ĐỀ CƯƠNG CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM.
Câu 1: Khái niệm văn hóa, văn vật, văn hiến, văn minh. Phân biệt văn hóa với
các khái niệm này và cho ví dụ.
* Khái niệm:
- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người
với môi trường tự nhiên và xã hội.
- Văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời.
- Văn vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và di tích lịch sử.
- Văn minh là chỉ cho ta biết trình độ phát triển của văn hóa nhưng thiên về giá trị
vật chất kĩ thuật.
* Phân biệt văn hóa với các khái niệm và cho ví dụ:
- Phân biệt văn hóa với văn minh: Đây là những khái niệm gần gũi có liên quan tới
nhau nhưng không đồng nhất.
+ Văn hóa có chứa giá trị vật chất và tinh thần, văn hóa mang tính lịch sử, tính dân
tộc.
+ Văn minh chỉ cho ta biết trình độ phát triển của văn học nhưng thiên về giá trị vật
chất kĩ thuật.
+ Sự khác biệt giữa văn hóa với văn minh. Khác biệt về phạm vi: văn hóa mang tính
dân tộc, văn minh mang tính quốc tế. Khác biệt về nguồn gốc : văn hóa gắn bó
nhiều hơn với phương Đông, nông nghiệp, văn minh gắn liền với phương Tây đô
thị.
+ VD:
- Phân biệt văn hóa với văn hến, văn vật: văn hiến, văn vật chỉ là những khái niệm
bộ phận của “ văn hóa”, chúng khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị: văn hiến là
văn hóa thiên nhiên về “truyền thống lâu đời”, mà truyền thống lâu đời còn lưu giữ
được chính là các giá trị tinh thần; còn văn vật là văn hóa thiên nhiên về các giá trị
vật chất( nhân tài, di tích, hiện vật) .
+ VD:
Câu 2: Các đặc trưng và chức năng tiêu biểu của văn hóa( lấy ví dụ dẫn chứng
minh họa.)
ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.
- Đặc trưng thứ 4 của văn hóa là tính lịch sử. Nó cho phép phân biệt văn hóa như
sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh như sản
phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo nên
văn hóa một bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên phải điều chỉnh,
tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền
thống văn hóa.
Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa. Nhưng văn hóa
thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định, mà còn bằng
2
cả những giá trị đang hình thành. Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn
mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong
việc hình thành nhân cách. Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh
là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
Câu 3: Sự du nhập của kitogiao vào Việt Nam và những ảnh hưởng của nó đến
văn hóa Việt Nam, trên hai phương diện van hóa vật chất và tinh thần.
- Kitô giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XVI. Trải qua nhiều biến
cố thăng trầm vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, đến nay, số lượng tín đồ Kitô
giáo có khoảng bảy triệu người. Trong đó, khoảng sáu triệu người Công giáo và
khoảng 1 triệu người Tin Lành phân bố gần như khắp các vùng trên lĩnh thổ Việt
Nam.
- Kitô giáo đã có một số đóng góp đáng trân trọng, như đóng vai trò là cầu nối văn
hóa của Việt Nam với phương Tây, sáng tạo ra chữ quốc ngữ, du nhập ngành in và
báo chí vào Việt Nam, làm phong phú về kiến trúc, nghệ thuật, không gian thiêng,
thời gian thiêng trong văn hóa Việt nam. Tuy nhiên, cũng có những hạn chế nhất
định như, quá tự tôn, tự mãn, quá áp đặt văn hóa.
- Sự giao lưu đó đã làm văn hóa Việt Nam biến đổi mọi phương diện , lối tư duy
phân tích phương Tây đã bổ sung khá nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền
phép linh hồn có "mật đanh" đúng như thế vào thôi (vì vậy, tên này còn gọi là tên
cúng cơm). Làm như vậy là đề phòng ngừa những cô hồn lang thang vào ăn tranh
cỗ cúng sau này.
Trước khi khâm liệm, phải làm lễ mộc đục (tắm gội cho người chết) và lễ phạn
hàm: bỏ một nhúm gạo nếp và ba đồng tiền vào miệng (gạo để dùng thay bữa, tiền
để đi đò - quan niệm của người vùng sông nước). Khi khâm liệm, phải có miếng vải
đắp mặt người chết để khỏi trông thấy cháu con sinh buồn.
