CHƯƠNG 1- GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn Đề tài
Trong nền kinh tế hiện đại, với sự phát triển của thị trường vốn, các công ty
niêm yết (CTNY) và thông tin tài chính của các CTNY được công khai theo luật
định trên thị trường chứng khoán (TTCK) là không thể thiếu. Trên TTCK, ảnh
hưởng của CTNY không chỉ tác động đơn lẻ tới bản thân công ty mà còn ảnh hưởng
tới các nhà đầu tư trong nền kinh tế quốc dân. Vấn đề bảo vệ cổ đông, các nhà đầu
tư được xét đến trên nhiều bình diện nền kinh tế quốc dân. Với tác động dây
chuyền, sự đổ vỡ của một CTNY có thể sẽ dẫn đến sự thất bại của TTCK và từ đó
ảnh hưởng xấu nền kinh tế. Tại Việt Nam, sự đổ vỡ của “bong bóng” thị trường bất
động sản trong thời gian qua đã ảnh hưởng tới TTCK Việt Nam nói riêng và toàn bộ
nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Trong những năm qua, TTCK Việt Nam đã trở nên quen thuộc với các nhà
đầu tư trong nước vì nó được coi là một trong những phương thức đầu tư hợp lý.
Giá cả chứng khoán tăng cao rồi giảm xuống nhanh chóng trong những năm qua
làm niềm tin của các nhà đầu tư vào giá trị của các công ty giảm nhanh chóng vì giá
trị một loại cổ phiếu giảm sút phản ánh giá trị thực của CTNY tương ứng. Nhà đầu
tư quan tâm đến chất lượng thông tin tài chính, đặc biệt là thông tin kế toán tài
chính (KTTC) được trình bày trong báo cáo tài chính (BCTC) của CTNY vì đây là
nguồn thông tin quan trọng để họ đánh giá tình hình tài chính của công ty để từ đó
đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, những biến động của thông tin
KTTC cũng như sự tăng – giảm giá cổ phiếu của các CTNY như một “phong vũ
biểu” thể hiện rõ nét sự thịnh vượng hay suy thoái của nền kinh tế. Các nhà đầu tư,
chính phủ hay bất kỳ người quan tâm nào khi tiến hành đầu tư vào CTNY đều xem
xét tới những thông tin về chiến lược kinh doanh, về tình hình tài chính của các
công ty đó. Những thông tin KTTC của các CTNY được các công ty kiểm toán, soát
xét và đưa ra ý kiến về sự trung thực, hợp lý. Bên cạnh đó, những thông tin này còn
được các sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và các ủy ban chứng khoán nhà nước
(UBCKNN) kiểm tra, giám sát. Do đó, khi đầu tư vào CTNY những nhà đầu tư cảm
cung cấp, những người chịu trách nhiệm về nghĩa vụ giải trình để đảm bảo minh
bạch, trung thực về những thông tin đó. Cách thức tổ chức KSNB CTNY là một yêu
cầu giúp tăng cường các hoạt động của TTCK trong môi trường kinh doanh đầy
biến động hiện nay, giúp các bên liên quan nhận được thông tin phù hợp và tin cậy
2
dựa trên những BCTC minh bạch. Tổ chức KSNB gắn liền với những yêu cầu trong
quản trị công ty, một yêu cầu thiết yếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam nói
riêng và TTCK quốc tế nói chung.
KSNN về thông tin KTTC là yêu cầu của bất kỳ quốc gia nào. KSNN tạo
hành lang pháp lý, qua những quy định của nhà nước, thiết lập các bộ phận chức
năng với vấn đề kiểm soát và công bố thông tin. Những quy định của nhà nước tạo
dựng sự tin tưởng cho các nhà đầu tư và là những chỉ dẫn tầm vĩ mô cho các doanh
nghiệp.
Như vậy, thực tế đòi hỏi tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các
CTNY trên TTCK thông qua tổ chức KSNB trong các CTNY và kiểm soát từ phía
nhà nước là tất yếu, cần được nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp.
