Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Hoạt Động Tái Bảo Hiểm Hàng Hóa Tại Việt Nam - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***---------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
TÁI BẢO HIỂM HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên: Phan Đình Thi
Mã sinh viên: 1111110384
Lớp : Anh 6 – Khối 2 KT
Khóa: 50
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Hoàng Thị
Đoan Trang

Hà Nội, tháng 5 năm 2014


MỤC LỤC

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU


AEC

Cộng đồng Kinh tế ASEAN

ASEAN



TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

USD

Đô la Mỹ (đơn vị tiền tệ)

VINARE

Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam

VNĐ

Đồng Việt Nam (đơn vị tiền tệ)

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU


5

1. LỜI MỞ
ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa ở Việt
Nam trong những năm gần đây
- Trên cơ sở dự báo về xu hướng phát triển của thị trường và định hướng
phát triển hoạt động tái bảo hiểm của Nhà nước, đưa ra những đề xuất nhằm đẩy
mạnh hiệu quả hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa thời gian tới.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động nhận và nhượng tái bảo hiểm
trong lĩnh vực hàng hóa của các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm trên thị
trường Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, khóa luận tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về tái bảo
hiểm hàng hóa cũng như thực trạng hoạt động tái bảo hiểm hàng hóa của các doanh
nghiệp trên thị trường.
- Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu là thị trường Việt Nam.
- Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu là từ năm 2010 đến năm 2014 và các
giải pháp đề xuất cho 5 năm tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những lý luận cơ bản về kinh tế học, về bảo hiểm và tái bảo hiểm,
khóa luận được tiến hành nghiên cứu theo các phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử. Số liệu thực tế thu thập thông qua các thống kê, báo cáo tổng kết
được khảo sát bằng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp: phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, khái quát để rút ra nhận định, đánh
giá và kết luận.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh
mục bảng biểu và Phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tái bảo hiểm hàng hóa


7

ngành kinh doanh vô cùng sôi động trên toàn thế giới, bắt đầu với sự ra đời của các
công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp như Cologne (Kolnishe Ruck AG – Italia
1852), SwissRe (Thụy Sĩ – 1863), Munich (Muchenes Ruck.AG – Đức 1880),…
Tại Việt Nam, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia được thành lập vào năm 1994 và
chính thức đi vào hoạt động vào ngày 1/1/1995, đánh dấu một cột mốc quan trọng
trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm. Theo Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm – Bộ
Tài chính (2015), tham gia vào thị trường tái bảo hiểm Việt Nam có tới 30 doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 2 công ty tái bảo hiểm và 12 công ty môi giới.
Có nhiều khái niệm khác nhau về tái bảo hiểm. Theo tác giả Hoàng Văn
Châu (2006, tr.188),“Tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử


9
dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận bảo hiểm với người được bảo
hiểm cho người bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho người bảo hiểm đó một
phần phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm”.
Như vậy, có thể nói, tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro mà người
bảo hiểm phải gánh chịu.
Được hình thành trên cơ sở bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm luôn gắn liền với
nghiệp vụ bảo hiểm gốc. Công ty bảo hiểm gốc ký hợp đồng với người tham gia và
sau đó chuyển giao rủi ro cho các công ty nhận tái bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất,
công ty bảo hiểm gốc phải bồi thường cho người được bảo hiểm, sau đó đòi lại công
ty nhận tái bảo hiểm. Như vậy, người được bảo hiểm không có quan hệ trực tiếp với
công ty tái bảo hiểm.
Sơ đồ 1.1: Mô hình nghiệp vụ tái bảo hiểm
Người tham gia bảo hiểm
Chuyển
rủi ro