Trong áo quan, từ thời Hùng Vương đã có tục chia tài sản cho người chết mang
theo. Ngày nay, người Việt vẫn để kèm trong áo quan các đồ vật tùy thân như quần
áo, gương lược. .. và hằng năm khi giỗ thì "gửi thêm" vàng (giấy), quần áo (giấy)....
Trước khi đưa quan tài đến nơi chôn cất, người ta cúng thần coi sóc các ngả đường
để xin phép đưa tang. Trên đường đi có tục rắc các thỏi vàng giấy làm lộ phí cho ma
quỷ để chúng khỏi quấy nhiễu. Đến nơi, làm lễ tế Thồ thần nơi đó để xin phép cho
người chết được nhập cư".
Chôn cất xong, trên nấm mộ đặt bát cơm, quả trứng, đôi đũa (cắm trên bát cơm),
nhiều nơi còn đặt thêm mớ bùi nhùi. Tục này mang ý nghĩa chúc tụng : mớ bùi nhùi
tượng trưng cho thế giới hỗn mang, trong hỗn mang hình thành nên thái cực (tượng
trưng bằng bát cơm), thái cực sinh ra lưỡng nghi (tượng trưng bằng đôi đũa), có
lưỡng nghi (âm dương) là có sự sống (tượng trưng bằng quả trứng).
Toàn bộ toát lên ý cầu chúc cho người chết sớm đầu thai trở lại. Nhiều nơi có tục
làm nhà mồ cho người chết với đủ những tiện nghi. vật dụng tối thiếu.
- Quan niệm triết lí âm dương ngũ hành:
Về màu sắc: Tang lễ Việt Nam truyền thống dùng màu trắng là màu của hành Kim
( hướng Tây). Mọi thứ liên quan đến hướng tây là xấu, nơi để mồ mả của người Việt
và người dân tộc thường là hướng tây của làng. Sau màu trắng là màu đen. Chỉ khi
chắt, chút để tang cụ, kị thì mới dùng các màu tốt như màu đỏ và vàng.
Về số loại: Theo triết li âm dương, âm ứng với số chẵn, dương ứng với số lẻ, vì vậy
mọi thứ liên quan đến chết đều phải là số chẵn, lạy trước linh cữu thì phải lạy 2
hoặc 4 lạy.
Cũng theo luật âm dương là việc phân biệt tang cha với tang mẹ. Khi con trai chống
+ Tính tổng hợp: trong nghệ thuật ăn uống của người Việt trước hết thể hiện trong
cách chế biến đồ ăn. Hầu hết các món ăn đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp
rau này với rau khác, rau với các loại gia vị, rau quả với cá tôm…tính tổng hợp còn
thể hiện ngay cả trong cách ăn. Mâm cơm của người Việt cũng đồng thời nhiều
món: rau, cá, thịt, luộc, kho, nấu…suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp các món
ăn.
+ Tính cộng đồng và tính mực thước: Ăn tổng hợp, ăn chung cho nên các thành
viên của bữa ăn liên quan và phụ thuộc chặt chẽ vào nhau. Tính cộng đồng đòi hỏi ở
con người một thứ văn hóa cao trong ăn uống. Vì mọi người đều phụ thuộc lẫn nhau
5
nên phải ý tứ khi ngồi và mực thước khi ăn. Tính mực thước là biểu hiện của
khuynh hướng quân bình âm – dương.
+ Tính biện chứng: Trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thời
tiết, phải đúng mùa và người Việt sành ăn còn phải biết chọn đúng bộ phận có giá
trị, đúng trạng thái có giá trị và đúng thời điểm có giá trị.
+ Tính linh hoạt: thể hiện rõ trong cách ăn, ăn theo lối Việt Nam là một quá trình
tổng hợp các món ăn, nhưng có bao nhiêu người ăn thì có bấy nhiêu cách tổng hợp
khác nhau đó là cả một kuoon khổ rộng rãi đến kì lạ cho sự linh hoạt của con người,
tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn, truyền thống Việt Nam ăn chỉ dùng
đũa.
Câu 6: Phong tục hôn nhân của người Việt, các nghi thức tiến hành trong hôn
nhân. So sánh hôn nhân tuyền thống với hôn nhân hiện nay.