Theo tìm hiểu của Tác giả, các nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập nhiều
về tính minh bạch thông tin tài chính của CTNY trên TTCK, hay mối liên hệ giữa
quản trị công ty với chất lượng thông tin KTTC, hay một khía cạnh tác động của
KSNN tới chất lượng thông tin KTTC. Tuy nhiên những nghiên cứu trên chưa đề
cập đến sự tác động toàn diện của tổ chức kiểm soát tới chất lượng thông tin KTTC.
Do đó, đề tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam” là mang tính cấp thiết. Đây cũng là cơ
sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường
chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các
KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam? Cụ thể:
(1) Chất lượng thông tin KTTC của CTNY được đánh giá như thế nào?
(2) Cách thức tổ chức kiểm soát nào tốt hơn trong quản trị CTNY nhằm tăng
cường chất lượng thông tin KTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam?
(3) Cách thức tổ chức kiểm soát nào của nhà nước nhằm giám sát tốt hơn và tăng
cường hơn chất lượng thông tin KTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của tổ chức kiểm soát (gồm KSNB và KSNN)
đối với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Cụ thể,
Luận án nghiên cứu các nhân tố của KSNB và KSNN có ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, từ đó đưa ra những đề xuất
4
hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm nâng cao chất lượng thông tin KTTC của các
CTNY này.
CTNY trên TTCK gồm CTNY phi tài chính và CTNY tài chính. Các công ty
tài chính (như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, tổ chức tín dụng,..) có cách thức
tổ chức kiểm soát khác với các công ty phi tài chính do hàng hoá và dịch vụ cung
cấp thuộc loại đặc biệt so với các ngành khác. Để đồng nhất nội dung nghiên cứu về
tổ chức KSNB và đảm bảo số lượng CTNY thực hiện khảo sát, Tác giả tập trung
thực hiện thu thập số liệu các CTNY phi tài chính.
Tại Việt Nam, sự hình thành và phát triển của hai SGDCK (SGDCK Thành phố
Hồ Chí Minh - SGDCK TPHCM và SGDCK Hà Nội) tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư, các CTNY trong nước lưu thông vốn. Theo Nghị định 58/2012/NĐCP của Chính phủ ban hành ngày 20/7/2012, điều kiện niêm yết tại SGDCK
TPHCM cao hơn so với SGDCK Hà Nội về vốn, về yêu cầu kết quả kinh doanh.
Mặc dù số lượng CTNY tại SGDCK TPHCM ít hơn nhưng tổng giá trị niêm yết cao
hơn gấp 3 lần so với tổng giá trị niêm yết tại SGDCK Hà Nội (theo số liệu thống kê
(3) Luận án đã chỉ ra tác động của tổ chức KSNN tới chất lượng thông tin
KTTC của CTNY. Luận án đã thực hiện xác định ảnh hưởng của các tổ chức KSNN
tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY. Từ đó xác định tổ chức quản lý nhà
nước có ảnh hưởng và cần có các thủ tục nhằm tăng cường chất lượng thông tin
KTTC của CTNY. Đồng thời qua quá trình khảo sát, phân tích, Luận án đã xác định
ảnh hưởng của chức năng hỗ trợ của các tổ chức quản lý nhà nước tới chất lượng
thông tin KTTC của các CTNY.
(4) Luận án đã tổng hợp đánh giá thực trạng về chất lượng thông tin KTTC của
các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay. Thông qua quá trình khảo sát, Luận án
đã tiến hành phân tích, đánh giá về chất lượng thông tin KTTC và tác động của tổ
chức KSNB, KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính
trên SGDCK TPHCM (thông qua ý kiến kiểm toán độc lập về các BCTC của
CTNY).
(5) Luận án đã sử dụng phương pháp định tính trong bước xác định mối liên
hệ, những tác động ban đầu và đưa ra mô hình nghiên cứu. Phương pháp định lượng
được sử dụng nhằm kiểm định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất
lượng thông tin KTTC của các CTNY. Thông qua việc xây dựng mô hình kinh tế
lượng cùng với việc sử dụng phần mềm phân tích EViews, Luận án đã lượng hoá
được ảnh hưởng của KSNB, KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY
trên TTCK Việt Nam.
