Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm cho lao động nông thôn luôn là vấn đề bức xúc có tính toàn cầu,
là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng
trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều khởi sắc, thu
nhập quốc dân hàng năm tăng lên đáng kể, đời sống nhân dân không ngừng
được cải thiện, an ninh được đảm bảo, chính trị tương đối ổn định, cùng với
những mặt tốt đó thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm lại diễn ra trên
phạm vi rộng và có xu hướng ngày càng tăng.
Hiểu rõ tầm quan trọng của việc giải quyết việc làm đối với lao động nông
thôn. Nghị quyết Đại Hội Đảng lần IX đã khẳng định “ Giải quyết việc làm là
yếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, ổn định và phát triển kinh tế,
làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc
của nhân dân”. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm giải
quyết việc làm nhưng đến nay tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở khu vực
nông thôn nước ta đang diễn ra gay gắt. Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh
tế - xã hội tất yếu dẫn đến việc đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, nhiều khu công
nghiệp, khu kinh tế ra đời dẫn đến đất đai bị chuyển đổi mục đích sử dụng,
hầu hết đất bị thu hồi là đất nông nghiệp của các hộ dân, từ đó là nảy sinh một
số vấn đề xã hội như: việc làm, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường...
Hải Yến là xã ven biển nằm ở phía nam của huyện Tĩnh Gia, giáp với nhà
máy xi măng Nghi Sơn. Là một trong số xã hiện đang diễn ra quá trình
chuyển đổi mục đích sử dụng ruộng đất trên quy mô rộng lớn. Hầu hết diện
tích đất nông nghiệp của xã được thu hồi để xây dựng khu liên hiệp hoá lọc
dầu Nghi Sơn, thuộc kinh tế Nghi Sơn. Nhiều hộ nông dân sau khi đất bị thu
hồi đã chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang hoạt động kinh doanh dịch vụbuôn bán. Bên cạnh đó, việc xây dựng khu kinh tế cũng tạo ra những khó
1
thu nhập cho lao động nông thôn ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh
Hoá.
2
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
-Tình hình mất đất sản xuất của các hộ nông dân xã Hải Yến.
- Việc làm của lao động nông thôn trong độ tuổi lao động sau khi bị thu
hồi đất xây dựng Khu liên hợp LHD Nghi Sơn ở xã Hải Yến huyện Tĩnh Gia
tỉnh Thanh Hoá.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Hải Yến
huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá.
-Phạm vi thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu số liệu trước và sau khi diễn ra
quá trình thu hồi đất (số liệu từ năm 2005 đến năm 2009)
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ 23/01/2010 đến 23/05/2010.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng lao động, việc làm của các
hộ nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu Liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn.
Phương hướng giải quyết việc làm để ổn định và nâng cao mức sống của
người dân bị thu hồi đất tại xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.
3
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
4
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
trả công nhưng vẫn có thu nhập (giới chủ làm kinh tế gia đình…). Những người
đang làm việc trong lực lượng vũ trang cũng được coi là có việc làm. Vì vậy,
việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu
nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật). Những người có việc làm là những người
làm một việc gì đó có được trả công, lợi nhuận, được thanh toán bằng tiền hoặc
hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi
ích hay vì thu nhập của gia đình, không được nhận tiền công (hiện vật). Khái
niệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 (ILO.1993) và
đã được áp dụng ở nhiều nước.
Ở nước ta trong thời kì bao cấp. Nhà nước đã đứng ra giải quyết việc làm,
trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ theo chỉ tiêu pháp
lệnh đến việc sử dụng và đãi ngộ đối với người lao động. Trong giai đoạn ấy,
những khái niệm thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc làm không đầy đủ… hầu
như không được biết đến. Còn khái niệm thất nghiệp dưới bất kì hình thức nào
cũng bị coi là điều cấm kỵ. Trong nền kinh tế quốc dân, xu hướng quốc doanh
hoá được coi là một điều tất yếu. Hướng phấn đấu của mọi cơ sở sản xuất là
chuyển nhanh vào khu vực quốc doanh để mang nhãn hiệu là “ thành phần kinh
tế XHCN”. Còn đối với mỗi công dân là đứng vào đội ngũ viên chức của Nhà
nước. Do đó việc làm và người có việc làm được xã hội thừa nhận và trân trọng
là những người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà
nước và kinh tế tập thể.