Người bảo hiểm

bảo hiểm A

bảo hiểm B

bảo hiểm C


10
Nguồ

n: Tác giả tự tổng hợp
Công ty bảo hiểm sử dụng tái bảo hiểm như một phương pháp giúp chuyển
một phần rủi ro trong các hợp đồng bảo hiểm sang cho bên thứ ba là công ty tái bảo
hiểm, do đó làm tăng khả năng nhận bảo hiểm, giúp giảm thiểu rủi ro và đảm bảo
ổn định về mặt tài chính cho công ty, đặc biệt đối với các hợp đồng có giá trị bảo
hiểm quá lớn nhưng khả năng tài chính công ty lại có hạn, hoặc các tổn thất xảy ra
quá thường xuyên.
Một số khái niệm:
Hợp đồng tái bảo hiểm là hợp đồng giữa công ty bảo hiểm gốc và công ty tái
bảo hiểm về việc nhượng và nhận tái một rủi ro được bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm gốc là công ty đứng ra nhận hợp đồng bảo hiểm và sẽ
nhượng một phần hợp đồng đó cho công ty bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm khác. Công
ty bảo hiểm gốc phải trả phí tái bảo hiểm cho các công ty tái bảo hiểm.
Công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp là công ty không khai thác các dịch vụ
bảo hiểm gốc mà chỉ nhận bảo hiểm lại rủi ro đã được bảo hiểm của các công ty bảo
hiểm.
Công ty môi giới tái bảo hiểm là công ty đứng ra làm trung gian giữa một
bên là công ty bảo hiểm gốc và một bên là công ty nhận tái bảo hiểm.
Nhượng tái bảo hiểm, hay còn gọi là tái bảo hiểm đi, là việc một công ty bảo
hiểm gốc phân tán rủi ro cho các công ty bảo hiểm.

ký kết khi chưa thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm) và khả năng cung cấp bởi người
nhận tái bảo hiểm.
2.2.1.2. Đảm bảo khả năng thanh toán
Trong trường hợp rủi ro mang tính chất thảm họa, chẳng hạn như một trận
thiên tai gây tổn thất cho hàng loạt hợp đồng của công ty trong cùng lúc, thiệt hại là


12
vô cùng lớn và rõ ràng là các công ty bảo hiểm tự mình khó có khả năng bồi thường
cho toàn bộ các hợp đồng, do đó có thể phải đối mặt với tình trạng thua lỗ, phá sản.
Khi đó, hoạt động tái bảo hiểm sẽ giúp công ty đảm bảo chi trả, nhờ thế giúp công
ty ổn định tình hình tài chính cũng như hoạt động kinh doanh.
2.2.1.3. Tăng độ chính xác trong việc xác định, tính toán rủi ro
Nhờ sự tư vấn nghiệp vụ từ những nhà nhận tái bảo hiểm, công ty bảo hiểm
gốc có thể xác định chính xác hơn tính bất thường, đột biến của rủi ro được bảo
hiểm ban đầu, giảm khả năng sai lệch giữa dự đoán và thực tế.
2.2.1.4. Gia tăng nguồn thu
Cùng với phí bảo hiểm nhận được tương ứng với mức bảo hiểm giữ lại, công
ty bảo hiểm gốc còn có thể nhận được một khoản tiền hoa hồng từ các công ty nhận
tái cho các dịch vụ mà mình khai thác.
2.2.2. Đối với người được bảo hiểm
2.2.2.1. Đảm bảo khả năng được thanh toán
Đối với người được bảo hiểm, tổn thất mất mát sẽ được đảm bảo bồi thường
đầy đủ, cho dù là khi số tiền tổn thất quá lớn, công ty bảo hiểm tự mình không có
khả năng chi trả.
2.2.2.2. Hạn chế phí bảo hiểm
Thông thường, khi dịch vụ nhận bảo hiểm có nguy cơ xảy ra rủi ro cao hay
giá trị bảo hiểm rất lớn, các công ty bảo hiểm sẽ có xu hướng tăng rất cao phí bảo
hiểm. Tuy nhiên, tái bảo hiểm sẽ giúp hạn chế sự gia tăng này thông qua việc rủi ro
của nhà bảo hiểm gốc được san sẻ với người nhận tái bảo hiểm.

nước. Vì vậy, một thiệt hại có tính thảm họa ở một nước, qua tái bảo hiểm sẽ được
bù đắp từ những khoản tiền bồi thường mang tính quốc tế. Tổn thất được phân tán
trên một phạm vi rộng, việc gánh chịu trở nên dễ dàng hơn.
2.3. Đặc điểm của tái bảo hiểm hàng hóa
Tương tự như các nghiệp vụ tái bảo hiểm khác, tái bảo hiểm hàng hóa có
những đặc điểm sau đây:
- Tái bảo hiểm được hình thành trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm gốc và do đó
luôn gắn liền với nghiệp vụ bảo hiểm gốc. Do đó, hợp đồng tái bảo hiểm và hợp