6
Kết quả kiểm định và hồi quy tương quan cho thấy:
Thứ nhất, chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính trên SGDCK
TPHCM được đánh giá tốt;
Thứ hai, chất lượng KTTC của CTNY chịu tác động của nhiều yếu tố song xét
trên giác độ quản lý, KSNB và KSNN có ảnh hưởng mạnh tới chất lượng thông tin
này;
Nam. Chương này giới thiệu về phương pháp nghiên cứu được Tác giả sử dụng
trong Luận án gồm: Phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu
định lượng. Nội dung của chương đề cập đến nguồn dữ liệu thu thập, lý do giới hạn
phạm vi khảo sát của Luận án. Mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu được mô
tả trong chương này.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ chức kiểm soát đối với
chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam. Chương này trình bày về kết quả khảo sát và phân tích kết quả
khảo sát về tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài
chính tại SGDCK TPHCM. Nội dung chương này đề cập về thực trạng chất lượng
thông tin KTTC CTNY trên TTCK Việt Nam, khảo sát trực tiếp các CTNY về kiểm
soát chất lượng thông tin KTTC và đánh giá về kiểm soát của các tổ chức quản lý
(KSNN) hiện tại đối với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY thông qua dữ
liệu thứ cấp. Qua dữ liệu sơ cấp thu thập được về các tiêu chuẩn chất lượng thông
tin KTTC, các thành phần của tổ chức KSNB, ảnh hưởng của tổ chức KSNN, Tác
giả lượng hóa và sử dụng phần mềm Eviews để kiểm định thống kê và hồi quy
tương quan, từ đó xác định ảnh hưởng của tổ chức kiểm soát tới chất lượng thông
tin KTTC của CTNY.
Chương 5 – Phân tích kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện tổ chức
kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương này giới thiệu về giải
pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin KTTC của
CTNY trên TTCK Việt Nam dựa trên kết quả khảo sát các nhân tố KSNB, KSNN
tới chất lượng thông tin.
Chương 6 – Kết luận: Tổng hợp những nghiên cứu đã thực hiện trong Luận án
như: Lý luận, phương pháp thực hiện, thực tế khảo sát, những phân tích từ kết quả
khảo sát và những giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất
lượng thông tin KTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam.
8
KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam.
9
2
CHƯƠNG 2- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
VỀ TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG
THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
2.1. Tổ chức kiểm soát thông tin
2.1.1. Kiểm soát thông tin
2.1.1.1. Kiểm soát trong quản lý
Quản lý luôn được nhìn nhận là hoạt động quan trọng trong mọi lĩnh vực
kinh tế - xã hội. Quản lý được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có
nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Harold Koontz (1992) nhận định: Quản lý là
quá trình nhằm đạt được sự khéo léo sử dụng các nguồn lực có hiệu quả [16, tr30].
Theo định nghĩa này thì quản lý là một quá trình tích cực, nó chăm lo đến các
nguồn lực với mục tiêu cuối cùng là sử dụng các nguồn lực đó theo cách hiệu quả
nhất có thể. Và quản lý được coi là một quá trình bao gồm các giai đoạn: Lập kế
hoạch, tổ chức, cung cấp các nguồn lực, điều hành và kiểm soát. Quản lý là một quá
trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những
người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt
được, theo James H (2001) [14, tr52].
Theo GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2003), quản lý là một quá trình định
hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở các nguồn lực xác định
nhằm đạt hiệu quả cao nhất [25, tr11]. Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và
có thể chia thành nhiều giai đoạn từ khi đưa ra định hướng trên cơ sở dự báo các
nguồn lực, mục tiêu cần có và có thể đạt tới, cho đến khi những định hướng này
và bên ngoài tổ chức, nếu không có kiểm soát, các nhà quản lý sẽ không có thông
tin để ra các quyết định thích hợp nhằm thích ứng và đối phó với sự thay đổi này, vì
vậy, mục tiêu đặt ra khó có thể thực hiện được. Chính vì vậy, nghiên cứu và thực
hiện kiểm soát luôn là nội dung gắn liền với quản lý.
