ĐỒ án tốt NGHIỆP PHÂN TÍCH và đề XUẤT một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ sản XUẤT KINH DOANH tại CÔNG TY TNHH SX TM đức THỊNH - Pdf 35

Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện kinh tế thay đổi mạnh mẽ như hiện nay, để duy trì và phát triển
doanh nghiệp của mình thì trước hết phải đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh phải có hiệu
quả. Là một sinh viên khoa Quản Trị Doanh Nghiệp của trường Đại Học Bách Khoa Hà
Nội thự tập tại công ty TNHH SX TM Đức Thịnh em đã nhận thức được tầm quan trọng
của hiệu quả trong sản xuất kinh doanh là yếu tố quyết định sự vững bền của doanh
nghiệp nên em đã chọn đề tài “ Phân tích và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu
quả kinh doanh tại công ty TNHH SX TM Đức Thịnh”
Nội dung đồ án bao gồm :
Chương I : Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh.
Chương II : Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH SX TM
Đức Thịnh.
Chương III : Các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty TNHH SX
TM Đức Thịnh
Vì khả năng kiến thức cũng như thời gian có hạn nên đồ án của em không tránh khỏi
được những thiếu sót, em mong nhân được những ý kiến giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy
cô, để em có được cách nhìn nhận thấu đáo hơn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty TNHH Đức Thịnh.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Cô Giáo-Thạc Sỹ
Nguyễn Thị Xuân Hòa cũng như toàn thể CBCNV công ty Đức Thịnh đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đồ án này.
Hải Phòng, Ngày Tháng

Năm 2015

Sinh viên
Nguyễn Hữu Khánh

phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất có kết quả, có hai mức chi phí khác nhau thì
theo quan niệm này cũng có hiệu quả ( Nguồn tài liệu Mai Ngọc Cường, 1999, lịch sử
các học thuyết kinh tế, nhà xuất bản thống kê TP Hồ Chí Minh).
- Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả với
tăng thêm chi phí ( Nguồn tài liệu Nguyễn Văn Công, Nguyễn Năng Phúc, Trần Quý
Liên, 2001 lập, đọc, kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính).
- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí
bỏ ra để đạt được chi phí đó (Nguồn tài liệu Nguyễn Văn Công, Nguyễn Năng Phúc,
Trần Quý Liên, 2001 lập, đọc,kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính).
- Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để
lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong thực tiễn của con người ở mọi lĩnh
vực và mọi thời điểm. Bất kỳ một quyết định nào cũng cần được một phương án tốt nhất
trong điều kiện cho phép là giải pháp thực hiện có cân nhắc tính toán chính xác phù hợp
với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể ( Nguồn tài liệu PGS
PTS Nguyễn Văn Công, 2005 chuyên khảo sát về báo cáo tài chính, lập, đọc, kiểm tra,
phân tích báo cáo tài chính. NXB tài chính Hà Nội ).
Từ những quan điểm khác nhau như trên của các nhà kinh tế, ta có thẻ đưa ra một khái
niệm thống nhất trung về hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự
phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi
phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh. Nó là
thước đo càng trở lên quan trọng của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh
giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
1.1.2 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
- Chỉ tiêu sức sinh lời.
+ Chỉ tiêu doanh thu trên 1 đồng chi phí của doanh nghiệp.

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN


thu thuần. chỉ tiêu này khuyến khích doanh nghiệp tăng doanh thu giảm chi phí hoặc tốc
độ tăng của doanh thu cao hơn tốc độ tăng của chi phí.
Lợi nhuận trong kỳ của DN
Chỉ tiêu doanh lợi =
Theo doanh thu thuần

Doanh thu thuần trong kỳ của DN

- Chỉ tiêu sức sản xuất.
+ Chỉ tiêu năng suất lao động của doanh nghiệp.
Là chỉ tiêu cho biết một lao động tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị kinh doanh.
Tổng giá trị kinh doanh tạo ra trong kỳ
Chỉ tiêu năng suất
Lao động của DN

=
Tổng số lao động bình quân trong kỳ

+ Chỉ tiêu kết quả kinh doanh trên một đồng chi phí tiền lương của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí tiền lương trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu.
Doanh thu tiêu thụ sản phâm trong kỳ
Chỉ tiêu kết quả
=
Kinh doanh trên 1 đồng
Chi phí tiền lương

Tổng chi phí tiền lương trong kỳ

+ Sức sản xuất vốn cố định của doanh nghiệp.