Khi chuyển sang nền kinh tế hành hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thì những quan điểm đó không còn
phù hợp nữa. Quan điểm về việc làm cần được hiểu là “ Hoạt động lao động
không bị pháp luật ngăn cấm tạo ra thu nhập hoặc tạo điều kiện cho các thành
Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư
liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người.
Như vậy, khái niệm việc làm có thể hiểu là hoạt động lao động của con
người nhằm mục đích tạo ra thu nhập và hoạt động này không bị pháp luật
ngăn cấm.
6
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
2.1.1.2 Các hình thức việc làm:
Những hoạt động việc làm biểu hiện dưới các hình thức:
- Làm những công việc được trả công lao động dưới dạng bằng tiền hoặc
hiện vật hoặc đổi công.
- Các công việc tự làm (tự sản xuất, kinh doanh) để thu lợi nhuận.
- Làm các công việc sản xuất, kinh doanh cho gia đình mình không nhận
tiền công hay lợi nhuận.
Ngoài ra, các hình thức việc làm còn thường được xem xét theo các góc
độ sau đây:
- Tính chất địa lý của việc làm: Việc làm khu vực nông thôn, thành thị,
vùng kinh tế (vùng lãnh thổ, vùng kinh tế trọng điểm).
- Tính chất kỹ thuật của việc làm: Từ tính chất đặc thù về kỹ thuật và
công nghệ của việc làm có thể phân biệt việc làm theo ngành, nghề khác nhau
(việc làm ngành nghề cơ khí, dệt, may, chế biến thực phẩm…).
- Tính chất thành thạo của việc làm: việc làm giản đơn (phổ thông), việc
làm có chuyên môn, kỹ thuật (việc làm đòi hỏi có kiến thức, kỹ năng), việc làm
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao.
- Tính chất kinh tế của việc làm: Vị trí của việc làm trong hệ thống quản
lý lao động như: việc làm quản lý, công nhân, nhân viên…
- Việc làm chính và việc làm phụ: căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc
mức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó .
Trong đề tài, việc làm chính của lao động trong hộ là việc làm có số
ngày công trung bình thực hiện trong một tháng là lớn nhất.
2.1.1.4 Thiếu việc làm:
Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình, là
những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn.
Thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng là người lao động không có
đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc làm những
việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm
để có thu nhập.
8
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
2.1.1.5 Thất nghiệp:
Về khái niệm thất nghiệp chúng tôi thống nhất với quan điểm của ILO:
"Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một người trong lực lượng lao động
muốn tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành"
Như vậy người thất nghiệp là người mang 3 đặc trưng cơ bản: có khả
năng lao động,có nhu cầu làm việc và chưa tìm được việc làm.
* Người không có nhu cầu làm việc:
Những người không thuộc lực lượng lao động bao gồm các đối tượng từ
đủ 15-60 tuổi đang đi học, làm nội trợ, không có nhu cầu làm việc, những
người mất khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật.
2.1.1.6 Người có việc làm, người thiếu việc làm và người thất nghiệp:
* Người có việc làm:
- Ở nước ta trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá
nhuận hoặc đang tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ cho gia
đình mình không nhận tiền công hay lợi nhuận.
Từ khái niệm về việc làm và người có việc làm đã thống nhất trên đây,
dựa vào hình thức biểu hiện của việc làm chúng tôi đưa ra khái niệm về các
loại lao động theo hình thức làm việc như sau:
- Lao động làm công ăn lương: Lao động làm công hưởng lương là lao
động làm các công việc cho người khác hoặc cho tổ chức, cơ quan, đoàn thể,
doanh nghiệp, v.v… để được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
- Lao động tự làm là việc lao động thực hiện các công việc tự tạo ra (có
thể tạo việc làm cho cả người khác), tự hạch toán để thu lợi cho bản thân và
gia đình.