Theo Fayol (1949), kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi việc có
được thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được
thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần phải điều
chỉnh, đồng thời ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn [71, tr107]. Theo
Harold Koontz (1992) kiểm soát là việc đo lường và chỉnh sửa hoạt động nhằm đảm
bảo rằng các mục tiêu của doanh nghiệp và các kế hoạch được lập ra nhằm thực
11
hiện các mục tiêu đó là đạt được [16, tr45]. Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006), kiểm
soát được hiểu là hoạt động xem xét có gì sai quy tắc, điều lệ, kỷ luật hay không và
có - đặt hoặc giữ dưới sức mạnh và quyền hành của chủ thể thực hiện hoạt động
kiểm soát [24,tr474].
Theo GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2003), kiểm soát được hiểu là tổng hợp
các phương sách để nắm lấy và điều hành các đối tượng hoặc khách thể quản lý.
Với ý nghĩa như vậy, kiểm soát được hiểu theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn
như cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua các biện pháp hoặc chính sách cụ thể;
đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc ảnh hưởng hoặc chi phối đáng kể
dựa trên quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông
qua nội quy và quy chế,.... Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý và
quản lý được chia thành: quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước) và quản lý vi mô (quản
lý cấp đơn vị). Trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, các đơn vị cơ
sở đều phải tiến hành kiểm tra, rà soát các hoạt động của mình [25, tr12-13].
Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả, hiệu
lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức, theo Jones (2003) [88]. Thực chất kiểm soát là quá trình
sự phản ánh nội dung và hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, yếu tố của
hệ thống đó và giữa hệ thống đó với môi trường.
Thông tin có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, thông tin gắn liền với quá trình điều khiển và cần được kiểm soát:
Bản thân thông tin không có mục đích tự thân. Nó chỉ tồn tại và có ý nghĩa trong
một hệ thống điều khiển nào đó – nơi phát thông tin. Thông tin được trao đổi từ hệ
thống này sang hệ thống khác trong mối liên hệ với nhau. Việc kiểm soát nơi phát
thông tin, quá trình trao đổi thông tin được thực hiện đảm bảo độ tin cậy của quá
trình truyền tin.
Thứ hai, thông tin có tính tương đối và cần được lượng hóa: Mỗi thông tin chỉ
là một sự phản ánh chưa đầy đủ về hiện tượng vào sự vật được phản ánh, đồng thời
nó cũng phụ thuộc vào trình độ và khả năng của nơi phản ánh. Để thông tin được
phản ánh đầy đủ, việc tổ chức tốt nơi phản ánh thông tin là cần thiết. Việc đo lường
thông tin giúp đánh giá sự phản ánh đầy đủ từ nơi phát thông tin.
13
Thứ ba, tính định hướng của thông tin và kiểm soát thông tin: Thông tin phản
ánh mối quan hệ giữa đối tượng được phản ánh và nơi nhận phản ánh. Thông tin
được cung cấp cho những đối tượng cần thông tin. Độ tin cậy của thông tin nhận
được giúp đánh giá đúng bản chất của nơi phát thông tin. Với những thông tin có
ảnh hưởng trên diện rộng, đối tượng nhận thông tin đa dạng, thông tin cần được
kiểm soát từ nội bộ nơi – nơi phát thông tin và từ bên ngoài – nơi nhận thông tin
(như thông tin KTTC của một CTNY trên TTCK).
Thứ tư, mỗi thông tin đều có vật mang tin và lượng tin: Nội dung tin bao giờ
cũng phải có một vật mang tin nào đó. Trên một vật mang tin có thể có nhiều nội
dung tin và thông tin thường thay đổi vật mang tin trong quá trình luân chuyển của
mình. Vật mang tin được xây dựng đảm bảo cung cấp đủ thông tin nhằm phản ánh
đúng bản chất của nơi phát thông tin (như hệ thống BCTC thể hiện thông tin KTTC
đề cập đến tổ chức về nhân sự với mục tiêu hoạt động chung, chưa đề cập đến các
mối quan hệ bên trong giữa các yếu tố khác trong hệ thống.