Sức sản xuất vốn
Lưu động của DN

=
Vốn lưu động bình quân trong kỳ của DN

1.1.3 Ý nghĩa phân tích hiệu quả kinh doanh
Theo những nghiên cứu trên thì hiệu quả là một chỉ tiêu tổng hợp từ nhiều yếu tố khác
nhau, nó nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp:
Hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh chính là điều kiện quan trọng nhất đảm
bảo sản xuất nhằm nâng cao số lượng và chất lượng của hàng hoá giúp cho doanh nghiệp
củng cố được vị trí và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, xây dựng cơ sở
vật chất mua sắm thiết bị đầu tư công nghệ mới góp phần vào lợi ích xã hội. Nếu doanh
nghiệp hoạt động không hiệu quả, không bù đắp được những chi phí bỏ ra thì đương
nhiên doanh nghiệp đó không phát triển mà còn không đứng vững và tất yếu sẽ dẫn đến
phá sản.
Như vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp là rất quan trọngnó quyết
định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nó giúp doanh nghiệp
chiếm lĩnh được thị trường đạt được những thành quả to lớn cũng như phá huỷ những gì
doanh nghiệp đã xây dựng và vĩnh viễn không cònổtong nền kinh tế.
- Đối với kinh tế xã hội:
Một nền kinh tế xã hội phát triển hay không luôn đòi hỏi các thành phần kinh tế đó làm
ăn hiệu quả đạt được những thuận lợi sau:
Doanh nghiệp kinh doanh tốt, làm ăn hiệu quả thì điều đầu tiên doanh nghiệp đó mang
lại cho nền kinh tế xã hội là tăng sản phẩm cho xã hội, tạo ra việc làm, nâng cao đời sống
dân cư, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Doanh nghiệp làm ăn có lãi thì phải đầu tư nhiều
hơn vào quá trình tái sản xuất mở rộng để tạo ra nhiều sản phẩm hơn tạo ra nguồn sản
phẩm dồi dào, đáp ứng nhu cầu đầy đủ, từ đó người dân có quyền lựa chọn sản phẩm phù
hợp và tốt nhất mang lại lợi ích cho mình và cho doanh nghiệp.

1.2.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh là gì ?
Phân tích hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh, so sánh giữa chi phí kinh
doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được. phân tích hiệu quả kinh doanh là phân tích
tỉ lệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của hoạt động đề ra so với chi phí bỏ vào để có
kết quả về số lượng, chất lượng và thời gian.
Kết quả đầu ra
Hiệu quả =
Sản xuất KD
yếu tố đầu vao
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như : tổng giá trị sản lượng, tổng doanh thu,
tổng lợi nhuận..., còn các yếu tố đầu vào bao gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động,
vốn chủ sở hữu, vốn vay và con người.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là nơi kết hợp các yếu tố
cần thiết để sản xuất và bán các sản phẩm dịch vụ tạo ra với mục đích thu lợi nhuận.
Hoạt động của doanh nghiệp thể hiện hai chức năng là thương mại và cung ứng sản xuất
gọi chung là sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi hoạt động sản xuất của doanh
nghiệp đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Vấn đề xác định hiệu
quả sản xuất kinh doanh lại được đề cập nhiều ở việc xác định các mức sinh lời trong
phân tích tài chính. Mức sinh lời là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp về hoạt động của
doanh nghiệp. Nó được xác định bằng chỉ tiêu tương đối khi so sánh giá trị kết quả thu
được và giá trị các nguồn lực tiêu hao tạo ra kết quả. Hiệu quả hoạt động của mỗi doanh
nghiệp được đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng hiệu quả tài chính được thể
hiện qua các chỉ tiêu mức sinh lời luôn được xem là thước đo chính xác.
Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh té phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn lực( lao động, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu và nguồn vốn) để đạt
được múc tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là phân tích sự chênh lệch giữa kết quả mang
lại và những chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả để đánh giá sự tăng trưởng
kinh tế của mỗi doanh nghiệp nói riêng và cũng như toàn bộ nền kinh tế khu vực , quốc