- Hôn nhân người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau mà
là việc hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái. tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của
tập thể.
+ Trước hết là quyền lợi của gia tộc: xác lập quan hệ giữa hai gia tộc. Vì vậy điều
cần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân cụ thể, mà lựa chọn một dòng
- So sánh hôn nhân truyền thống với hôn nhân hiện nay:
+ Quan niệm về lễ cưới
Truyền thống
Để tiến đến được hôn nhân, cô dâu chú rể phải được sự đồng ý của gia đình hai bên,
đôi khi phải căn cứ theo hoàn cảnh hai nhà, cả hai gia đình đều phải phù hợp , "môn
đăng hộ đối" thì đôi uyên ương mới được chúc phúc.
Hiện đại
Quan niệm về tầm quan trọng của lễ cưới trong xã hội hiện đại vẫn được bảo tồn và
gìn giữ. Nhưng hiện nay, đôi uyên ương đã có nhiều quyền quyết định hạnh phúc
của mình hơn, họ có quyền tìm hiểu và quyết định đến với nhau bằng đám cưới.. Lễ
cưới không còn phụ thuộc nhiều vào việc gia đình hai bên có "môn đăng hộ đối"
hay không nữa.
Ngoài việc tổ chức lễ cưới, đôi uyên ương cũng cần đăng ký kết hôn và đây là điều
không thể thiếu, đảm bảo cho cuộc sống vợ chồng. Tuy nhiên quan niệm của các
đôi uyên ương vẫn là phải được gia đình hai nhà đồng ý và được bạn bè, người thân
chúc phúc.
+. Nghi thức cưới hỏi
Truyền thống
Nghi lễ cưới hỏi trong xã hội truyền thống có phần rườm rà, nhiều thủ tục hơn. Các
thủ tục xưa thường bao gồm:
- Mai mối để đôi bạn trẻ tìm hiểu nhau
- Lễ cheo: lễ này có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Lễ
cheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc tiền bạc đem đến cho làng hoặc xóm của cô dâu
để cộng đồng làng xóm tiếp nhận thành viên mới.
- Chạm ngõ
- Ăn hỏi
- Báo hỷ, chia trầu cau
- Nạp tài: nhà trai đem sinh lễ gồm trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo, đồ trang sức
sang nhà gái. Lễ này có ý nghĩa nhà trai góp chi phí cỗ bàn và cho nhà gái biết họ
đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ cho cô dâu mới về nhà chồng.
về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của
Khâu Đà La. Thế kỉ 2, Phật giáo hình thành nên hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp.
- Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật
giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề
trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật
giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung cố gắng
chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có
nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật
giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các
đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu [5].
Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
•
•
từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát
triển rộng khắp;
thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;
8
•
•
từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái;
từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng.
Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh Độ
tông và Mật tông.
* Đặc điểm của phật giáo:
- Tính tổng hợp
gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích). Ba tôn giáo
9
trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phật
giáo lo tâm linh, kiếp sau của con người. Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ
sư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa,Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu
vào tâm thức mọi người Việt[14].
Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo khác để hình
thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiên nhân hợp nhất" và
"Vạn giáo nhất lý".
- Tính hài hòa âm dương.
Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác của lối tư
duy nông nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáo
Việt Nam có phần thiên về nữ tính.
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành "Phật ông
Phật bà". Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị thần hộ mệnh
của vùng Nam Á nên còn được gọi là Quan Âm Nam Hải. Ngoài ra người Việt còn
có những vị Phật riêng của mình như Man Nương Phật Mẫu (tên khác: Phật
Mẫu), Quan Âm Thị Kính(tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tên
khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba).
- Tính linh hoạt.
Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật thường gọi là
"tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên" nghĩa là tùy thuộc vào tình
huống cụ thể mà người ta có thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau.
Nhưng vẫn không xa rời giáo lý cơ bản của nhà Phật. Ví dụ: Các vị bồ tát, các vị
hòa thượng đều được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ tát), Phật Di
Lặc (vốn là hòa thượng),... Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa và
dân dã: ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn), ông Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca Tuyết
Sơn),... Trên đầu Phật Bà Chùa Hương còn có lọn tóc đuôi gà rất truyền thống của
quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ, và trong tín
ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế. Và vì cái đích mà người nông
nghiệp hướng tới là sự phồn thức, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái
trẻ đẹp, mà là các Bà mẹ, các Mẫu. Tục thờ Mẫu đã trở thành một tín ngưỡng Việt
Nam điển hình.