14
đồng bảo hiểm phải tồn tại song song. Nếu không có hợp đồng bảo hiểm gốc, không
thể có hợp đồng tái bảo hiểm.
- Hợp đồng tái bảo hiểm không phải là một phần của hợp đồng được ký kết
giữa người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm gốc. Hợp đồng tái bảo hiểm chỉ là
một hợp đồng giữa công ty bảo hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm. Trên thực tế,
phần lớn người được bảo hiểm không biết về hợp đồng tái bảo hiểm đang tồn tại.
Trong trường hợp công ty nhận tái bảo hiểm bị phá sản thì công ty nhượng tái vẫn
phải có trách nhiệm đối với toàn bộ số tiền bảo hiểm ghi trên đơn bảo hiểm. Tuy
nhiên, nếu công ty nhượng tái bị phá sản thì người trong hợp đồng bảo hiểm gốc
không có quyền khiếu nại đối với công ty nhận tái bảo hiểm.
- Hợp đồng tái bảo hiểm cũng mang đầy đủ tính chất như một hợp đồng bảo
hiểm.
- Mọi nguyên tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm cũng đều được áp
dụng tương tự cho hợp đồng tái bảo hiểm giữa công ty nhượng tái bảo hiểm và công
ty nhận tái bảo hiểm:
+ Bảo hiểm một rủi ro chứ không phải bảo hiểm một sự chắc chắn
(fortuity not certainty): Công ty nhận tái chỉ nhận bảo hiểm cho một rủi ro xảy ra
bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra,
đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại cho những rủi ro mất

bảo hiểm.
2.4. Các hình thức tái bảo hiểm hàng hóa
2.4.1. Tái bảo hiểm tạm thời
2.4.1.1. Khái niệm
Tái bảo hiểm tạm thời hay còn được gọi là Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn
(Facultative Reinsurance), là hình thức tái bảo hiểm mà theo đó, công ty bảo hiểm
gốc chuyển nhượng cho công ty tái bảo hiểm từng dịch vụ hay từng đơn bảo hiểm
một cách riêng lẻ.
Công ty nhượng thông báo tái cho công ty tái bảo hiểm một dịch vụ mà họ
cần tái bảo hiểm dưới một hình thức đề nghị, trong đó ghi rõ các đặc điểm chính
của rủi ro được tái bảo hiểm như: Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm, tính chất


16
của rủi ro được bảo hiểm, ngày bắt đầu và ngày chấm dứt, số tiền bảo hiểm, phí bảo
hiểm, phần giữ lại của công ty nhượng, thủ tục và phí tái bảo hiểm,…
Sau khi nhận được đề nghị, bên tái bảo hiểm có quyền lựa chọn nhận toàn bộ
hoặc một phần tỷ lệ nào đó hoặc một số tiền cố định trên cơ sở rủi ro đề nghị. Chỉ
khi được thông báo chấp nhận, dịch vụ tái bảo hiểm này mới có hiệu lực và tự động
chấm dứt khi đến ngày hết hạn nếu không có bổ sung gì thêm.
2.4.1.2. Tính chất
a. Ưu điểm
- Tăng khả năng nhận bảo hiểm
Hình thức tái bảo hiểm tạm thời cho phép các công ty bảo hiểm nhỏ, với
kinh nghiệm cũng như nguồn lực tài chính hạn chế, có thể cạnh tranh để nhận
những nghiệp vụ lớn nằm ngoài khả năng của mình. Các công ty này có thể tận
dụng chuyên môn, kinh nghiệm cũng như khả năng vốn của các công ty tái bảo
hiểm quốc tế để thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, hình thức này còn cho phép công ty
bảo hiểm gốc nhận những dịch vụ nằm ngoài phạm vi khai thác thông thường của
mình, thường là tuân theo các yêu cầu đặc biệt của khách hàng.

bộ rủi ro đó.
2.4.2.2. Tính chất
Nghiệp vụ tái bảo hiểm cố định đã làm giảm bớt những khó khăn về mặt thời
gian cũng như chi phí của hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời cho nên ngày càng được
sử dụng phổ biến hơn. Hình thức này có những ưu và nhược điểm như sau:
a. Ưu điểm
- Công ty bảo hiểm gốc nhanh chóng nhận bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm
gốc
Công ty bảo hiểm gốc không cần phải tham khảo ý kiến của nhà tái bảo hiểm
mà có quyền tự do chấp nhận giá phí bảo hiểm cho những rủi ro do người được bảo
hiểm yêu cầu, do đó rút ngắn đáng kể thời gian tiếp nhận yêu cầu dịch vụ từ phía
khách hàng.