kinh doanh của doanh nghiệp, sau khi xác định chỉ tiêu hiệu quả sản xuát kinh doanh
người ta thường dùng các phương pháp phân tích, so sánh để đánh giá hiệu quả, so sánh
các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh kỳ phân tích với kỳ trước hay với kế hoạch của doanh
nghiệp hay so sánh với các chỉ tiêu của doanh ghiệp khác trong nghành.
Sau khi đã có những đánh giá chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, ta đi phân tích cụ thể từng yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến quan hệ sản xuất kinh
doanh như lao động, nguyên vật liệu, tài sản cố định...từ đó tìm ra được những biện pháp
cụ thể để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong toàn bộ quá trình phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, cần đảm bảo thống
nhất nội dung kinh tế của các chỉ tiêu. Các phương pháp tính các chỉ tiêu cũng như thống
nhất đơn vị tính toán về cả khối lượng thời gian và giá trị...
+ phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng mức
độ biến động của các chỉ tiêu phân tích.
Phương pháp được thực hiện bằng cách sự dụng các con số về một chỉ tiêu nào đó để
so sánh giữa các thời kỳ với nhau nhằm đánh giá kết quả xác định vị trí và xu hướng biến
động của các chỉ tiêu phân tích. Khi tiến hành phân tích cần : xác định số gốc để so sánh,
xác định điều kiện so sanh, mục tiêu so sánh.
Xác định số liệu gốc để so sánh: số gốc là số chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn để so
sánh. Việc xác định số gốc phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích, có thể là số liệu
năm trước, kỳ trước nhằm đánh giá xu hướng phát triển của chỉ tiêu phân tích các mục
tiêu đã dự kiến.
Các chỉ tiêu của nghành kinh doanh, nhu cầu đơn hàng nhằm thỏa mãn vị trí của
doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu, các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc
được gọi là chỉ tiêu thực hiện hay kết quả mà doanh nghiệp đạt được.
Các trị số của chỉ tiêu kỳ trước, kế hoạch hoặc cùng kỳ năm trước gọi chung là trị số
gốc. Thời kỳ chọn làm gốc so sánh gọi là kỳ gốc, thời kỳ chọn để phân tích gọi là kỳ
phân tích.

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh

C1 là số liệu kỳ phân tích
C0 là số liệu kỳ gốc
Mức độ biến động tương đối là kết quả so sánh giữa số liệu thực tế C1 và số gốc C0 đã
được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quy định quy mô
của các chỉ tiêu phân tích
C1
x 100

∆C (%) =
C0

+ Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích qua việc thay thế lần lượt và liên tiếp
các nhân tố đế xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố thay đổi, sau đó lấy kết quả trừ đi
chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tố nhiên cứu sẽ xác định được mức độ ảnh hưởng
của nhân tố ấy.
Trình tự thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn :
Lập mô hình toán học biểu hiện mối liên hệ giữa các chỉ tiêu nghiên cứu và các nhân tố
ảnh hưởng.
Theo thứ tự sắp xếp các nhân tố ( số lượng đến chất lượng) ta đặt đối tượng phân tích
trong điều kiện giả định khác. Sau đó lần lượt thay thế các số liệu kế hoạch bằng số liệu
thực tế để tính ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích. Mỗi nhân
tố chỉ thay thế một lần, giữ nguyên số thay thế đã tính ở bước trước.
Khi kiểm tra sự chính xác của các số liệu phân tích, áp dụng công thức :
∑Xi = sự biến động của toàn bộ đối tượng phân tích

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN


+ Doanh thu bình quân của một lao động
Doanh thu thuần
Doanh thu bình quân =
của một lao động

Số lượng lao động bình quân

Chỉ tiêu này cho ta biết một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
+ Hiệu quả sử dụng lao động
Lợi nhuận sau thuế
Mức sinh lời
của một lao động

=
Số lượng lao động bình quân

Chỉ tiêu này cho ta biết được một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản.
+ Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn:
Lợi nhuận
Hiệu quả

=

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

8


NVCSH bq
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra vào kinh doanh thu được
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Các chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời càng
lớn và ngược lại.
- Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí.
Chi phí là một chỉ tiêu bằng tiền cuả tất cả các chi phí trong doanh nghiệp bỏ ra trong
quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu giảm chi phí sẽ làm tốc độ TSNH quay nhanh hơn và
biện pháp quan trọng để hạ giá thành sản phẩm.
+Hệ số chi phí được xác định theo công thức sau:
Tổng doanh thu
Hệ số chi phí =
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí cho hoạt động SXKD trong kỳ thu được bao
nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì nó thể hiện mỗi đồng chi phí
doanh nghiệp bỏ rađể SXKD đã mang lại hiệu quả tốt.
Trong quá trình phân tích, ngoài việc tính toán và so sánh các chỉ tiêu hiệu quả còn cần
thiết phải xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó tới
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như các nguyên nhân ảnh hưởng
đến các chỉ tiêu hiệu quả ( kiểm soát được và không kiểm soát được – chủ quan và khách
quan).
1.2.4 Mục đích phân tích hiệu quả kinh doanh

