CHÍNH SÁCH đối NGOẠI của NHẬT bản THỜI kỳ MINH TRỊ (1868 1912) - Pdf 35

Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
thầy giáo, Tiến sĩ Phạm Ngọc Tân đã tận tình
hớng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô
khoa Sử trờng Đại học Vinh; cùng cảm ơn tất
cả ngời thân, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn
này.
Tác giả :

Hoàng Thị Hải Yến

1


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Mục lục
Trang
Mở đầu..............................................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................. 4

II

2. Lịch sử vấn đề................................................................................................................... 5
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu............................................................................ 7


1.2.2. Vấn đề mở cửa ký kết các hiệp ớc với phơng Tây...............15
Chơng 2: Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời
Minh Trị (1868 1912 )...................................................................................................19
2.1. Những cải cách trong lĩnh vực đối nội...................................................... 19
2.2. Biến đổi của Nhật Bản do Duy tân mang lại.............................................24

Chơng 3: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (18681912).................................................................................................................................... 28

2


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc
3.1. Đấu tranh xoá bỏ các hiệp ớc bất bình đẳng.....................................28
3.2. Chính sách gây chiến xâm lợc:.................................................................34

3.2.1.Lục địa châu á -mục tiêu chiến lợc trong chính sách đối ngoại
xâm lợc của Nhật Bản .....................................................34
3.2..2.Chiến tranh Nhật Trung (1894-1895)............................................39
3.2.3. Chiến tranh Nhật - Nga (1904 1905). ..............................................46
3..2.4 Hậu quả của chính sách gây chiến xâm lợc..................................55
3.3. Một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ
Minh Trị (1868-1912):..................................................................................................... 60

3.3.1. Kết quả của chính sách đối ngoại Nhật Bản thời kỳ Minh Trị
(1868- 1912).................................................................................................60
3.3.2. Những nhân tố chi phối chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời
kỳ Minh Trị (1868-1912)........................................................................62
Kết luận.........................................................................................................................68
Tài liệu tham khảo..................................................................................................71


châu á mông lung, đen tối. Nhật Bản không những thoát khỏi guồng lới dày đặc
của bọn thực dân đã giăng sẵn mà còn vơn lên thành một cờng quốc, hoà vào cuộc
tranh đua thị trờng thế giới.
1.3. Cần phải lý giải Hiện tợng Nhật Bản trên nh thế nào?. Tại sao Nhật
Bản làm nên điều kỳ diệu ấy?. Đây chính là một câu hỏi lớn thu hút sự quan tâm
4


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

của rất nhiều nhà sử học trong và ngoài nớc. Bản thân chúng tôi trong quá trình
học tập ở nhà trờng, đã có điều kiện tìm hiểu về lịch sử Nhật Bản. Chính con đờng
đi độc đáo, có tính cách của quốc gia này đã hấp dẫn chúng tôi rất nhiều.
Trong bối cảnh ấy, xuất phát từ sự tò mò, lòng mến yêu đất nớc Nhật Bản,
thán phục trớc bản lĩnh của ngời Nhật, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và giải
quyết các vấn đề trên thông qua việc tiếp cận chính sách đối ngoại của Nhật Bản
giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mà cụ thể là thời kỳ Minh Trị
(1868-1912). Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật trong thời kỳ này không
chỉ nhằm tìm hiểu nét riêng, không chỉ cố gắng khái quát chính sách đối ngoại
của nớc này, mà còn nhằm rút ra một số bài học lịch sử có tính chất tham khảo.
Những bài học trong chính sách đối ngoại của Nhật thời kỳ Minh Trị (1868-1912)
dù là những bài học của quá khứ đã qua, nhng nếu đợc phát hiện và chứng nghiệm
là xác đáng thì nó vẫn có ý nghĩa thời sự cấp bách. Đó chính là lý do chúng tôi
chọn vấn đề: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868-1912)
để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử vấn đề.