- Nghi thức thờ cúng:
+ Trước hết là các Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước, những nữ thần cai quản các hiện
tượng tự nhiên thiết thân nhất đối với cuộc sống của người trồng lúa nước. Về sau,
do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá.
Tuy nhiên các bà vẫn song song tồn tại. Nhiều nhà ở góc sân vẫn có một bàn thờ gọi
là bàn thờ Bà Thiên. Bà Đất tồn tại dưới tên Mẹ Đất, Bà Nước tồn tại dưới tên Bà
Thủy. Ở nhiều vùng, Bà Đất, Bà Nước còn tồn tại dưới dạng thần khu vực như Bà
Chúa Xứ, Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch. Ba bà này còn được thờ chung như một bộ
tam tài dưới dạng tín ngưỡng Tam Phủ cai quản ba vùng trời – đất- nước. Mẫu
Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoái.
+ Các bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp cai quản những hiện tượng tự nhiên hết sức quan
trọng trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đến khi Phật Giáo vào Việt
Nam, nhóm nữ thần này được nhào nặn thành hệ thống Tứ Pháp. Pháp Vân thờ ở
chùa Bà Dâu, Tháp Vũ thờ ở chùa Bà Đậu, Tháp Lôi thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp
11
Điện thờ ở chùa Bà Dan. Lòng tin của nhân dân vào hệ thống Tứ Pháp mạnh đến lỗi
vào thời Lý, nhiều lần triều đình đã phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long cầu
đảo, thậm chí rước theo đoàn quân đi đánh giặc. Và người Việt còn có tục thờ Mười
Hai Bà Mụ.
Câu 9: Đặc Điểm giá trị của lễ hội truyền thống Việt Nam và ý nghĩa.
- Lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian. Vào mùa xuân và mùa thu, khi công
việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác , mỗi
vùng có lễ hội riêng của mình.
chung. Đó là tính chất thiêng của toàn bộ lễ hội, là sự sùng bái nhân vật, suy tôn
những biểu tượng được phục thờ, là nhu cầu trở về tự nhiên xa xưa để khẳng định
nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa; là sự giải thiêng trong tâm thức, tâm lí và
sinh hoạt cộng đồng. Tất cả những bản chất này được biểu hiện ở tất cả các hiện
tượng thuộc về lễ hội; từ những chi tiết nhỏ nhất đến những chi tiết lớn. Lễ hội cổ
truyền bản thân nó đã là một giá trị văn hóa lớn trong đời sống truyền thống và hiện
đại.
Câu 10: Phong tục tập quán làm nhà của người Việt( quan niệm. đặc điểm).
- Quan niệm: Đối với nông nghiệp ngôi nhà- cái tổ ấm để đối phó với nóng lạnh,
nắng mưa, gió bão- là một trong những yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho cuộc
sống định cư ổn định. Có an cư thì có lạc nghiệp! Thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm
phần.Do ngôi nhà chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc sống cho nên
trong tiếng Việt “ nhà” được đồng nhất với gia đình, với vợ chồng, được mở rộng
nghĩa để chỉ một cơ quan, chỉ chính phủ và những người có chuyên môn cao sống
trong nước.
- Đặc điểm:
+ Trước hết do khu vực cư trú là vùng sông nước cho nên ngôi nhà của người Việt
gắn liền với môi trường sông nước: nhà thuyền; nhà bè nhiều gia đình tụ tập nên các
xóm chài, làng chài. Nhà sàn là kiểu nhà rất phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn,
nó thích hợp cho cả miền sông nước lẫn miền núi. Nó không chỉ có tác dụng ứng
phó với môi trường sông nước ngập lụt quanh năm mà còn ứng phó với thời tiết
mưa nhiều gây lũ, khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, hạn chế và ngăn cản côn trùng…
Ngày nay ở nhiều vùng hay ngập nước và các kho vẫn duy trì kiến trúc nhà sàn.