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

9


Khóa luận tốt nghiệp


quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả đầu ra của quá trình hoạt động
kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào năng lực, kỹ năng, sự tài tình và động lực của nhà quản
trị.
- các nhà quản trị chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp, ra các quyết định vè
tài chính, đầu tư và kinh doanh xây dựng và thực hiện các chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp.sự thành công hay thất bại trong việc điều hành hoạt động của doanh
nghiệp được thể hiện trực tiếp qua việc phân tích hiệu quả kinh doanh.
- phân tich hiệu quả kinh doanh còn hữu ích trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt
động của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh được phân tích dưới nhiều dạng khác nhau
và được tổng hợp từ hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp nên sẽ là
cơ hội để đánh giá và điều chỉnh các hoạt động , các bộ phận cụ thể trong doanh nghiệp
và lập kế hoạch kinh doanh theo đúng mục tiêu chiến lược cho các kỳ tiếp theo.
1.3 Quy trình phân tích hiệu quả kinh doanh
1.3.1 Phân tích tổng quát hiệu quả kinh doanh ROE, ROA
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt động kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp và dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau và so

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

10


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

sánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét doanh nghiệp đó
hoạt động hiệu quả hay không.

Là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty. Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa hai nguồn
vốn cơ bản mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn
này có đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá
tình hình tài chỉnh của doanh nghiệp.
1.3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng kết quả đầu ra.
để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh một cách toàn diện hơn, chúng ta nên phân
tích sự biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến biến động doanh thu, công việc này cần

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

11


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

được thực hiện trước khi tính toán các chỉ tiêu sinh lời, sẽ là cơ sở để làm sáng tỏ biến
động của chỉ số đó.
Sự biến động doanh thu.
Doanh thu phản ánh luồng thu nhập của doanh nghiệp gồm doanh thu hoạt động kinh
doanh và doanh thu khác. Trong đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu
chính. Vì vậy bất kể sự thay đổi nào về doanh thu bán hàng đều ảnh hưởng không nhỏ
đến doanh thu. Trong từng trường hợp doanh thu tăng giảm, để hiểu rõ được kết quả đó
là tích cực hay không ta cần tìm hiểu rõ thông qua việc xem xét các yeus tố ảnh hưởng
đến doanh thu bán hàng.
Doanh thu bán hàng thay đổi phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá bán
hàng. Số lượng sản phẩm tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng mẫu mã sản

TSDH đầu kỳ + TSDH cuối kỳ
TSDH bình quân trong kỳ =
2

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

12


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

Trong đó: Số TSDH ở đầu kỳ được tính theo công thức
Số TSDH
Nguyên giá
ở đầu kỳ
= TSCĐ ở đầu kỳ
(hoặc cuố kỳ)
(hoặc cuối kỳ)
Số tiền khấu
Số tiền
hao luỹ kế
= khấu hao
thừa ở cuối kỳ
ở đầu kỳ
Sức sinh lời TSDH

Số tiền khấu

mấy đồng lợi nhuận sau thuế. Sức sinh lời càng lớn thì hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao
và ngược lại.
Tỷ suất hao phí TSCĐ
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Tỷ suất hao phí tài sản cố định =
Doanh thu thuần
Qua chỉ tiêu ta thấy để có được một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng
nguyên giá tài sản cố định bình quân.