Lịch sử Nhật Bản thời kỳ Minh Trị nói chung và chính sách đối ngoại của
Nhật Bản trong khoảng thời gian này nói riêng là vấn đề đã thu hút đợc sự quan
tâm của rất nhiều nhà sử học trong và ngoài nớc. Song do khả năng có hạn nên

Thế Giới. HN 2000. Thế nhng, cha có tác phẩm nào chuyên viết về chính sách
đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868 -1912), mà hầu hết chỉ mới đề cập
một phần nhỏ nội dung vấn đề chúng tôi quan tâm. Chẳng hạn nh: Vĩnh Sính Nhật Bản cận đại. Nhà xuất bản TPHCM. 1991; Lê Văn Quang: Lịch sử Nhật
Bản. Tủ sách ĐHTH TPHCM. 1996; Lê Văn Quang: Quan hệ quốc tế ở Đông
Nam á trong lịch sử (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) trong những năm cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó. Trờng ĐHTH.1993; Phan Ngọc
Liên (chủ biên): Lịch sử Nhật Bản. NXB VHTT. Hà Nội 1995; Phan Ngọc
Liên, Nghiêm Đình Vỳ... Lịch sử Nhật Bản NXB VHTT. HN.1997; Khoa Sử trờng ĐHTH Hà Nội: Lịch sử cận đại Nhật Bản. NXB Trờng ĐHTH Hà Nội;
Nguyễn Khắc Ngữ: Nhật Bản Duy Tân dới thời Minh Trị Thiên hoàng. NXB
Trình Bày - SG.1969; Lê Văn Sang, Lu Ngọc Trịnh. Nhật Bản - đờng đi tới một
siêu cờng kinh tế. NXB KHXH. HN 1991; Vũ Dơng Ninh - Nguyễn Văn Hồng:
Đại cơng lịch sử thế giới T2. NXB Giáo dục. H. 1996...
Bên cạnh đó, trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Nhật Bản đã
xuất hiện một số bài viết của một vài tác giả có nội dung liên quan đến chính sách
đối ngoại của Nhật Bản nh: Nguyễn Văn Tận: Nhìn lại chính sách đối ngoại của
Nhật Bản trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó.
Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản số 4.2000; Etoshinkichi: Tính hai mặt của Nhật
Bản thời kỳ Minh Trị và mối quan hệ Nhật - Việt. Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản
số 4.1998...
Với những công trình nghiên cứu trên thì đó là một thuận lợi lớn đối với
chúng tôi, song cũng rất khó khăn trong việc lựa chọn, tập hợp, xử lý t liệu theo
nội dung khoa học mà đề tài đòi hỏi. Bởi vì, trong các công trình nghiên cứu về
6


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

lịch sử Nhật Bản thời Minh Trị, cha có một công trình nào tập trung chuyên sâu
và có hệ thống về chính sách đối ngoại ở giai đoạn này. Vì thế, luận văn của
chúng tôi một mặt kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu trớc để hệ thống hoá

vấn đề. Nói một cách khác là sử dụng kết hợp hai phơng pháp: phơng pháp lịch sử
7


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

và phơng pháp logic. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơng pháp đối chiếu so
sánh và các phơng pháp liên ngành để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra.
5. Đóng góp của luận văn

Theo suy nghĩ chủ quan của bản thân chúng tôi, luận văn này có thể có
những đóng góp nh sau:
5.1. Đây là công trình tập trung tìm hiểu về chính sách đối ngoại của Nhật
Bản thời kỳ Minh Trị (1868-1912). Luận văn đã hệ thống hoá và dựng lại đợc bức
tranh tổng thể về chính sách đối ngoại một cách khách quan và trung thực; giúp
ngời đọc hiểu đợc tơng đối rõ ràng chính sách đối ngoại của Nhật trong giai
đoạn bớc ngoặt hết sức quan trọng này.
5.2. Không chỉ dừng lại ở việc mô tả khôi phục lại lịch sử, luận văn còn
phân tích, lý giải tại sao chính sách đối ngoại của Nhật lại nh thế này mà không
phải thế khác. Kết quả của nó ra sao? và những nhân tố nào đã chi phối chính
sách đối ngoại của Nhật?
5.3. Từ việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh
Trị (1868-1912), luận văn mạnh dạn đa ra một số bài học kinh nghiệm có tính
chất tham khảo đối với lĩnh vực đối ngoại của nớc ta ngày nay. Tuy nhiên, những
kết luận này chỉ là ý kiến chủ quan của cá nhân nên cha hẳn là những luận điểm
khoa học mà còn phải bàn luận nhiều.
5.4. Cuối cùng, nội dung và t liệu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo, tìm hiểu về lịch sử Nhật Bản nói riêng cũng nh lịch sử quan hệ quốc tế
giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
6. Cấu trúc của luận văn:

dạng và phức tạp. Đó vừa là thời kỳ mà chính quyền trung ơng đạt đợc sự quản
chế tơng đối thống nhất bao trùm toàn bộ lãnh thổ, vừa là thời kỳ trỗi dậy của các
công quốc (han), tập trung ở vùng Tây Nam [20,54]. Đây là thời kỳ chứng kiến
bớc chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, là bớc đệm
vô cùng quan trọng để Nhật Bản khởi sắc trong giai đoạn tiếp theo.
Sau khi Toyotomi Hideyoshi (1536 - 1598) qua đời, Tôkugawa Ieyasu
(1542 - 1616) - lãnh chúa lớn nhất bớc lên vũ đài chính trị. Năm 1600, sau khi
dẹp yên các thế lực chống đối, Tôkugawa Ieyasu đã tóm gọn thực quyền vào tay
mình. Một chính quyền tập trung, thống nhất đợc xây dựng. Đứng đầu là Sogun
Tôkugawa ở Edo - ngời có nhiều quyền lực và quyền lợi nhất. Tôkugawa chính là
lãnh chúa lớn nhất, là ngời nắm quyền cai trị trực tiếp các thành phố then chốt nh
9


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Edo, Kyoto, osaka, Nagasaki, các mỏ khoáng sản giàu có và thâu tóm nhiều lĩnh
vực kinh tế quan trọng ở Nhật Bản. Dới Sôgun là gần 300 Daimio (lãnh chúa) cai
trị gần 300 lãnh địa.
Căn cứ vào thái độ ủng hộ hay không ủng hộ mình trớc trận Sekigahara kết
thúc, Mạc Phủ đã chia Daimio làm ba loại: Simpan (thân phiên) gồm 23 lãnh chúa
là họ hàng của Tôkugawa - phên dậu của chính quyền Edo; Fudai Daimio (phổ
đại) gồm 145 lãnh chúa là đồng minh của chính quyền Edo; Tozama Daimyo
(ngoại phiên) gồm 97 lãnh chúa - là những ngời chịu thần phục Tôkugawasau khi
bị đánh bại. Ba loại Daimyo này đợc đối xử phân biệt trong việc ban ruộng đất,
của cải, tớc vị; trong lĩnh vực hành chính, luật pháp, nghĩa vụ đối với chính quyền
trung ơng. Tất nhiên, bộ phận đợc u ái, nâng đỡ sẽ là Shimpan và Fudai Daimyo.
Còn đối với Tôzama Daimyo thì Tôkugawa vừa mềm dẻo nhng cũng vừa cứng
rắn.
Để phòng ngừa sự nổi dậy chống đối của các Daimyo, Mạc Phủ đã tìm mọi

thủ công sản xuất lụa, vải...). Điều này đã thúc đẩy nền thơng mại phát triển mạnh
và đẩy nhanh quá trình đô thị hoá ở Nhật Bản.
Sự phát triển của kinh tế hàng hoá làm cho tình hình chính trị - xã hội Nhật
Bản có nhiều biến chuyển, đặc biệt là sau khi hạm đội Mỹ vào vịnh Tokyo và yêu
cầu chính phủ Nhật mở cửa. Các Daimyo có sự phân hoá thành hai thế lực: thế lực
các công quốc ở phía Bắc có t tởng bảo thủ và các công quốc ở phía Tây Nam chủ
trơng duy tân. Trong suốt 200 năm, nớc Nhật luôn đợc sống yên bình không có
chiến tranh nên các Samurai lâm vào tình trạng bị thất nghiệp, trở thành gánh
nặng cho các lãnh chúa phong kiến. Trớc tình hình đó, nhiều Samurai đã từ bỏ địa
vị cao sang để chuyển sang kinh doanh, làm nghề thủ công, thậm chí là bán cả tớc
hiệu võ sĩ của mình. Sự phát triển của kinh tế công, thơng nghiệp giúp cho tầng
lớp thơng nhân trở nên giàu có. Nhờ có tiền, bộ phận này đã mua đất đai, mua tớc
vị Samurai và đến nửa sau thế kỷ XVIII thì quyền sở hữu đất đai thực tế đã nằm
trong tay họ. Sự xâm nhập mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá tiền tệ vào nông thôn
càng làm cho cuộc sống của ngời nông dân trở nên bi đát hơn. Cùng với sự phân
hoá giai cấp, tầng lớp trong xã hội là quá trình t sản hoá đối với tầng lớp võ sĩ lớp
dới thành t sản thơng nghiệp. Tiếp sau nó là sự xuất hiện của bộ phận t sản công
nghiệp.
Cùng với sự biến đổi sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội thì phong trào
chống Mạc Phủ cũng nôỉ lên gay gắt mà trung tâm là các lãnh địa phía Nam.
Điều này làm cho tình hình chính trị Nhật Bản càng trở nên rối ren hơn. Nhìn
chung, cơ cấu xã hội phong kiến của Nhật Bản vào cuối thời Tôkugawa đã bắt đầu
rạn nứt, mầm mống của một trật tự xã hội mới dần dần xuất hiện. Sự phát triển
của kinh tế hàng hoá đã làm cho xã hội Nhật Bản thay đổi từ thành thị đến nông
thôn. Chính quyền Mạc Phủ lung lay trầm trọng [10,25].
1.2. Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Tôkugawa - những
cơ hội và thách thức