- Lao động làm kinh tế hộ là lao động làm cho cơ sở sản xuất kinh
doanh của hộ gia đình mình nhưng không hưởng tiền lương, tiền công.
Trong đề tài chúng tôi quan niệm tất cả những người đang làm việc trong
lĩnh vực nông nghiệp trong hộ thuộc hình thức lao động làm kinh tế hộ.
* Người thiếu việc làm:
Theo giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” của Trường Đại học Kinh tế
quốc dân Hà Nội: Người thiếu việc làm bao gồm những người trong khoảng
thời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy
10
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
định trong tuần, trong tháng, hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc
là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, trong
tháng, trong năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thu
nhập.
Theo hướng dẫn điều tra lao động việc làm của Bộ Lao Động – Thương
Lao động nông thôn là lao động sản xuất trong khu vực nông thôn
nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
2.1.2.2 Đặc điểm của lao động nông thôn
Lao động nông thôn mang tính thời vụ: Vì sản xuất nông nghiệp luôn
chịu tác động của tự nhiên, cho nên có thời kỳ cần nhiều lao động nhưng có
thời kỳ lại cần ít lao động. Do đó, khả năng thu hút lao động trong nông
nghiệp, nông thôn là không đều, khác nhau trong từng giai đoạn sản xuất.
Lao động nông thôn ít chuyên sâu, trình độ thấp hơn so với trong công
nhiệp, trong sản xuất nông nghiệp có nhiều loại công việc, mang tính chất
khác nhau, một lao động có thể làm nhiều việc và nhiều lao động cũng có thể
làm được một việc. Chính vì vậy mà lao động nông nghiệp ít chuyên sâu hơn
lao động công nghiệp. Hơn nữa phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ
thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu bằng kinh nghiệm là chính, nguồn lao
động chất xám không nhiều và phân bố không đều.
Lao động nông thôn có việc làm không ổn định và đa dạng, hoạt động
sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn lại phần lớn
phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, bởi vậy mà tính rủi ro trong nông nghiệp rất
cao. Do vậy, công việc của lao động nông thôn thường không ổn định và rất
bấp bênh.
Thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hơn so với lao động trong các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Năng suất lao động của khu vực sản xuất nông
nghiệp thấp, tình trạng gia tăng dân số, tình trạng thu hẹp diện tích đất sản
xuất nông nghiệp....
2.1.2.3 Vai trò của lao động nông thôn
Lao động là yếu tố quyết định mọi quá trình sản xuất. Trong quá trình
lao động, con người tiếp xúc với tự nhiên, có công cụ sản xuất và nắm được
12
13
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
mục đích sử dụng đất vào làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp (công
nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại).
- Cạnh tranh trên thị trường lao động có tác động kích thích lao động
mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử đất tích cực tham gia đào tạo,
nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao
động và nâng cao thu nhập.
Như vậy, vai trò của thị trường lao động có tác động lớn đối với việc
chuyển đổi nghề cho lao động mất việc làm tại các vùng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất. Do đó, thực hiện các giải pháp thúc đẩy sự phát triển hoạt động
lành mạnh của thị trường lao động các địa phương, thị trường lao động vùng
là nhân tố quan trọng để hỗ trợ cho việc chuyển đổi việc làm cho lao động bị
mất việc làm trong quá trình đô thị hoá.
* Trình độ học vấn:
Trình độ học vấn của người lao động trong các hộ gia đình bị thu hồi
đất có mối liên hệ với khả năng đào tạo chuyển đổi nghề, tìm việc làm mới, tự
tạo việc làm mới và nâng cao thu nhập sau khi bị mất việc làm do chuyển đổi
mục đích sử dụng đất. Trình độ học vấn của người lao động càng cao thì khả
năng tham gia đào tạo CMKT, chuyển đổi nghề, tạo việc làm mới, tìm việc
làm mới và nâng cao thu nhập cũng càng cao.
