cũng như dự báo sản lượng của rừng là cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Điều tra đánh giá
sinh trưởng của loài cây Bạch đàn mô (Eucalyptus urophylla) trồng theo
chương trình dự án INNOVGREEN tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh”.
Để làm cơ sở lựa chọn giống cho việc trồng rừng nguyên liệu trong những
năm tới.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được sinh trưởng của cây Bạch đàn mô trồng theo chương
trình INNOV GREEN tại Tiên Yên, Quảng Ninh.
- Làm cơ sở đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật cũng như dự báo
sản lượng rừng, phục vụ công tác trồng rừng nguyên liệu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của rừng Bạch đàn theo tuổi tại
Tiên Yên, Quảng Ninh.
- Tìm hiểu được một số biện pháp kỹ thuật canh tác của dự án ảnh hưởng
đến sinh trưởng và tăng trưởng của rừng.
- Đề xuất một số giải pháp áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng
thâm canh hiện nay.

lá. Quả hình chén
Dược liệu: Lá hình mũi dáo hay hình lưỡi liềm, cuống ngắn và hơi vặn,
phiến lá dài và hẹp (ở loài E.exserta) giòn và rộng hơn (ở loài E.camaldulensis),
rộng 1 - 5 cm, dài 8 - 18 cm. Hai mặt lá đều có màu xanh ve ít vàng nhạt, lác
đác có nhiều chấm nhỏ màu vàng. Khi soi lá trước ánh sáng thấy rất nhiều túi
tiết tinh dầu nhỏ li ti. Gân cấp hai tỏa ra từ gân giữa, gặp nhau ở mép lá. Khi vò
lá có mùi thơm mạnh đặc biệt, mùi dịu hơn ở loài E. camaldulensis. Vị thơm
nóng, hơi đắng chát, sau có cảm giác mát và dễ chịu.
- Nguồn gốc, phân bố: Cây bạch đàn không phải là loại cây mọc tự
nhiên trong các lâm phận Việt Nam. Loài này xuất xứ từ nước Úc được dẫn
giống bằng hạt đem về trồng ở đất nước ta vào khoảng thập niên 1950 và
cho thấy một số loài rất thích hợp với thổ nghi và khí hậu của Việt Nam,
nhất là có thể trồng tập trung thành rừng thuần hay trồng phân tán trong đất
thổ cư của nhân dân từ vùng đồng bằng cho đến các vùng bình nguyên và
cao nguyên.
Tiền khởi ở Miền Nam, cây Bạch đàn mới du nhập được gọi là cây
Khuynh điệp vì có lá cong cong hình lưỡi liềm. Sau đó ngành lâm nghiệp chế


5
độ cũ đặt tên là cây Bạc hà vì lá có mùi dầu Bạc hà, nhưng xin đừng nhầm lẫn
với cây rau Bạc hà (Mentha) cùng họ với cây rau Húng.
Sau ngày 30-4-1975, cây Khuynh diệp hay còn gọi là cây Bạc hà được
Bộ lâm nghiệp đặt tên là cây Bạch đàn, có tên khoa học là Eucalyptus spp.
Thuộc họ thực vật Sim (Myrtaceae). Không phải chỉ có một cây Bạch đàn mà
tại tại nước Úc nơi xuất xứ, chi eucalyptus (tức chi Bạch đàn) có ít nhất hơn 70
loài (species) mọc từ các vùng đồng bằng có độ cao ngang mực nước biển cho
đến các vùng bình nguyên cao nguyên, từ các thung lũng đến đèo núi cao.
Ở Việt nam chỉ du nhập khoảng 10 loại bạch đàn như:
+ Bạch đàn đỏ: Eucalyptus camaldulensis thích hợp vùng đồng bằng.