18
- Các bên tham gia hoạt động tái bảo hiểm ràng buộc với nhau chặt chẽ và
mật thiết hơn
Trong mọi quyết định, công ty nhượng tái phải quan tâm đến quyền lợi của
cả chính mình lẫn của bên tái bảo hiểm. Họ có thể đơn phương thanh toán các tổn
thất có liên quan đến những rủi ro được bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi chung của
công ty bảo hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm.
Công ty tái bảo hiểm, ngược lại, phải chấp nhận chia sẻ may rủi với công ty
nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán những tổn thất thuộc phạm vi thỏa thuận. Tuy
nhiên, họ sẽ không bị ràng buộc bởi những sơ suất của công ty nhượng tái ảnh
hưởng đến quyền lợi của họ.
- Công ty tái bảo hiểm có điều kiện thu được số phí lớn nhất
So với hình thức tái bảo hiểm tạm thời, công ty tái bảo hiểm có thể thu được
số phí bảo hiểm lớn hơn nhiều, đồng thời thực hiện tốt vai trò kinh tế của mình
trong việc đẩy mạnh những tiến bộ kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp
thuận những rủi ro và các dạng bảo hiểm mới.

buộc, thường được các công ty nhượng tái sử dụng mỗi khi rủi ro cần tái bảo hiểm
trong một ngành kinh tế lớn đến một mức độ nào đó.
2.4.3.2. Tính chất
a. Ưu điểm
- Công ty bảo hiểm gốc chủ động trong nhượng tái bảo hiểm
Bởi vì công ty bảo hiểm gốc không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch
vụ mà mình nhận bảo hiểm nên họ có thể lựa chọn dịch vụ để nhượng tái. Công ty
cũng có thể lựa chọn chào tái một phần chứ không nhất thiết là toàn bộ phần trách
nhiệm vượt quá khả năng giữ lại của mình cho một hay nhiều công ty nhận tái thích
hợp. Trong nhiều trường hợp, công ty nhượng tái có thể giữ lại những phần rủi ro
được đánh giá là tốt hơn và nhượng phần rủi ro kém an toàn hơn.
- Người nhận tái bảo hiểm có thể thu được nguồn phí tái bảo hiểm lớn


20
So với hình thức tái bảo hiểm tạm thời, công ty nhận tái trong trường hợp
hợp đồng được ký theo hình thức tái bảo hiểm lựa chọn – bắt buộc sẽ nhận được
nguồn phí bảo hiểm lớn hơn và có phần cân bằng hơn.
b. Nhược điểm
- Có thể gây tốn kém cho bên nhượng tái
Trong trường hợp có nhiều đơn vị rủi ro cần đem tái bảo hiểm, chi phí hành
chính cho qui trình này có thể gây ra nhiều tốn kém cho các công ty nhượng tái.
- Bất lợi cho công ty nhận tái bảo hiểm
Nhà tái bảo hiểm có thể gặp bất lợi khi họ phải chấp thuận tất cả những rủi ro
do công ty bảo hiểm gốc nhượng lại. Tuy những rủi ro này phải phù hợp với nội
dung và điều khoản đã qui ước, nhưng bên nhượng tái vẫn có thể lợi dụng quyền
lựa chọn của mình để đưa những rủi ro dễ xảy ra tổn thất lớn vào hợp đồng nhượng
tái và giữ lại những rủi ro có độ an toàn cao hơn. Điều này sẽ gây ra tổn thất lớn cho
nhà tái bảo hiểm, do đó bên nhận tái bảo hiểm cần phải nắm được ý đồ của các công
ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro được công ty nhượng đem đi tái bảo hiểm và theo

Bảng 1.1: Ví dụ về phương pháp tái bảo hiểm theo số thành
Đơn vị: USD
Rủi
ro
(1)
(2)
(3)

Số tiền
bảo hiểm
500.000
1.000.000
700.000

Mức
giữ lại
150.000
180.000
180.000

Mức nhượng tái
Tái bảo hiểm A Tái bảo hiểm B
100.000
250.000
120.000
300.000
120.000
300.000