11


Bản sớm có một t duy ngoại giao mới mẻ... nhằm đa phơng hoá quan hệ quốc tế
[18,148], luôn mong muốn xây dựng mối bang giao thân thiện với nhiều nớc. Đi
theo những chiếc tàu buôn đợc trang bị vũ khí hiện đại và đầy ắp hàng hoá là các
giáo sĩ truyền đạo. Những giáo sĩ này đã nhanh chóng gây đợc sự ngỡng vọng
trong nhân dân và sự kính phục trong giới trí thức Nhật Bản bởi vốn tri thức uyên
bác và t duy sắc sảo, giàu tính thực tiễn. Ngời dân Nhật Bản đã bắt đầu lờ mờ
hiểu đợc sức mạnh to lớn của nền văn minh này. Điều làm cho chính quyền Mạc
12


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Phủ băn khoăn trăn trở là các quan hệ thơng mại luôn gắn liền với hoạt động
truyền giáo. Họ e rằng sự phát triển của Thiên chúa giáo sẽ vợt ra khỏi khả năng
kiểm soát của chính quyền, sẽ làm đảo lộn thể chế chính trị và các phong tục tập
quán cố hữu của ngời Nhật. Toyotomi Hideyoshi nghi ngờ đạo Thiên chúa hàm
chứa mầm mống phản loạn, đe doạ đến sự tồn vong của chính quyền do ông ta
đứng đầu. Vì thế, To.Hideyoshi đã mời ngời đứng đầu giáo đoàn dòng Tên về
Kyoto để giải thích các vấn đề mà ông đặt ra. Đó là:
1. Lý do của việc truyền giáo ở Nhật Bản.
2. Những lý do dẫn đến việc phá bỏ đền Shinto, chùa phật giáo, chống lại
luật pháp quốc gia.
3. Những lý do giết động vật và sử dụng thịt động vật làm thực phẩm mà
không dùng các sản vật từ nông nghiệp.
4. Những lý do hành hạ các nhà tu hành Phật giáo.
5. Những lý do giải thích cho việc mua bán ngời Nhật nh nô lệ [64,4].
Sau nhiều biến động có liên quan đến Thiên chúa giáo, hoạt động truyền
giáo của các giáo sĩ phơng Tây trở nên khó khăn hơn. Vấn đề này càng phức tạp
khi nảy sinh tranh giành ảnh hởng giữa các giáo đoàn của Bồ Đào Nha - đến trớc
với giáo đoàn Tây Ban Nha đến sau. Thêm vào đó là sự cạnh tranh không khoan

Tây Ban Nha để kìm chế thế lực Bồ Đào Nha và ở mức cao hơn là dùng uy lực
của các nớc t bản đang phát triển mạnh là Hà Lan, Anh để khống chế ảnh hởng
của hai nớc Nam Âu này [18,124].
Lo sợ trớc những ảnh hởng mang tính chất bạo loạn của Thiên chúa giáo tới
trật tự phong kiến, lo sợ trớc sự lớn mạnh của các lãnh chúa trong thời kỳ mở
cửa buộc Mạc Phủ phải tính đến trong các bớc đi chính trị của mình. Về phơng
diện kinh tế, chính quyền Edo cũng muốn dành lấy mối lợi thơng mại lớn này và
nắm độc quyền kiểm soát ngoại thơng trên cả nớc. Cuối cùng trớc sức ép của
những vấn đề trong nớc và quốc tế, năm 1636, Mạc Phủ ban hành lệnh cấm các
tàu thuyền Nhật Bản ra nớc ngoài. Năm 1639, lệnh cấm đạo và bài ngoại nghiêm
ngặt đợc công bố. Sau lệnh này, quan hệ giao thơng của Nhật Bản chỉ bó hẹp với
các nớc Trung Quốc, Hà Lan và Triều Tiên. Tuy vẫn bị kiểm soát chặt chẽ nhng
thơng nhân Hà Lan đã giành đợc những điều kiện thơng mại thuận lợi, đợc đối
xử tốt hơn thơng nhân Trung Hoa khôn khéo, những ngời bị hạn chế sớm hơn ở
Nagasaki từ năm 1635. Ngời Hà Lan đã đợc tham dự vào các buổi chầu ở Edo và
họ có thể liên hệ với các quan chức cao cấp Nhật Bản [68,23]. Từ năm 1640 trở
đi, ngời Hà Lan dờng nh đóng vai trò độc quyền tại thị trờng Nhật Bản. Nh vậy, từ
chỗ đa phơng hoá, Nhật Bản đã tiến hành lựa chọn rồi đi đến đặt trọng tâm
quan hệ đối ngoại với một số quốc gia.
Nh vậy, trong khi ở châu Âu, các cuộc cách mạng t sản và cách mạng công
nghiệp liên tiếp nổ ra đã giúp châu Âu thủ tiêu đợc chế độ phong kiến lạc hậu,
đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đờng phát triển nhanh của chủ nghĩa t bản,
thì Nhật Bản lại đóng cửa với thế giới văn minh bên ngoài. Vì thế mà Nhật đã bị
tụt hậu rất xa, để rồi hai thế kỷ sau, Nhật Bản đã phải mở cửa với một giá rất
đắt. Mặc dù có mặt hạn chế, nhng trên thực tế thì đây là một hệ thống đối sách
14