1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, bước sang thế kỷ XIX ứng
dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của các ngành hóa phân tích, hóa thực vật
các nhà khoa học đã vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong chu trình
tuần hoàn vật chất của tự nhiên để áp dụng nghiên cứu sinh khối rừng và bước
đầu đã thu được những thành tựu đáng kể. Riley (1944) [18], Steemann
(1954) [19], Fleming (1957) [16] đã tổng kết quá trình nghiên cứu và phát
triển sinh khối rừng trong các công trình nghiên cứu của mình. Đến năm
1964, Lieth đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất,
đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “International
Biology Program” (1964) và chương trình con người và sinh quyển “Man and
Biosphere” (1971) đã tác động mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối. Những
nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan,
rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh.
Mô hình sinh trưởng từ những biểu đồ đơn giản nhất cho đến những
phần mềm máy tính phức tạp đã và đang là những công cụ quan trọng trong
quản lý rừng (Vanclay, 1998; Pote' and Bartelink, 2002). Sinh khối và hấp thụ


7
các bon có thể được xác định bằng mô hình sinh trưởng. Trên thế giới đã có
rất nhiều mô hình sinh trưởng đã được phát triển và không thể tìm hiểu được
phương pháp cụ thể của mỗi mô hình. Vì vậy cần phải xác định được những
điểm chung để phân loại mô hình (Vanclay, 1998). Rất nhiều tác giả đã cố
gắng để phân loại mô hình theo các nhóm khác nhau với những tiêu chuẩn
khác nhau (Pote' and Bartelink, 2002). Có thể phân loại mô hình thành các
dạng chính sau đây:
1. Mô hình thực nghiệm/thống kê (empirical model) dựa trên những đo
đếm của sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà

1998). Nó còn gọi là mô hình cơ giới (mechanistic model) hay mô hình sinh
lý học (physiological model). Mô hình động thái phức tạp hơn rất nhiều so
với mô hình thực nghiệm nhưng có thể sử dụng để khám phá hệ quả của sự
thay đổi môi trường đến hệ sinh thái, sinh vật (Dixon et al., 1990; Landsberg
and Gower, 1997). Tuy nhiên, mô hình động thái cần một số lượng lớn các
tham số (biến số) đầu vào, nhiều tham số lại không dễ đo, cần thời gian dài để
đo và/hoặc không thể đo được với cá điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật ở các
nước đang phát triển (vd. Mô hình nổi tiếng CENTURY mô phỏng động thái
cácbon trong hệ sinh thái rừng và nông lâm kết hợp cần tới hơn 600 tham số
đầu vào (Ponce-Hernandez, 2004)).
Cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều mô hình động thái hay mô hình
hỗn hợp được xây dựng để mô phỏng quá trình phát triển của hệ sinh thái
rừng như BIOMASS, ProMod, 3 PG, Gen WTO, CO2Fix, CENTURY…
(Landsberg and Gower, 1997; Snowdon et al., 2000; Schelhaas et al., 2001).
Trong trường hợp không đủ số liệu đầu vào thu thập được từ các quá trình tự
nhiên của hệ sinh thái và cây, để sử dụng các mô hình này, người ta phải sử
dụng hàng loạt các giả định (assumptions), chính vì vậy tính chính xác của
mô hình phụ thuộc rất nhiều vào các sự phù hợp của các giả định này đối với
đối tượng nghiên cứu


9
Đánh giá Keo lai tại Sabah một cách tổng hợp, Pinso và Nasi (1991) thấy
cây lai có ưu thế lai và ưu thế lai này có thể chịu sự ảnh hưởng của cả yếu tố
di truyền lẫn điều kiện lập địa. Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự
nhiên đời F1 tốt hơn xuất xứ Sabah của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ
ngoại lai như Oriomo (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queesland,
Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F2 trở đi thì không đồng đều so
với trị số trung bình và còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc dầu một số cây có
khá hơn.