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

13


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

+ Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp ta dùng các chỉ tiêu sau:
Sức sản xuất của TSNH:
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của TSNH =
TSNH bình quân năm
Trong đó:
TSNH bq đầu tháng + TSNH bq cuối tháng
TSNH bình quân tháng =
2
Cộng TSNH bình quân 3 tháng
TSNH bình quân quý =


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý
Tổng lợi nhuận

Sức sinh lời của Chi phí =
Tổng chi phí
- Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
+ Sức sinh lợi của một lao động.
Lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lợi của một lao động =
Số lượng lao động bình quân
Trong đó:
Số lao động trong kỳ + số Lđ cuối kỳ
Số lượng lao động bình quân =
2
Chỉ tiêu này cho biết một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
nhất định.
+ Doanh thu bình quân của một lao động
Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ ( DT thuần)
Doanh thu BQ của 1 lao động =
Số lượng lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
1.4.1 Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong doanh nghiệp chính là thể hiện tiềm năng của doanh nghiệp, cơ
hội, chiến lược kinh doanh và hiệu quả kinh doanh luôn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu
tố phản ánh tiềm lực của một doanh nghiệp không phải là bất biến mà có thể phát triển
mạnh lên hay yếu đi, có thể thay đổi toàn bộ hay bộ phận. chính vì vậy trong quá trình

doanh của doanh nghiệp.
- Nhân tố trình độ kỹ thuật công nghệ:
Trình dộ kỹ thuật công nghệ tiên tiến cho phép doanh nghiệp chủ động nâng cao chất
lượng hàng hoá, năng xuất lao động và hạ giá thành sản phẩm như đặc điểm sản phẩm,
sức cạnh tranh của sản phẩm. Nhờ vậy doanh nghiệp có thể tăng khả năng cạnh tranh của
mình, tăng vòng quay TSNH, tăng lợi nhuận đảm bảo cho quá trình sản xuất mở rộng.
Ngược lại với trình độ công nghệ thấp thì lhông những giảm khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp mà còn giảm lợi nhuận kìm hãm sự phát triển. Nói tóm lại nhân tố trình độ
công nghệ cho phép doanh nghiệp nâng cao năng xuất lao động và hạ giá thành sản phẩm
nhờ đó mà khả năng cạnh tranh, tăng vòng quay của vốn tăng lợi nhuận từ đó tăng hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
- Nhân tố quản trị:
Nhân tố này đóng vai trò quan trọng chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một
hướng đi đúng đắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động. Chất lượng của
chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công
hay thất bại của doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ quản trị là người quyết định các hoạt động
sản xuát kinh doanh: Sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Sản xuất thế nào? sản xuất bao
nhiêu? ... mỗi quyết định của họ có tính quan trọng liên quan đến sự tồn tại hay diệt vong
của doanh nghiệp. Chính họ là những người quyết định cạnh tranh như thế nào? sức cạnh
tranh bao nhiêu? và bằng cách nào? ... Kết quả và hiệu quả của quản trị doanh nghiệp đều
phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu
tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của từng bộ phận, các nhân tố thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận cơ cấu tổ chức
đó.
- Nhân tố khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Đây là nhân tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất cũng như là chỉ tiêu hàng đầu
để đánh giá qui mô của doanh nghiệp, bất cứ hoạt động đầu tư mua sắm thiết bị nguyên
vật liệu hay phân phối ... đều được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm năng mạnh sẽ có khả năng trang bị dây chuyền công

được chiến lược kinh doanh dài hạn.
1.4.2 Các nhân tố bên ngoài
- Đối thủ cạnh tranh :
Bao gồm các đối thủ cạnh tranh trực tiếp ( cùng hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu
thụ sản phẩm dịch vụ đồng nhất) và các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng ( các đối thủ chưa
thực hiện kinh doanh trong nghành mà doanh nghiệp đang hoạt động. Những đối thủ có
đủ tiềm năng và sẵn sàng nhảy vào kinh doanh). Nếu đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì doanh nghiệp
lúc này chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng hạ giá
thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ tăng doanh thu tăng vòng quay của vốn, để
tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh về giá cả, chủng loại, mẫu mã... như vậy đối
thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn, nó tạo ra động lực phát triển cho doanh nghiệp.
- Thị trường:
Nhân tố thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh
nghiệp. Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Đối với thị
trường đầu vào cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như máy móc thiết bị ... cho
nên tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản
xuất. Còn với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp
nhận hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp thị trường đầu ra nó sẽ quyết định tốc độ tiêu
thụ tạo ra vòng quay của vốn nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Tập quán dân cư và mức độ thu nhập bình quân toàn dân cư :
Đây là nhân tố quan trọng việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nó quyết định
mức độ chất lượng, số lượng, chủng loại...Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và nghiên cứu
làm sao cho phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng mức thu nhập bình quân của tầng
lớp dân cư. Những nhân tố này có tác động một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cũng như công tác Marketing và cuối cùng là hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị và pháp luật:
Các nhân tố thuộc môi trường chính trị, pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động sản