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc


cho chính quyền Edo hết sức lo ngại về sự đe doạ của cờng quốc láng giềng phía
Bắc [16,73].
Còn Hà Lan - một nớc đợc quyền buôn bán với Nhật trong suốt thời gian
quốc gia này thực hiện chính sách đóng cửa cũng muốn Nhật Bản thay đổi lập
15


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

trờng. Hà Lan khuyên Nhật hãy đừng dẫm lên vết xe đổ của Trung Quốc. Họ
cảnh báo: trong bối cảnh toàn thế giới đang tiến hành mở rộng giao lu quốc tế thì
việc đoạn tuyệt với các mối quan hệ đó chỉ có thể tạo nên sự thù địch mà thôi và
nếu nh cứ tiếp tục duy trì các định kiến lỗi thời chắc chắn sẽ đẩy đất nớc đến
thảm hoạ [64,17].
Anh, Pháp, Mỹ cũng có chung nguyện vọng nh các nớc trên. Trong các
năm 1816; năm 1822; năm 1824; năm 1825; năm 1843; năm 1846, Anh liên tiếp
yêu cầu Nhật cho phép các tàu của Anh đợc vào hải phận Nhật tránh bão và đợc
cung cấp nguyên liệu. Yêu cầu ấy bị chối từ. Tức chí, Anh định dùng sức mạnh
hải quân để làm một canh bạc lớn ở Nhật Bản [16,74]. Còn đế quốc Mỹ thì
cũng đã nhiều lần thử sức mở cánh cửa vào Nhật Bản nhng nó vẫn im ỉm khoá.
Những cuộc gặp gỡ thờng xuyên, những đề nghị liên tục của các nớc phơng Tây
đã làm cho Nhật cũng tính đến khả năng có thể phải điều chỉnh chính sách đối
ngoại của mình. Rồi tiếp đó là những hành động cố tình vi phạm pháp luật Nhật
Bản của các thơng thuyền ngoại quốc khiến Nhật không thể giành quyền chủ
động hoàn toàn trong quan hệ đối ngoại.
Thế rồi, giờ phút định mệnh cũng đã đến. 17 giờ ngày 15 tháng 7 năm
1854, bốn chiếc tàu chiến của Mỹ xuất hiện ở vịnh uraga, do đô đốc Mathew
Calraith Perry dẫn đầu đã làm dân chúng Edo hoảng loạn. Thái độ cứng rắn của
viên đô đốc Mỹ khiến Mạc Phủ phải tiếp nhận bức th của tổng thống Millard
Fillmore và hứa năm sau sẽ trả lời. Bức th của tổng thống Mỹ đã đặt chính quyền