+ Để ứng phó với môi trường tự nhiên, tiêu chuẩn ngôi nhà Việt Nam về mặt cấu
trúc là nhà cao cửa rộng. Kiến trúc Việt Nam mở để tạo không gian thoáng mát,
giao hòa với tự nhiên.
Cái cao của ngôi nhà Việt Nam bao gồm hai yêu cầu: Sàn/nền cao su so với mặt đất
và mái cao so với sàn/nền.
Nhà cao, nhưng cửa không cao mà phải rộng. Cửa không cao để tránh ánh nắng
chiếu xiên khoai và tránh mưa hắt.
nghiêng và mái cong hình thuyền. Rồi tính cộng đồng thể hiện ở việc trong nhà
không chia thành viên nhiều phòng nhỏ biệt lập như ở phương tây…
Việt Nam còn có truyền thống thờ cúng tổ tiên và hiếu khách cho nên ngôi nhà Việt
Nam dành ưu tiên gian giữa cho hai bộ bàn ghế tiếp khách. Sau đó là truyền thống
coi trọng bên trái. HÌnh thức ngôi nhà Việt Nam còn tuân thủ theo nguyên tắc coi
trọng số lẻ của truyề thống văn hóa nông nghiệp.
Nhìn chung, chỉ trong một việc ở, ta cũng thấy nguyên lí âm – dương và ý muốn
hướng tới một cuộc sống hài hòa chi phối con người Việt Nam một cách chọn vẹn.
Câu 11: Các điều kiện hình thành và ý nghĩa thờ cúng tổ tiên của người Việt.
- Điều kiện hình thành:
14
+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra đời và duy trì trong những điều kiện lịch sử - xã
hội nhất định. Từ hình thức liên minh cộng đồng nguyên thủy đến hình thức liên kết
gia đình sơ khai theo trục huyết thống nam đã là một chặng đường lịch sử khá dài.
Theo con đường “ chung tộc danh về phía bố”, các gia đình nhỏ liên kết lại với
nhau thành họ. Đây là loại đơn vị ngoại hôn vì các thành viên trong họ liên kết với
nhau bằng sợi dây huyết thống và cùng chung một vị thủy tổ.
+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt đã hình thành, tồn tại và phát triển trên
cơ sở quan niệm tâm linh và một nền tảng kinh tế xã hội tư tưởng khá bền vững. Có
thể nói những yếu tố tâm linh có tính bản địa và mộc mạc đã được thể chế hóa, hợp
pháp hóa nhờ hệ tư tưởng Nho giáo và sự ủng hộ của các vương triều. Chính vì vậy,
tín ngưỡng này đã được bảo tồn qua suốt tiến trình lịch sử nhiều biến động.
- Ý nghĩa thờ cúng tổ tiên của người Việt:
+ Trong các hệ thống tín ngưỡng tôn giáo bản địa của nước ta thì tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên được coi là quan trọng bậc nhất. Ở đó ta thấy được niềm tin của con
người vào một thế giới bên kia, nơi có một cuộc sống giống như thế giới mà chúng
ta đang sống. Thông qua các nghi lễ thờ cúng con người mong muốn có được sự
che trở, giúp đỡ của tổ tiên, lúc nào trong tâm tưởng họ tổ tiên cũng luôn theo sát.
+ Tết Trùng Cửu( tết Trùng Dương)- 9/9 âm lịch
+ Tết Hạ Nguyên- Tết Trùng Thập – 10/10 hoặc 15/10 âm lịch
+ Tết Táo Quân-23/12 âm lịch
+ Tết Nguyên Đán- 1/1 âm lịch.
- Những hiểu biết về tết Nguyên Đán:
+ Thời gian:
Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả,[1] Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền hay
chỉ đơn giản còn gọi là Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam
Vì Tết tính theo Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của Mặt Trăng nên Tết
Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây).
Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết
Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng
2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1đến giữa tháng 2 Dương lịch.
Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày
cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
+ Ý ngĩa của tết Nguyên Đán:
Tết, đó là dịp để mọi người dẹp bỏ mọi lo toan thúc dục hằng ngày của đời sống
sau một năm làm lụng vất vả, để mà vui chơi, an hưởng hạnh phúc được chừng nào
hay chừng ấy.