nào? Dựa vào công thức tính hiệu quả kinh doanh thì ta có thể thực hiện bằng biện pháp
tăng doanh thu hoặc giảm chi phí hoặc làm cho tốc độ doanh thu phải lớn hơn tốc độ tăng
chi phí. Tuy nhiên để thực hiện được ba phương pháp này thì cách thực hiện lạo không
giống nhau tùy thuộc vào công ty. Có thể tổng hợp một số biện pháp sau :
1.5.1 Nâng cao hiệu quả đầu ra
Nâng cao hiệu quả đầu ra có nghĩa là chúng ta tăng doanh thu lên, vậy muốn tăng
doanh thu thì ta cần phải tìm mọi cách để tiêu thụ được nhiều hàng hóa hay dịch vụ hơn
trước, hoặc tăng giá bán cao hơn trước. Và thêm vào đó doanh nghiệp cần phải nâng cao
chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình. Làm tốt công tác Marketing quảng bá thêm
thương hiệu của công ty.
1.5.2 Tiết kiệm nguồn lực đầu vào
Tiết kiệm nguồn lực đầu vào là giảm chi phí đầu vào, phương pháp này có khả năng
làm tăng doanh thu cao. Giảm chi phí doanh nghiệp có thể bán với giá rẻ hơn, thậm chí
rẻ hơn đối thủ cạnh tranh. Để làm được điều này công ty cần thực hiện các biện pháp sau
nhằm quản lý chặt chi phí như sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trong sản xuất,
bao bì đóng gói, bảo quản sản phẩm tốt. Giảm chi phí khấu hao tài sản cố định bằng cách
hạch toán đầy đủ theo dõi quản lý TSCĐ ... việc giảm chi phí sẽ làm cho lợi nhuận tăng
lên, điều đó có nghĩa là hiệu quả sản xuất tăng.

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

18


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH

năng của mình, nhằm giúp ban giám đốc đưa ra những quyết định đúng và kịp thời nhất.
Bộ máy quản lý của công ty bao gồm:

01 Giám đốc

01 Phó giám đốc

04 Phòng ban

Và 02 phân xưởng

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

19


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.
GIÁM ĐỐC

Phòng
Kinh
doanh

Phòng
Thiết


Tổ
2

* Chức năng nhiệm vụ của bộ máy quản lý Công ty
Ban giám đốc gồm có hai thành viên là Giám đốc và Phó giám đốc
- Giám đốc: chịu trách nhiệm quan trọng nhất công ty, điều hành giám sát mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty, trực tiếp chỉ đạo các phòng ban. Là người đại
diện của công ty trước pháp luật. Có quyền tổ chức bộ máy Công ty, đưa ra các chủ
trương chính sách, chiến lược kinh doanh nhằm phát triển công ty
- Phó giám đốc: Là người chịu trách nhiệm quản lý bộ phận sản xuất dưới sự uỷ quyền
của giám đốc
Các phòng ban của Công ty bao gồm:

Phòng kế toán tài chính

Phòng thiết kế

Phòng kinh doanh

Phòng sản xuất
Với những chức năng nhiệm vụ cụ thể như sau:
a. Phòng kế toán tài chính
Tham mưu cho giám đốc trong công tác kế toán để có thể sử dụng đồng vốn hợp lý, có
hiệu quả, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được duy trì liên tục.

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

20

triển khai từ phòng kỹ thuật xuống tới các xí nghiệp rồi cả phân xưởng và sau đó xuống
các tổ sản xu bất và từng công nhân. Mỗi bộ phận, mỗi công nhân đều phải có hướng
dẫn, quy định cụ thể về quy cách may, lắp giáp và thông số kỹ thuật của từng sản phẩn.
Việc giám sát và chỉ đạo, kiểm tra chất lượng bán thành phẩm được tiến hành thường
xuyên và kịp thời, qua đó mà những thông tin phản hồi cũng phản ánh lại cho biết quá
trình sản xuất đang diễn ra như thế nào để kịp thời điều chỉnh, đảm bảo cho tới khi sản
phẩm sản xuất ra hoàn thiên với chất lượng cao.Với công ty trong cùng một dây truyền
sản xuất có sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau, nhìn chung có thể khái quát quy trình
công nghệ sản xuất của công ty như sau :
Nguyên
vật liệu