Ban Nha , Đan Mạch, Bỉ, Thuỷ Sỹ, áo - Hung, Thuỷ Điển, Na Uy, Pêru, Hawai,
Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan, Mêxico. Trong vòng bốn năm (1854 - 1858),
Nhật Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao và thơng mại với tất cả hai mơi nớc ở ba
châu lục, trong đó châu Âu: 13 nớc, châu á: 3 nớc, châu Mỹ: 4 nớc.
Căn cứ vào thực lực, yêu cầu và tham vọng của từng nớc mà Nhật Bản có
những đối sách riêng cho phù hợp. Chẳng hạn nh về lĩnh vực kinh tế thì Nhật chú
trọng quan hệ với Hà Lan, Anh; với Nga là vấn đề chủ quyền biên giới; còn quân
sự và pháp lý thì với Mỹ. Trong số các văn bản đã ký, tuy số điều khoản trong
bản hiệp ớc ký với Mỹ không nhiều nhng nó lại có sức bao quát nhất, đề cập đến
nhiều lĩnh vực nhất của quan hệ quốc tế nói chung cũng nh quan hệ Nhật - Mỹ nói
riêng. đây là mối quan hệ trọng yếu, có ý nghĩa chi phối các mối quan hệ khác
[17,83].
Song những điều ớc mà Nhật Bản ký với các nớc ngoài không hoàn toàn
đơn thuần là đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao, thơng mại. Theo Vũ Khoan thì
việc: nắm bắt và lựa cách tận dụng xu thế mới thì có cơ hội phát triển song cũng
phải gánh chịu những tác động không đơn giản [3,368]. Nội dung các hiệp ớc ký
với Mỹ (29.7.1858), Nga (19.8.1858), Anh (26.8.1858), Pháp (9.10.1858) và Hà
Lan đều hàm chứa những điều khoản bất bình đẳng hoàn toàn tơng tự nhau về các
vấn đề:
- Mở cửa u đãi cho ngời nớc ngoài buôn bán, truyền đạo.
- Quyền lãnh sự tài phán.
- Chủ quyền quan thuế.
- Quyền tối huệ quốc.
17


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Những hiệp ớc bất bình đẳng này đã làm cho Nhật rơi vào thế bị phụ thuộc, còn
Mỹ trở thành kẻ nắm quyền lũng đoạn ở nớc này.

Bốn mơi bốn năm Thiên hoàng Mútshuhitô cầm quyền (1868 - 1912)
-khoảng thời gian nằm vắt qua hai thế kỷ XIX và XX, là thời kỳ chủ nghĩa t bản
thế giới chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Với sự hình thành các tổ chức độc quyền và t bản tài
chính, quá trình xuất khẩu t bản ngày càng trở nên mạnh mẽ ; cuộc đấu tranh giữa
các cờng quốc đế quốc thực dân để giành giật phân chia thuộc địa và thị trờng thế
giới trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết . Theo V.I Lênin, đến đầu thế kỷ XX, các cờng quốc đế quốc về cơ bản đã phân chia xong thị trờng và thuộc địa thế giới; trên
thế giới đã không còn những vùng đất trống vô chủ nữa. Do đó, giữa các nớc
đế quốc tất yếu sẽ dẫn đến cuộc đấu tranh để phân chia lại hệ thống thị trờng và
thuộc địa đó, bởi quy luật phát triển không đều là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa
đế quốc [27].
19


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Ngoài ra, dới tác động của hai nhân tố là chủ nghĩa t bản thế giới và cuộc
Cách mạng t sản Nga 1905 - 1907, châu á đã thực sự thức tỉnh. Hàng triệu ngời
ở châu á, ở phơng Đông trớc đây còn đứng ngoài lề của lịch sử thì nay đã bừng
tỉnh, chủ động tham gia vào tiến trình quyết định vận mệnh của lịch sử loài ngời
thông qua cuộc đấu tranh cho độc lập, chủ quyền và tự quyết dân tộc của họ. Đó
là thời kỳ châu á đi theo những t tởng dân chủ tiến bộ của châu Âu - của Đại
cách mạng Pháp 1789, và đang trở thành tiên tiến, còn châu Âu đế quốc chủ
nghĩa thì trở nên lạc hậu [27,283-541]. Thời kỳ này, lịch sử đã chứng kiến công
cuộc duy tân ở Thái Lan (1868 1912), phong trào cải cách ở Trung Quốc và
sau đó là phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục ở Việt Nam.
Tất cả những hoàn cảnh lịch sử đó có ảnh hởng sâu sắc tới chính sách đối nội
và đối ngoại của Minh Trị Thiên hoàng (1868 - 1912). Tuy nhiên, ở đây chúng tôi
không bàn về những cải cách đối nội của Minh Trị nh là một đối tợng nghiên cứu.
Trái lại, chúng tôi chỉ xem xét những cải cách ấy với t cách là chúng thuộc về
những chính sách đối nội, có tác động đến, thậm chí làm nền cho chính sách