Theo Hornby (2010) tổ chức (organization) có nhiều cách hiểu khác nhau : (1)
tổ chức là tập hợp một nhóm người nhằm đạt được mục tiêu cụ thể; (2) tổ chức là
hoạt động sắp xếp cho một việc cụ thể; (3) tổ chức là cách thức liên hệ giữa những
thành phần khác nhau; (4) tổ chức là sự chuẩn bị kỹ lưỡng, logic một công việc cụ
thể. Theo cách định nghĩa này, tổ chức được nhìn nhận dưới rất nhiều khía cạnh
khác nhau như tổ chức con người, cách thức sắp xếp công việc, cách thức đánh giá
chất lượng công việc [80, tr1037].
Tổ chức theo nghĩa rộng phải bao hàm các mối liên hệ giữa các thành phần
khác nhau trong hệ thống bao gồm cả nhân sự và công việc. Mục tiêu chung của tổ
chức là tạo ra mối liên hệ tối ưu giữa các yếu tố của hệ thống, theo TS. Phạm Bính
Ngọ (2011) [33,tr26-28].
Theo Tác giả, tổ chức kiểm soát thông tin là cách thức liên hệ giữa các thành
phần khác nhau trong một hệ thống cụ thể, kết hợp kiểm soát nội bộ và kiểm soát
bên ngoài cùng hướng đến thông tin quản lý.
2.2. Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết
2.2.1. Những tiêu chí phản ánh chất lượng thông tin kế toán tài chính
2.2.1.1. Chất lượng thông tin
Chất lượng
Chất lượng có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Theo Juran, chất lượng là sự
phù hợp với nhu cầu [86, tr11]. Theo Crosby, chất lượng là sự phù hợp với các yêu
15
cầu [105]. Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, ISO 9000:2005, đã đưa ra định
nghĩa “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn
có”.
thông tin thường được hiểu là thước đo về giá trị thông tin cung cấp cho người sử
dụng [123].
Theo Wang (1996) [121,tr5-34], chất lượng thông tin được khẳng định các
mặt cơ bản là: (1) Tính nội tại của chất lượng thông tin gồm: Tính chính xác, tính
khách quan, độ tin cậy và uy tín cung cấp thông tin; (2) Chất lượng thông tin trong
tình huống cụ thể gồm: Sự phù hợp, giá trị gia tăng, kịp thời, đầy đủ; (3) Tính đại
diện của chất lượng thông tin gồm: Sự dễ hiểu, biểu mẫu quy định, tính phổ thông,
có thể so sánh được; (4) Khả năng tiếp cận thông tin gồm: Khả năng tiếp cận thông
tin, tính bảo mật thông tin.
Như vậy, chất lượng thông tin đảm bảo các đặc trưng của chất lượng là:
thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng các nhu cầu khác nhau và được tiêu chuẩn hóa. Các
tiêu chuẩn hóa của chất lượng thông tin thường giúp đáp ứng các nhu cầu khác
nhau, như độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, sự phù hợp, tính dễ hiểu, có thể
so sánh của thông tin. Trong đó, độ tin cậy được coi là tiêu chuẩn quan trọng của
chất lượng thông tin. Bên cạnh đó căn cứ vào đặc trưng của thông tin (mục 2.1.1.2),
chất lượng thông tin phải được lượng hóa phù hợp với đặc tính của thông tin và
kiểm soát thông tin để đảm bảo chất lượng thông tin từ nơi phát thông tin tới nơi
nhận thông tin.
2.2.1.2. Tiêu chuẩn hóa thông tin kế toán tài chính
Trong thực tế, thông tin KTTC phục vụ cho quyết định đầu tư của những
thành phần tham gia thị trường. Thông tin tài chính thực sự có hiệu quả với các chủ
đầu tư, nhà cung cấp tín dụng, các đối tác và cơ quan có thẩm quyền nếu nó cung
cấp tình hình hoạt động trong quá khứ, dự đoán lợi nhuận tương lai và kiểm soát
hành động của BGĐ, theo Robert M. Bushman and Abbie J. Smith (2003) [108,
tr65-87]. Thông tin KTTC có được từ hệ thống kế toán, đây là hệ thống thu thập, xử
lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính của các đơn vị bằng
BCTC cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán (Điều 4, Luật
Kế toán) [34].