Để thống kê được tỷ lệ người lao động đã tìm được việc làm hay chưa
tìm được việc làm sau khi đất nông nghiệp bị thu hồi, Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội đã thực hiện cuộc điều tra với 2.249 hộ thuộc diện bị thu hồi
đất tại 15 tỉnh thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam và thu được kết quả như sau:
25,7
1356
74,3
1170
26,2
3288
73,8
950
32,8
1944
67,2
Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2005
Nhìn chung, trên cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn thì khả năng
tìm được việc làm tăng lên theo trình độ học vấn, một tỷ lệ 50% số lao động
chưa biết đọc, biết viết không tìm được việc làm khi không còn đất sản xuất,
trong khi ở các cấp trình độ học vấn khác tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều (2532%).
Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, % tăng thêm thu nhập đối
với mỗi năm đi học đạt được cao hơn ở những người có trình độ học vấn cao,
cụ thể đối với cấp nghiệp tiểu học mỗi năm đi học có thể tăng thêm mức tiền
lương 0,77% ở lao động nam và 0,32% ở lao động nữ, trong khi con số này
đối với phổ thông trung học là 3,97% và 2,79%. Thu nhập là kết quả của việc
làm, do đó lao động có thu nhập cũng đồng nghĩa với có cơ hội việc làm cao
hơn, khả năng tìm được việc làm trên thị trường lao động lớn hơn so với lao
động trình độ học vấn thấp.
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với địa phương vùng chuyển đổi mục
đích sử dụng đất là thực hiện các biện pháp đảm bảo không ngừng nâng cao
trình độ văn hoá cho dân cư và người lao động, phải coi đây là hướng mở căn
bản, quan trọng để hỗ trợ cho việc chuyển đổi việc làm cho lao động mất việc
làm do Nhà nước thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng.
nghiệp bị xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng ô nhiễm môi trường đặc biệt là
môi trường nước và môi trường không khí diễn ra tại các khu công nghiệp
đang trong tình trạng báo động làm ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ người
dân.
16
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn sau khi bị thu hồi đất.
Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở các nước rất
phong phú. Tuỳ theo điều kiện và đặc thù của mỗi quốc gia mà đưa ra những
biện pháp, chính sách giải quyết việc làm khác nhau và đương nhiên những
kinh nghiệm bài học rút ra của mỗi nước tuy không thể máy móc áp dụng,
nhưng lại là những kinh nghiệm tham khảo rất bổ ích trong quá trình xây
dựng chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở nước ta. Dưới
đây tôi xin đề cập tới kinh nghiệm của một số nước và vùng lãnh thổ:
2.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ dân nhưng
gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới trên 10 triệu
lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải
quyết việc làm trở nên rất gay gắt.
Mười mấy năm qua, ruộng đất Trung Quốc đã giảm gần 150 triệu mẫu
Trung Quốc (TQ). Mỗi mẫu TQ bằng 1/15 héc ta, tức khoảng 660 mét
vuông. Bộ Nông nghiệp Trung Quốc dự tính, cứ mất đi 2 mẫu TQ sẽ có nghĩa
là 1 nông dân TQ không có ruộng đất, vì ruộng đất canh tác tính trung bình
theo đầu người của TQ chỉ có khoảng 1,4 mẫu TQ. Do vậy, mất gần 150 triệu
có sự cải thiện khá rõ.
Nhưng từ năm 1984, khi Trung Quốc tiến hành cải cách ở thành phố thì
hầu như trong suốt 14 năm sau đó (từ 1984-1998), “người ta” đã bỏ quên
nông dân (chữ dùng của một nhà nghiên cứu Trung Quốc). Phải tới đầu thế kỷ
này, khi những cuộc đấu tranh tự phát và có tổ chức của nông dân ngày một
tăng lên (do mất ruộng đất, do nghèo đói, do con em thất học, do không có
tiền chữa bệnh…), khi số nông dân vào thành phố làm thuê lên tới mức trên
150 triệu người (có số liệu nói 200 triệu người) cộng thêm sự đồng tình đấu
tranh của những người Trung Quốc có tấm lòng, vấn đề “tam nông” (nông
nghiệp, nông thôn, nông dân) mới dần dần được coi trọng. Một số chính sách
đã được triển khai và mang lại kết quả đáng kể.