chính phủ còn thực hiện sự hợp tác giữa nhà nớc và t nhân. Mặc dù số lợng các
nhà máy, xí nghiệp của nhà nớc không nhiều, nhng nó đóng vai trò chủ chốt trong
nền kinh tế Nhật Bản. Sự phát triển của nền công nghiệp vẫn diễn ra theo con đờng truyền thống: công nghiệp nhẹ đi trớc, công nghiệp nặng theo sau. Vừa nhanh
chóng phát triển các cơ sở công nghiệp hiện đại nh khai thác mỏ, xây dựng các
nhà máy luyện kim, đóng tàu..., Nhật Bản vừa đặc biệt chú trọng phát triển công
nghiệp quốc phòng. Rõ ràng sự va chạm với phơng Tây tuy ngắn ngủi nhng gây
những ấn tợng sâu sắc, đã đủ để làm cho giới lãnh đạo mới tin rằng việc xây dựng
một lực lợng quân sự hiện đại đòi hỏi phải phát triển những ngành công nghiệp
chiến lợc hiện đại [43,118]. Điều đó giải thích vì sao ngay từ buổi đầu, công
nghiệp hoá đã đợc coi là có liên quan chặt chẽ đến việc đạt đợc mục tiêu quốc gia
hàng đầu.
Trong khi vừa tập trung phát triển nền công nghiệp hiện đại, chính phủ
Nhật Bản vừa thực hiện u tiên phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, tiến hành
những cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp nh cải cách ruộng đất, cải cách thuế
nông nghiệp hay cải cách địa tô. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong
việc tháo gỡ những khó khăn trong vấn đề tài chính, mà còn là chỗ dựa cơ bản
trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Nhờ những chính sách cải cách kinh tế nông
nghiệp linh động, hợp lý, chính phủ Minh Trị đã đa nền nông nghiệp Nhật Bản
thoát khỏi tình trạng suy thoái ở cuối thời Tôkugawa. Tốc độ tăng trởng của nền
nông nghiệp trong thời kỳ này chừng 2% một năm [30,97]. Với tinh thần Thợng
thơng lập quốc, thời kỳ Minh Trị đã trả lại vị trí xứng đáng cho thơng nghiệp một ngành kinh tế đã bị khinh rẻ trong các thời kỳ trớc. Ngoại thơng đã đợc
khuyến khích nh một khía cạnh của các quan hệ quốc tế, đồng thời là một cách để
tăng sự giàu có của đất nớc [50,39]. Chính phủ Minh Trị đã nỗ lực bãi bỏ những
luật lệ phong kiến gây trở ngại cho sự tăng trởng của mậu dịch, tạo ra một hệ
thống tiền tệ thống nhất, đo lờng thống nhất, quan thuế thống nhất và thị trờng
thống nhất. Không chỉ dừng lại đó, Nhật Bản còn tính đến việc thiết lập một thị trờng quốc tế, hoà nhập vào cuộc sống thơng mại sôi động của thế giới. Đoạn tuyệt
với triết lý coi nông nghiệp là trớc hết, là nền tảng kinh tế xã hội của chế độ
21



năm tiếp theo.
Những cải cách về mặt chính trị - xã hội của Minh Trị đã tạo ra một môi trờng chính trị ổn định, tạo ra sự thống nhất về mọi mặt từ trung ơng đến địa phơng.
Đó chính là điều kiện thuân lợi cho việc phát triển kinh tế, xây dựng đất nớc.
Nh vậy, trong khi các nớc châu á đang đắm chìm trong màn đêm nô lệ thì
hiến pháp Minh Trị dù đang còn nhiều hạn chế vẫn là mẫu hình lý tởng cho các nớc phong kiến phơng Đông học tập.
22