Những quy định về thông tin KTTC thông qua BCTC được trình bày trong
Một, trình bày trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi
chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế
về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
18
Hai, khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo
cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
Ba, đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế
toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
Bốn, đúng kỳ: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo
kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ.
Năm, dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ
ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có
hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình. Thông tin
về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh.
Sáu, có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán
trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính
toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong
phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế
toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế
hoạch.
Như vậy, tiêu chuẩn hóa thông tin KTTC của Việt Nam và quy định quốc tế
có sự tương đồng và thông tin KTTC (thể hiện qua BCTC) bao gồm: Sự phù hợp,
trình bày trung thực (tin cậy) (hai tiêu chuẩn căn bản) và các tiêu chuẩn làm gia
tăng chất lượng thông tin KTTC là dễ hiểu, so sánh được, xác nhận và đúng kỳ.
2.2.1.3. Chất lượng thông tin kế toán tài chính
Sự ảnh hưởng rộng lớn của thông tin KTTC (thông qua BCTC) của công ty
(4) Thông tin KTTC được thể hiện qua hệ thống BCTC của công ty. Một hệ
thống được xây dựng theo quy định với nhiều bảng biểu, chỉ tiêu nhằm cung cấp
đầy đủ thông tin cho người sử dụng và đảm bảo sự đồng nhất để người đọc có thể so
sánh được công ty này với công ty khác. Hệ thống BCTC được các quốc gia đưa ra
khuôn mẫu cụ thể đảm bảo công bằng, minh bạch giữa các đối tượng sử dụng thông
tin khác nhau.
Chất lượng thông tin KTTC đảm bảo các đặc trưng của chất lượng là thỏa
mãn nhu cầu, đáp ứng các nhu cầu khác nhau và được tiêu chuẩn hóa. Các tiêu
chuẩn hóa của chất lượng thông tin KTTC bao gồm: sự phù hợp, trình bày trung
thực (tin cậy), dễ hiểu, so sánh được, xác nhận và đúng kỳ. Chất lượng thông tin
20
KTTC phải được lượng hóa và kiểm soát thông tin để đảm bảo chất lượng thông tin
cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin thông qua các BCTC.
2.2.2. Yêu cầu về chất lượng thông tin kế toán tài chính đối với các công
ty niêm yết
2.2.2.1. Thị trường chứng khoán và công ty niêm yết
Thị trường chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế hoạt động giao dịch
mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài
chính khác. Theo GS.TS Lê Văn Tư (2005), TTCK được quan niệm là một thị
trường có tổ chức và hoạt động có điều khiển, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán
các loại chứng khoán trung và dài hạn giữa những người phát hành chứng khoán,
mua chứng khoán hoặc kinh doanh chứng khoán [21, tr9].
TTCK là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát
triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến các nhà đầu tư nói riêng và nền kinh tế
nói chung, TS.Bùi Kim Yến (2005). TTCK là thị trường cao cấp, nơi tập trung
nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các
Một là, CTNY là công ty cổ phần đại chúng, có quy mô lớn: Công ty cổ phần
có đặc trưng là sự tách rời giữa người sở hữu vốn (cổ đông) và người quản lý. Sự
tách biệt này cho thấy thông tin KTTC mà CTNY công bố từ phía người quản lý
cần được đảm bảo độ tin cậy cho người sở hữu vốn của công ty. Bên cạnh đó,
CTNY có các cơ cấu cổ đông khác nhau gồm cổ đông lớn và cổ đông thiểu số. Yêu
cầu về bảo về quyền lợi của cổ đông thiểu số và ảnh hưởng của các cổ đông lớn đòi
hỏi thông tin công bố cần trung thực (đặc biệt là thông tin KTTC).
Hai là, CTNY được quyền phát hành chứng khoán, được niêm yết chứng
khoán trên TTCK tập trung dưới hai dạng là cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng nếu
đáp ứng các yêu cầu phát hành theo luật định. Công chúng ở đây chính là các nhà
đầu tư. Các quyết định của nhà đầu tư đối với cổ phiếu của CTNY chủ yếu dựa trên
thông tin do chính CTNY cung cấp theo quy định và thông tin này được bao gồm
trong Bản cáo bạch, các BCTC thường niên, bán niên,... Để đảm bảo quyền lợi của
nhà đầu tư, thông tin CTNY cung cấp bao gồm thông tin tài chính và phi tài chính
phải đảm bảo sự trình bày trung thực.