Tết, đó là dịp để nhắc nhở loài người ý thức về sự đổi mới của đất trời, về lẽ tuần
hoàn của tạo vật: Đông qua Xuân tới, Thu đi Hạ về; ý thức như thế để mà phấn khởi
hân hoan nuôi mầm hy vọng khi 365 ngày cũ chấm dứt, 365 ngày mới bắt đầu.
Tết, đó là nghi thức do loài người khắp nơi trên trái đất không hẹn mà cùng tổ chức
nên, để tạo cơ hội cho những khởi đầu đầy ý nghĩa của 365 ngày sống mới mà ngày
mồng một là ngày khai nguyên: cơ hội để gia đình sum họp, tưởng nhớ tổ tiên, đền
ơn trả nghĩa...
Tết, đó là dịp trọng đại nhất trong năm mà trong đó mọi người đều cố gắng để tạo
niềm vui cho mình và cho người, cùng cố gắng để nở nụ cười thân ái chào nhau, và,
nếu có thể, sẵn sàng bắt tay nhau ngầm hứa hẹn xoá bỏ hận thù, giận hờn, nghi kỵ,
giờ này, gọi là giờ “tống cựu nghênh tân”.
/ Hết giai đoạn chuẩn bị, ngày Tết bắt đầu từ sáng mồng một. Kiêng cử là mục đầu
tiên cha mẹ căn dặn con cái: Kiêng nghĩa là tránh không làm tất cả những điều
không tốt, như: chưởi bớí, giận dữ, đánh lộn... Nếu Tết mà bị như thế thì sẽ bị cả
năm, gọi là giông.
/ Xông nhà xông đất. Bắt đầu từ giờ Giao Thừa là bắt đầu năm mới, hễ người nào
bước chân đến nhà mình trước tiên là người ấy xông nhà xông đất, nghĩa là mang sự
may mắn hay xui xẻo đến cho mình, tuỳ theo cái vận của người ấy đang lên hay
đang xuống.
/ Xuất hành. Cũng sau giờ Giao Thừa, người ta chọn giờ tốt, hướng tốt để đi ra
khỏi nhà gọi là xuất hành, đi để tìm lấy cái may mắn, phúc lợi. Thường, xuất hành
bao giờ cũng nhắm tới đền chùa hay nhà thờ.
/ Hái lộc. Ở nơi chọn để xuất hành tốt, còn có tục hái lộc, nghĩa là bẻ một cành cây,
một nhánh lá để mang về nhà lấy hên, lấy may.
/ Chúc Tết, mừng tuổi. Sáng ngày mồng một, con cái cháu chắt mặc áo mới, vòng
tay cúi đầu trước ông bà cha mẹ và lạy mừng chúc tụng, dâng lên những món quà
17
tượng trưng cho lòng tôn kính. Bậc bề trên mừng tuổi cho con cháu những món tiền
đựng trong phong bao màu đỏ, gọi là lì xì.
/ Khai bút đầu năm.
Câu 13: Tín ngưỡng thờ Tứ Bất Tử của người Việt( nguồn gốc, hình thức, ý
nghĩa).
- Nguồn gốc:
+ Trước khi các tôn giáo lớn định hình trên Việt Nam, người Việt đã phát triển tín
ngưỡng của riêng mình. Ngoài thờ gia tiên, tổ nghề, các anh hùng chống ngoại
xâm..., tục thờ bốn vị Thánh bất tử là Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Bà
Chúa Liễu có nhiều nét vô cùng độc đáo.
+ Tản Viên biểu hiện ước vọng chiến thắng thiên tai, lũ lụt; Thánh Gióng kết tinh ý
kiến trúc được xây dựng để thờ cúng. Từ ngày mùng 1 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch
hàng năm diễn ra lễ hội Phủ Giầy nổi tiếng với hàng vạn người tham dự. Ngoài ra,
tại Phủ Sòng, Thanh Hóa, có đền Sòng thờ Bà. Lễ chính ở đây rơi vào ngày 3 tháng
3 âm lịch.
- Ý nghĩa:
+ Tục thờ Tứ Bất Tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta. Đó là
tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử, biểu tượng cho sức mạnh liên kết
của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống
vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc.