18
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
Cụ thể là, Trung Quốc đã xoá bỏ thuế nông nghiệp, chấm dứt lịch sử
người nông dân làm ruộng mà phải nộp thuế. Sản lượng lương thực tăng liên
tục trong 4 năm liền, năm 2007 đạt trên 500 triệu tấn. Với việc xoá bỏ thuế
nông nghiệp (gồm cả thuế chăn nuôi, thuế đặc sản) mỗi năm đã giảm nhẹ
gánh nặng cho nông dân 133,5 tỷ NDT.
Trung Quốc cũng đã toàn diện thực hiện giáo dục nghĩa vụ (9 năm)
miễn phí (tức không phải nộp học phí và không phải mua sách giáo khoa.
Những gia đình khó khăn còn được trợ cấp sinh hoạt phí toàn phần hoặc một
phần (150 triệu học sinh). Cơ bản giải quyết được nạn tráng niên bị mù chữ
tại miền Tây.
Trung Quốc đã bước đầu thành lập được hệ thống y tế công và hệ thống
dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản khắp nông thôn. Cải tạo và xây dựng mới
188.000 trạm y tế hương, trấn, trang bị thêm thiết bị y tế cho 117.000 trạm y
nhà nước” về vốn đầu tư, về cơ chế chính sách cho nông nghiệp và nông thôn.
Chính quyền không hề bỏ rơi nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá
mà luôn dành ưu đãi về tài chính: 2/3 viện trợ từ Mỹ được dành cho phát triển
cơ sở hạ tầng và nông nghiệp, chỉ 1/5 cho công nghiệp. Khi nông nghiệp phát
triển, lao động dư thừa trong khu vực nông thôn mới chuyển sang các ngành
công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động và sau cùng mới là công nghiệp nặng. Đó
là quá trình giải quyết lao động ở nông thôn Đài Loan.
2.2.2 Thực trạng thu hồi đất phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp, khu
kinh tế ở Việt Nam
Trong quá trình thực hiện CNH – HĐH, việc chuyển đổi mục đích sử
dụng đất để triển khai các dự án lớn của nền kinh tế diễn ra mang tính quy
luật. Việc chuyển đổi đất đai ở nước ta đã góp phần phát triển mạnh mẽ nền
kinh tế-xã hội và bảo đảm tiềm lực an ninh quốc phòng của đất nước.
Trong những năm qua, chúng ta đã thực hiện tốt công tác quy hoạch, sử
dụng đất đai. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về quản lý đất đai trong
nông, lâm, ngư nghiệp và doanh nghiệp ở nông thôn theo quy định của pháp
luật.
Tính đến thời điểm này cả nước đã xây dựng được 143 khu công nghiệp,
thu hút được hàng trăm dự án với quy mô vốn đầu tư rất cao. Một số thành
20
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
phố lớn được nâng cấp và mở rộng ra thành thành phố lớn, hình thành một hệ
thống các đô thị trung tâm, từng bước thực hiện tốt mục tiêu chiến lược phát
triển đô thị Việt Nam. Khi kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc giải
quyết việc làm, cũng như thu hút hàng triệu lao động trong và ngoài nước với
mức lương tương đối ổn định. Lượng lao động làm việc trong các khu công
Những năm qua, Chính phủ đã dành nhiều chính sách ưu tiên giải quyết
việc làm cho người dân có đất bị thu hồi, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu. Trong
hai năm 2006 và 2007, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đã dành
22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc làm cho gần 10 nghìn lao động bị
thu hồi đất. Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động cũng là kênh quan trọng cho
người dân có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, hiệu quả của những biện pháp nêu
trên vẫn còn thấp do việc thu hồi đất ở nhiều địa phương chưa gắn với quy
hoạch tái định cư, thiếu kế hoạch cụ thể về hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho
người lao động. Hầu hết nông dân đều bị động khi phải chuyển đổi mục đích
đất sản xuất, trong khi đó khả năng thu hút lao động vào các khu công nghiệp
còn thấp, chưa đến 35% tổng số lao động bị thu hồi đất. Đó là chưa kể lượng
lớn lao động không đáp ứng yêu cầu về tay nghề, chỉ có 27,23% lao động bị
thu hồi đất tốt nghiệp trung học phổ thông và 14% lao động được đào tạo
chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp hoặc học nghề trở lên
Một số chính sách và biện pháp của Chính phủ về vấn đề đất đai, giải
pháp giải quyết việc làm đối với những hộ nông dân không còn đất nông
nghiệp:
1) Việc giao đất không chỉ ưu tiên cho người có hộ khẩu trong vùng,
khu vực và địa phương, mà còn cho các đối tượng nghèo không có ruộng
trong cả nước với những biện pháp quản lý chặt chẽ về mặt pháp lý. Đối với
vùng đất rừng, đồi núi, tiện đường giao thông, có kết cấu hạ tầng tương đối tốt
thì giao cho hộ nông dân chưa có ruộng đất. Hội nông dân các cấp tiếp cận và
vận động hội viên, nông dân nâng cao nhận thức và thi hành luật pháp nói
chung và luật đất đai nói riêng.