Cắt trải vải → đặt
mẫu →dắt sơ đồ→
cắt

May:may bộ phận
phụ→ ghép thành
phẩm

Là,gấp

thêu

Giặt,mài,tẩy

Đóng
gói

Sơ đồ 2.1: Công nghệ sản xuất của công ty

và xuất kho tiêu thụ trên thị trường.
Nhìn chung; ở từng giai đoạn công ty đều sử dụng công nghệ mới có thể sản xuất
những mặt hàng đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao; hao phí nguyên vật liệu thấp. Vì vậy, có
thể giảm giá thành tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của công ty.
2.1.5 Kết quả kinh doanh một số năm gần đây
Những năm qua, thị trường có nhiều chuyển biến phức tạp, gây khó khăn cho hoạt
động của công ty song công ty đã cố gắng duy trì mức độ hoạt động và tiếp tục phát
triển, thể hiện qua bảng sau :
BẢNG 2.1- KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY NĂM 2012 -2013
ĐVT: VNĐ
Tăng/
Năm
Năm
Tăng /Giảm
Chỉ tiêu
giảm
2012
2013
(+/-)
(%)
24.401.817.908
33.829.436.394
9.427.618.486
Tổng doanh thu
38,63
136.201.974
404.703.639
268.501.665
Lợi nhuận sau thuế
197,1

lớn và ngược lại.
Từ nguồn dữ liệu bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
tóm tắt được một số chỉ tiêu sau:
Năm 2012
Đầu kỳ + Cuối kỳ
7.243.604.563 + 8.170.204.083
Vốn chủ SH bq =
=
2
2
= 7.706.904.323
Năm 2013
Đầu kỳ + Cuối kỳ
Vốn chủ SH bq =

8.170.204.083 + 8.132.053.722
=

2
= 8.151.128.903

2

Năm 2012
Đầu kỳ + Cuối kỳ
Tổng tài sản bq =

20.654.734.203 + 23.650.828.737
=


Vốn chủ SH bq
8.151.128.903
7.706.904.323
Tổng tài sản bq
23.853.428.190
22.152.781.470
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Từ nguồn số liệu trên ta tính và lập bảng phân tích các chỉ tiêu tổng quát:
- Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ROA:

Sinh viên: Nguyễn Hữu Khánh
Lớp: QTKD-K18- ĐHBKHN

23


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Kinh tế và Quản Lý

136.201.974
Năm 2012

=

= 0,00615
22.152.781.470
404.703.639

Năm 2013

Tỷ suất lợi nhuận trên tài
Lần
0,0169
0,00615
0,0107
sản (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận trên
Lần
0,0496
0,0176
0,032
vốn chủ sở hữu (ROE)

Tăng giảm
(%)
173,98
181,82

Qua bảng 03 phân tích các chỉ số tổng hợp ROA, ROE cho thấy năm 2013 trong 100
đồng doanh thu thuần có 1,17 đồng lợi nhuận sau thuế (năm 2012 là 0,59 đồng). Năm
2013 lợi nhuận trên vốn 100 đồng vốn thu được 1,69 đồng lợi nhuận sau thuế (năm 2012
là 0,615 đồng). Năm 2013 lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 100 đồng vốn sẽ thu về cho
mình 4,96 đồng lợi nhuận sau thuế (năm 2012 là 1,76 đồng). Như vậy chứng tỏ việc kinh
doanh của công ty có hiệu quả song có xu hướng tăng so năm trước, chứng tỏ việc kinh
doanh của công ty có hiệu quả đem lại lợi ích cho chủ sở hữu, các chỉ số đều có xu
hướng tăng qua các năm. Tuy nhiên các chỉ số này so với lãi suất nghân hàng và so với
chỉ tiêu của ngành thì còn thấp rất nhiều, cụ thể công ty CP may Phương Đông có ROE
trong năm 2013 là 0,115 lần đồng nghĩa với việc trong 100 đồng vốn CSH họ thu được
11,5 đồng lợi nhuận, trong khi đó công ty của ta chỉ có được 4,96 đồng doanh thu còn
thấp hơn so với lãi suất nghân hàng là 6 đồng lợi nhuận. Mức độ và hiệu quả còn thấp

136.201.974
Năm 2012
=
= 0,0059
24.401.817.908
404.703.639
Năm 2013

=

= 0,0117
33.829.436.394

- tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu(DER) :
15.480.624.654

Năm 2012

=

= 2,009
7.706.904.323
15.923.973.923

Năm 2013

=

= 1,953
8.151.128.903


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status