Ba là, công khai thông tin tài chính của CTNY là bắt buộc theo luật về công
khai các thông tin trên BCTC. Hoạt động của CTNY nhận được sự quan tâm bởi
cộng đồng các nhà đầu tư có thể là cá nhân và tổ chức, trong đó có các thông tin tài
22
chính do CTNY công bố và phải được xác nhận độ tin cậy từ một bên thứ ba độc
lập.
Bốn là, số lượng và trình độ người quan tâm đến thông tin KTTC của CTNY
rất lớn và phức tạp: Do đặc trưng của CTNY là công ty cổ phần đại chúng niêm yết
trên TTCK, CTNY nhận được sự quan tâm của nhiều đối tượng quan tâm như nhà
quản lý, ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, các chuyên gia, cổ đông, công
chúng. Bên cạnh đó, trình độ của người quan tâm cũng khác biệt đối với thông tin
KTTC (mức độ hiểu biết khác nhau từ chuyên sâu đến mức độ hiểu biết hẹp). Do
Thứ nhất, thông tin KTTC của CTNY là thông tin cung cấp ra bên ngoài,
thông tin chính thức và duy nhất của CTNY. Thông tin KTTC của CTNY được cung
cấp ra bên ngoài thông qua hệ thống BCTC. Có rất nhiều đối tượng khác nhau sử
dụng BCTC trong đó nhà đầu tư cần thông tin này hơn. Để giám sát, quản lý thị
trường vốn, các tổ chức, cơ quan quản lý chức năng cũng giám sát hoạt động của
CTNY thông qua hệ thống BCTC duy nhất này.
Thứ hai, thông tin KTTC của CTNY phải đảm bảo minh bạch và được công
khai theo yêu cầu của pháp luật. Thông tin KTTC của CTNY được sự quan tâm của
rất nhiều đối tượng, không chỉ là chính ban quản trị doanh nghiệp, các cơ quan quản
lý chức năng (UBCK, Sở giao dịch,...), nhà cung cấp, khách hàng, các nhà cung cấp
tín dụng (ngân hàng, các tổ chức tài chính...), công chúng, các nhà đầu tư cá nhân
và nhà đầu tư tổ chức (các quĩ đầu tư, các công ty chứng khoán,...). Sự minh bạch
thông tin giúp nhà đầu tư và những người quan tâm khác có được thông tin chính
xác, kịp thời cho quá trình ra quyết định của chính mình.
Thứ ba, thông tin KTTC của CTNY bao gồm nhiều chỉ tiêu. Các CTNY
thường có quy mô lớn và hoạt động đa ngành nghề, tham gia vào nhiều lĩnh vực
kinh doanh, bao gồm cả lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro như đầu tư tài chính, vì thế các
chỉ tiêu trên BCTC thường phản ánh các nghiệp vụ phức tạp, đặc biệt là đối với các
BCTC hợp nhất của các công ty mẹ có nhiều hệ thống các công ty con. Ngoài
những chỉ tiêu về số liệu kế toán thuần tuý, những chỉ tiêu tài chính của CTNY
được rất nhiều bên quan tâm nhằm đưa ra quyết định đúng đắn khi đánh giá về
chiến lược, hướng đầu tư, các thông tin bổ sung khác.
Thứ tư, thông tin KTTC của CTNY (thông qua BCTC) phải tuân thủ các quy
định của SGDCK nơi niêm yết, bị kiểm soát, xử lý khi có hành vi vi phạm công bố
thông tin, như: BCTC phải được công bố từng quý, sáu tháng, một năm và tuân thủ
thời gian công bố thông tin nghiêm ngặt hơn so với các doanh nghiệp thông thường;
BCTC phải được kiểm toán hàng năm và soát xét bán niên bởi một tổ chức kiểm
24
người sử dụng thông tin KTTC cần nội dung thông tin khác nhau từ BCTC, IASB
25