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

Nhằm xoá bỏ cát cứ phong kiến, tập trung quyền lực cho chính quyền trung
ơng, tháng 8 năm 1871, chính phủ ra lệnh phế bỏ hoàn toàn các công quốc, chia
đất nớc thành ba phủ với 72 huyện. Để ngăn chặn sự bất bình của các lãnh chúa những ngời nắm trong tay một số lợng nhân lực, vật lực rất lớn, và để tạo nên môi
trờng hoà bình cho công cuộc duy tân, theo quyết định của chính phủ, các
Daimyo trở thành quan tổng trấn. Chức vụ quan tổng trấn đợc phép cha truyền
con nối và có quyền hởng 1/10 tổng số thu nhập của địa phơng mình. Nh vậy, căn
nguyên sâu xa làm cho Nhật Bản luôn bị phân tán tiềm lực đã bị triệt tiêu. Từ đây,
ngời Nhật hoàn toàn có điều kiện để cùng chung sức ghé vai vào gánh vác một
giang sơn thống nhất. Đấy chính là cội rễ của mọi sức mạnh.
Những thay đổi trong đời sống chính trị cùng những biến chuyển trong nền
kinh tế dẫn đến yêu cầu phải sắp xếp lại trật tự xã hội cho phù hợp với tình hình
mới. Nhìn chung, xã hội Minh Trị đợc chia thành 3 giai cấp: giai cấp Kazoku (thợng đẳng) bao gồm quý tộc hoàng gia và quý tộc lãnh địa; giai cấp Shizoku gồm các võ sĩ; và những ngời thuộc tầng lớp: nông dân - thợ thủ công - thơng
nhân đợc gọi chung là Hemin (bình dân). So với trớc kia thì khoảng cách giữa các
giai cấp đã đợc rút ngắn, mối quan hệ giữa các giai cấp - xét một cách toàn diện là
tơng đối bình đẳng. Một trật tự xã hội mới dựa vào những thành tựu và năng lực
cá nhân thay vì đẳng cấp đã đợc thiết lập khiến mọi ngời có tài và có năng lực đều
có thể tiến thân trong xã hội, bất chấp nền tảng xã hội của họ. Phù hợp với cải
cách này, chính phủ đã mở cửa bộ máy quan liêu và quân đội cho mọi ng ời thuộc
mọi giai cấp bằng cách áp dụng một hệ thống giá trị [50,36].
Đi đôi với cải cách chính trị là cải cách quân sự. Ngày 2 tháng 4 năm 1871,

chắt lọc lấy từ mỗi ngành tri thức (của châu Âu), mỗi bộ môn khoa học ấy (địa d,
tự nhiên học, kinh tế học...), những gì hữu ích cho thực tiễn [21,264]. Trong thời
kỳ này, Nhật Bản tích cực mời các chuyên gia ngoại quốc vào dạy ở các trờng
trong nớc và cử sinh viên đi du học ở nớc ngoài nhằm đào tạo một lớp ngời có đủ
tài năng để đa đất nớc tiến lên trong thời đại mới. Nhật Bản đã tiến hành một cuộc
cách mạng trong giáo dục, thay đổi cả nội dung, phơng pháp và ngành học. Bên
cạnh các trờng công còn có các trờng t, bên cạnh các trờng phổ thông còn có các
trờng chuyên môn kỹ thuật. Toàn bộ hệ thống giáo dục của Nhật Bản đợc chia
thành 8 khu đại học, mỗi khu đại học đợc chia thành 32 khu trung học và mỗi khu
trung học đợc chia thành 10 khu tiểu học. Còn về phép dạy dỗ thì rất tinh tờng,
chu đáo, hay ho vô cùng, bút mực không thể nào tả xiết đợc... [5,59].
Chính phủ Minh Trị đã mở rộng chế độ giáo dục đến mọi tầng lớp nhân
dân, đến mọi miền đất nớc, thực hiện cỡng bức đối với bậc giáo dục tiểu học. Đó
là một chủ trơng đúng đắn thể hiện tầm nhận thức có tính chiến lựơc của các nhà
lãnh đạo Nhật Bản. Chủ trơng đó đợc bắt nguồn từ nhận thức rất khoa học, thấu
đáo và biện chứng: Muốn thực hiện văn minh hoá đất nớc thì trớc tiên mỗi ngời
hãy tự văn minh bộ óc của chính mình và nếu nh chính phủ không có một đờng
lối chính trị khả dĩ để có thể đa ánh sáng văn minh đến với những tầng lớp thấp
nhất của xã hội thì không thể đa quốc gia tiến tới văn minh [40,42].
Quả thực, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia văn minh, trở thành một cờng quốc trong thế giới Đông á. Trí tuệ Nhật Bản đã đợc đánh thức, đợc bồi dỡng
24


Ket-noi.com din n cụng ngh, giỏo dc

và trở thành một lực lợng vô cùng to lớn, đủ sức đối chọi với những đổi thay của
lịch sử. Giáo dục thời Minh Trị trở thành chiếc chìa khoá vàng để ngời Nhật Bản
mở toang cánh cửa trí thức của thế giới hiện đại, tạo đà cho Nhật Bản cất cánh
trong giai đoạn tiếp theo [10,49].
2.2. Những biến đổi của Nhật Bản do công cuộc Duy tân mang lại

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status