Mức dư

+ Số tiền bảo hiểm được phân chia theo tỷ lệ giữa các bên nên thường
không hạn chế được trách nhiệm đối với các tổn thất bằng số tiền tuyệt đối, do đó
không làm giảm bớt rủi ro cho phần trách nhiệm giữ lại của công ty nhượng tái.
- Áp dụng:
+ Khi muốn đơn giản hóa công việc theo dõi;
+ Khi thực hiện các nghiệp vụ có số tiền bảo hiểm lớn và tương đối
đồng nhất;
+ Công ty nhượng tái chưa có kinh nghiệm hoặc thiếu tư liệu để thống
kê, phân tích đối với một nghiệp vụ mới nên cần tới sự chia sẻ rủi ro cùng các nhà
tái bảo hiểm có kinh nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ cao;


23
+ Công ty nhượng tái có ý định thu xếp tái bảo hiểm dưới hình thức
trao đổi dịch vụ lẫn nhau giữa các công ty bảo hiểm, hoặc giữa tập đoàn bảo hiểm
lớn và công ty con;
+ Trong các hợp đồng về rủi ro thiên tai, các công ty nhượng tái muốn
sử dụng nghiệp vụ này để giảm nhẹ nguy cơ tổn thất lớn;
+ Các nghiệp vụ mà phạm vi tác động và qui mô tổn thất không chắc
chắn.
b. Phương pháp tái bảo hiểm mức dôi
Tái bảo hiểm mức dôi (Surplus insurance) là cách thức tái bảo hiểm một tỷ lệ
cố định của mọi tổn thất, theo đó công ty bảo hiểm gốc quyết định mỗi rủi ro công
ty giữ lại là bao nhiêu.
Công ty bảo hiểm gốc thường sẽ phải tính toán khả năng tổn thất tối đa có
thể xảy ra thông qua việc xem xét tất cả các nguy cơ có liên quan đến rủi ro. Sau đó,
công ty sẽ chỉ đem tái bảo hiểm những đơn vị rủi ro có giá trị vượt quá khả năng
giữ lại đã ấn định. Mức tái bảo hiểm chỉ là phần chênh lệch giữa giá trị rủi ro đó và
mức giữ lại của công ty bảo hiểm gốc.
Mức độ chuyển tái bảo hiểm trong một hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi được

xác định chính xác mức giữ lại;
+ Có thể có sự mất cân đối về tỷ lệ nhận tái bảo hiểm, gây khó khăn
cho bên nhận tái vì trong nhiều trường hợp, tỷ lệ trách nhiệm và số phí thu của công
ty nhận tái rất lớn so với công ty nhượng;
+ Không khống chế được chi phí bồi thường tổn thất, đặc biệt trong
trường hợp tổn thất chủ yếu rơi vào những rủi ro có số tiền bảo hiểm thấp;
- Áp dụng:
Hợp đồng mức dôi được các công ty bảo hiểm gốc sử dụng một cách phổ
biến hơn để bảo vệ các nghiệp vụ chính của mình, hơn là sử dụng hợp đồng số
thành và thường áp dụng khi khối lượng dịch vụ bao gồm những rủi ro có giá trị
bảo hiểm chênh lệch lớn.


25
c. Tái bảo hiểm kết hợp số thành – mức dôi
Phương pháp kết hợp này có thể phát huy ưu điểm của mỗi loại cũng như
hạn chế những nhược điểm của mỗi phương pháp số thành hoặc mức dôi.
Thông thường, người ta thường tái bảo hiểm số thành trước, tái hợp đồng
mức dôi là hợp đồng bổ sung cho cùng công ty nhận tái bảo hiểm.
Ví dụ về một hợp đồng tái bảo hiểm kết hợp số thành - mức dôi như sau:
- Số thành: Hạn mức trách nhiệm là 1.000.000 USD, giữ lại 30%, tái đi
70%;
- Mức dôi: Hạn mức trách nhiệm là 10 lines;
- Có 3 đơn vị rủi ro: (1), (2), (3) với số tiền bảo hiểm thể hiện như trong
bảng.
Trách nhiệm của các công ty về số tiền bảo hiểm như sau:
Bảng 1.2: Ví dụ về phương pháp tái bảo hiểm kết hợp số thành - mức dôi
Đơn vị: USD
Rủi ro
(1)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status