1948, 1956), Chapman và Meyr (1949), Assmann (1954, 1961, 1970).
Giữa thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, nhiều học thuyết về lập địa, về sinh
thái học, những quan điểm mới về cấu trúc ra đời, đã làm sáng tỏ rằng: Sinh
trưởng của cây rừng và lâm phần phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có biện
pháp tác động và môi trường. Mỗi tác giả đều có hướng nghiên cứu và giải quyết
vấn đề khác nhau, song mục đích chung là, tìm hiểu những quy luật sinh trưởng,
quy luật cấu trúc lâm phần, mối liên hệ giữa sinh trưởng và sản lượng để mô
phỏng những quy luật đó bằng các mô hình toán học.
Trên thế giới, cho đến nay số lượng hàm toán học mô tả quá trình sinh trưởng
rất phong phú, dưới đây thống kê một số hàm sinh trưởng đã được sử dụng:
Tác giả

Năm

Dạng hàm

Gompertz

1825

y = m.EXP(-c1.EXP(-b.x)

Verhull

1845

y = m/(1-EXP(-m.b(x-k))

Mitscherlich


1938

y=m.(1-(c2.EXP(c1.x)-c1EXP(-c2.x)/(c2-c1)

Korf

1939

y = m.EXP(-c1.x-c2)

Ve rkbulet

1952

y = m/(1 + EXP(a(x-b)))

Michailov

1953

y = m.EXP(-c1/x)

Drakin

1957

y = m.a(1-EXP(-k.x))


11

Schumacher

1980

y = m.EXP(-b/Ak)

+ Nghiên cứu về cấp đất
Trong lĩnh vực sản lượng rừng, cấp đất được coi là một chỉ tiêu dùng để so
sánh và đánh giá sức sản xuất của các lâm phần. Trên thế giới, trải qua một thời
gian dài hình thành và phát triển, cấp đất được xây dựng theo nhiều quan điểm
khác nhau. Đầu tiên, người ta nghiên cứu tìm những nhân tố có tính chất nguyên
nhân chủ đạo, ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh trưởng của cây rừng như: Khí
hậu, địa hình, đất… Các nhân tố sinh thái luôn luôn tác động và ảnh hưởng tổng
hợp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng, hơn nữa việc tiến hành
nghiên cứu xác định các nhân tố đó hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có quá trình
theo dõi lâu dài và liên tục mà kết quả chưa chắc đã phản ánh quy luật sinh
trưởng và phát triển của rừng. Vì vậy, cho dù có xác định được nhân tố chủ đạo,
thì nhân tố này lại chịu tác động qua lại một cách tổng hợp với các nhân tố khác
mà qua đó tác động đến rừng. Do đó, đi theo hướng nghiên cứu này đã không
đạt kết quả mong muốn. Lại có quan điểm cho rằng, cấp đất là chỉ tiêu biểu thị
cho mức độ tốt xấu của đất, tức là chỉ đơn thuần dựa vào những tính chất lý, hoá
của đất. Cách hiểu này chỉ phù hợp với quan điểm phân chia cấp đất dựa trên
điều kiện lập địa. Nếu hiểu cấp đất theo cách này thì, cấp đất đồng nghĩa với điều
kiện lập địa hoặc độ phì như trong lĩnh vực đất rừng thì lại gặp phải những hạn
chế như đã nêu ở trên.
Tiếp theo, là hướng tìm ra hệ quả của sự tác động tổng hợp của các nhân
tố hoàn cảnh, tức là dùng kết quả để phản ánh nguyên nhân. Cụ thể căn cứ
vào trị số sản lượng và các chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ với sản lượng để phân