2) Đảng và Nhà nước đang quy hoạch để sử dụng đất có hiệu quả,
nâng cao độ phì của đất. Quy hoạch khu công nghiệp vào đất bồi, đất bãi đầm
22
23
Nguyễn Thị Hằng KTNNB-K51
Hàng vạn hecta đất nông nghiệp đã được thu hồi để sử dụng vào mục
đích chuyên dùng như xây dựng các khu công nghiệp, kinh tế, đô thị, xây
dựng các công trình cơ sở hạ tầng công cộng…Thực tế cho thấy, bên cạnh
những mặt đã làm được thì vấn đề bố trí đời sống, việc làm ổn định cho các
hộ nông dân bị thu hồi đất đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Theo Bộ
Nông nghiệp và PTNT, trung bình mỗi hộ nông dân có 1,5 lao động và mỗi
hecta đất thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của 10 lao động. Như vậy, việc thu
hồi đất nông nghiệp và đất ở trong 5 năm qua đã tác động tới đời sống của
khoảng 2,5 triệu nông dân. Trong đó, vùng Đồng Bằng sông Hồng có số hộ bị
ảnh hưởng đất lớn nhất, với khoảng 300.000 hộ; Đông Nam Bộ với khoảng
108.000 hộ. Tại một số vùng ven đô của Đồng bằng sông Hồng, trước khi thu
hồi đất chỉ có 10% lao động đi làm thuê thì sau khi thu hồi đất tỷ lệ này là
17%.
Sau đây là một số mô hình chuyển đổi việc làm cho lao động sau khi
thu hồi đất ở một số địa phương trong cả nước:
* Mô hình ở huyện Thạch Thất – Hà Tây:
Là huyện có nhiều dự án lớn của Trung ương, của tỉnh trên địa bàn nên
có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn. Những năm gần đây, việc chuyển
đổi cơ cấu kinh tế từ nông thôn sang phát triển công nghiệp-dịch vụ ở Thạch
Thất rất mạnh, làm cho số hộ bị thu hồi đất tăng lên. Tập trung giải quyết việc
làm cho người bị thu hồi đất để đẩy nhanh công tác GPMB, phát triển công
nghiệp là hướng đi của huyện trong thời gian qua với những mô hình hay và
hiệu quả. Từ năm 2005 đến nay, mỗi năm Bình Yên (xã có phần diện tích đất
nông nghiệp bị thu hồi lớn của huyện Thạch Thất) đều trích ngân sách từ 100200 triệu đồng, tổ chức từ 3-4 lớp dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người
lao động. Đặc biệt, chuẩn bị nguồn lao động cho Nhà máy Bình Yên (đang
lao động cho DN, vừa giải quyết được việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất, giúp họ ổn định cuộc sống. Tuy nhiên nó đòi hỏi phải có sự chỉ đạo đồng bộ
từ huyện đến cơ sở bởi các lớp dạy nghề cần phải có kinh phí thoả đáng mới
thành công. Xác định rõ điều đó, huyện Thạch Thất đã chỉ đạo ưu tiên hỗ trợ từ
nguồn kinh phí khuyến công của tỉnh và huyện cho các địa phương bị thu hồi
nhiều đất và làm tốt công tác này để tránh việc cào bằng, sử dụng kinh phí kém
25