Câu 14: Phong biệt hai khái niệm phong tục và tập quán( cho ví dụ minh họa)
- Phong tục là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số
mọi người thừa nhận và làm theo. Phong tục có trong mọi mặt đời sống.
VD: Phong tục hôn nhân. Là phong tục truyền thống lâu đời của Việt Nam, là việc
hôn nhân đại sự của một đôi trai gái và gia đình hai bên. Khi được cả hai gia đình
đồng ý và cho phép, thì sẽ làm lễ thành hôn và chính thức trở thành vợ chồng.
Phong tục hôn nhân gắn liền vời đời sống của người Việt được mọi người thừa nhận
và làm theo một cách nghiêm túc ở mọi thế hệ.
- Tập quán là một thói quen được hình thành trong một tập thể nhất định, là một
thói quen hàng ngày của con người và được mọi người làm theo. Nó cũng không
mang tính cộng đồng cao.
VD: Vào dịp tết trung thu, mọi người luôn có tập tục múa kì lân, sư tử và vào các
nhà để xin lộc với quan niệm mang đến sự may mắn cho mọi người và đặc biệt là
những người làm trong kinh doanh, sự phồn thịnh và ngày càng phát đạt.
Câu 15: Tín ngưỡng thờ tứ pháp của người Việt( nguồn gốc, hình thức, ý
nghĩa).
- Nguồn gốc:
+ Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là tín ngưỡng thờ bốn vị thần tự nhiên có ảnh hưởng
quyết định đến đời sống nông nghiệp đang ở tình trạng lệ thuộc hoàn toàn vào thiên
nhiên. Đó là bốn vị: thần Mưa (Pháp Vũ), thần Mây (Pháp Vân), thần Sấm (Pháp
Lôi), thần Chớp (Pháp Điện).
Duy Tiên).
* Thờ Pháp Điện: Chùa Bà Bầu (thị xã Phủ Lý).
+ Các chùa khác như chùa Quyển Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng), chùa Thanh Nộn,
chùa Phú Viên, chùa và đình làng Lạt Sơn (x. Thanh Sơn, h. Kim Bảng), chùa
Thanh Thôn (Văn Xá, Kim Bảng) có phối tự thờ Tứ pháp trong thần điện. Tại Hà
Nam, Tứ Pháp đã được gọi bằng những cái tên nôm na thân mật. Dân làng Đanh Xá
gọi Pháp Vũ là bà Đanh (chùa Bà Đanh), dân làng Quế Lâm gọi Pháp Vân là bà Bến
(chùa Quế Lâm), dân thị xã Phủ Lý gọi Pháp Điện là bà Bầu (chùa Bà Bầu)…
+ Hàng năm cứ vào dịp Tết nguyên đán, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, đặc biệt
là ngày mùng 8 tháng 4, dân các địa phương gần xa lại đến chùa mở hội, rước kiệu,
20
cầu nguyện tấp nập. Vào những năm hạn hán hay mưa gió thất thường, các chùa Bà
Đanh, chùa Bến, chùa Bầu người ra vào cũng lễ rất đông.
+ Từ năm 1990 đến nay, việc thờ cúng Tứ Pháp ở các địa phương Kim Bảng, Thanh
Liêm, thị xã Phủ Lý bắt đầu có xu hướng gia tăng cả về quy mô lẫn phạm vi lễ thức.
Chùa Quế Lâm, chùa Trịnh Sơn, chùa Bầu đã được tu bổ tôn tạo lại rất khang trang.
Dân địa phương và khách thập phương về cúng lễ cũng ngày một tấp nập hơn.
- Ý nghĩa:
+ Người phụ nữ Việt Nam, người có công tái tạo một tôn giáo lớn trong những cơ
thể mới mang đậm tính bản địa, rất thiêng liêng, huyền bí mà rất gần gũi với cuộc
sống đời thường của người dân, được tôn làm Mẹ Phật. Đó là sự tôn vinh đối với
người có công tái tạo sinh thành một hình thức tôn giáo mới, tôn giáo của người dân
cầu mong mưa thuận gió hòa, phong đăng hòa cốc, tôn giáo của sự phát hiện ra sự
tương tác mật thiết giữa sự huyền bí của vũ trụ với cuộc sống đời thường. Đó là triết
lý sâu xa của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống tâm linh của người dân Việt.
21