13
của cây rừng cũng như lâm phần. Dựa vào hàm sinh trưởng có thể tính trước
được giá trị lớn nhất của đại lượng sinh trưởng ở tuổi cuối cùng và có thể tính
trước được tốc độ sinh trưởng cực đại.
Marschall cũng như nhiều tác giả khác khẳng định rằng quy luật sinh
trưởng chiều cao của mỗi loài cây ở các vùng khác nhau có sự khác biệt rõ
nét. Từ đó ứng với một kiểu sinh trưởng chiều cao, cần xác lập một hệ thống
cấp đất tương ứng. Như vậy, ứng với một hệ thống cấp đất cần thiết phải thiết
lập một phương trình sinh trưởng chung, đại diện cho sinh trưởng chiều cao
bình quân. Từ phương trình này phân thành các đường cong sinh trưởng khác
nhau gọi là đường cong chỉ thị cấp đất. Để xác lập đường cong cấp đất có thể
bằng phương pháp biểu đồ hoặc phương pháp hồi quy. Phương pháp biểu đồ
mặc dù độ chính xác không cao, nhưng đơn giản, nhanh chóng phân chia cấp
đất cho đối tượng nào đó ngoài thực tế. Do vậy, phương pháp này phù hợp
cho công tác điều tra nhanh ngoài thực địa và nó còn được sử dụng để sơ bộ
phân đối tượng nghiên cứu thành các cấp đất khác nhau làm đơn vị tập hợp số
liệu phục vụ cho việc xác lập đường cong cấp đất theo phương pháp hồi quy.
Phương pháp hồi quy có ưu điểm là hoàn toàn khách quan, các đường
cong được xác lập có độ chính xác cao và số liệu không đòi hỏi lớn. Độ chính
xác của phương pháp chủ yếu phụ thuộc vào mức độ phù hợp của mô hình
toán học, cũng như độ chính xác khi ước lượng các tham số của mô hình.
1.2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.3.1. Những nghiên cứu về sinh trưởng
Ở Việt Nam, GS. Vũ Đình Phương (1970, 1972), Nguyễn Ngọc Lung
(1984, 1989) lần đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống các quy luật sinh
trưởng, năng suất, sản lượng rừng cây mọc nhanh, áp dụng cho Thông ba lá
bằng phương pháp mô hình hoá, đã lập các bảng biểu dự đoán sinh trưởng, sản
lượng không phải bằng số mà bằng một chương trình trên máy tính với đầu vào




15
- Tất cả các chỉ tiêu tăng trưởng nói trên được tính toán bằng phương
pháp giải tích từ hàm sinh trưởng, tránh được mọi sai số do phân cấp thời
gian, nắn tròn số lẻ, hoặc các sai số do sử dụng công thức gần đúng.
- Việc biểu thị các chỉ tiêu tăng trưởng và năng suất rừng, thậm chí cả
biểu sản lượng là biểu quan trọng nhất để dự báo năng suất sản lượng cũng ở
dạng mô hình bằng một chương trình phù hợp. Điều đó cho phép thu được
đầy đủ nhất những thông tin mong muốn chi tiết khi biến số thời gian là một
vô cùng bé, do đó đảm bảo tính liên tục của quá trình sinh trưởng.
Theo Armitage và Burley (1980) khi tổng kết các công trình nghiên cứu
Thông ba lá trên thế giới đã thấy các nghiên cứu về tăng trưởng sản lượng
rừng đều chia theo cấp đất, như Wightman (1969) tại Zimbabue; Revila,
Bonita (1976) tại Philippines. Anders (1978) trên cơ sở 102 cây giải tích tại
Đà Lạt, đã lập một biểu đánh giá năng suất bình quân trên ha cho lâm phần
chuẩn phụ thuộc chiều cao bình quân, trong đó quan trọng nhất là lượng gỗ
lớn xuất khẩu được tính toán tại tuổi khai thác chính cho tất cả các điều kiện
lập địa mà không phân chia lại cấp đất, đó là nhược điểm của biểu duy nhất
lập cho Thông ba lá Tây Nguyên. Viên Ngọc Hùng (1985) và Nguyễn Ngọc
Lung (1989) đã tiến hành lập biểu cấp đất cho Thông ba lá ở Tây Nguyên, đây
được xem là cơ sở để xây dựng mô hình sinh trưởng và sản lượng rừng thông.
GS.TS Vũ Tiến Hinh khi lập biểu quá trình sinh trưởng KLT đã lập biểu
cấp đất với chỉ tiêu phân chia cấp đất là chiều cao bình quân của 20% số cây
có đường kính lớn nhất trong lâm phần.[4] Với KLT, tổng tiết diện ngang của
20% số cây có đường kính lớn nhất trong lâm phần chiếm từ 34 đến 35 %
tổng tiết diện ngang lâm phần, như thế, tương ứng với tổng tiết diện ngang
của một cấp kính khi lâm phần được chia thành 3 cấp có tổng tiết diện ngang
bằng nhau. Từ đó, h0 và chiều cao của cây có tiết diện bình quân của cấp kính
thứ 3 (h3) sẽ xấp xỉ nhau. Qua kiểm tra quan hệ giữa h0 với h3 cho thấy hệ số




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status