Mục Lục
Mục Lục.................................................................................................................1
3. Đề xuất pháp lý của nhóm để khắc phục những mặt còn hạn chế........13
Bảng từ viết tắt
HĐND: Hội đồng nhân dân
KBNN:
Kho bạc nhà nước
KH&NS: Kế hoạch và ngân sách
UBND:
Ủy ban nhân dân
UBNS:
Ủy ban ngân sách
NSNN:
Ngân sách nhà nước
1
A. MỞ ĐẦU
HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương giữ vai trò quan
trọng trong việc tổ chức, thực thi và quyết định ngân sách nhà nước. Trong quá
trình thực hiện quyền hạn của mình, HĐND các cấp đã đạt được những thành
tựu nhất định, bên cạnh đó còn tồn tại những hạn chế. Để là rõ hơn vấn đề này,
nhóm xin nghiên cứu đề tài: “Thực thi quyền hạn của hội đồng nhân dân các
cấp trong lĩnh vực ngân sách nhà nước năm 2013 và đề xuất pháp lý của nhóm
nghiên cứu". Với đề tài này, nhóm hi vọng sẽ làm rõ hơn các vấn đề về quyền
hạn của HĐND các cấp trong lĩnh vực ngân sách nhà nước cũng như đưa ra
những giải pháp phù hợp để làm rõ hơn các vấn đề lý luận về NSNN cũng như
thực tiễn áp dụng.
B. NỘI DUNG
Nội dung quyền hạn
Theo Điều 25, Luật năm 2002, Hội đồng nhân dân các cấp, Căn cứ vào
nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa
phương, quyết định việc: Dự toán thu trên địa bàn, bao gồm thu nội địa, thu từ
hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại;Dự toán thu ngân
sách địa phương, bao gồm các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%,
phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ
phần trăm (%), thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;Dự toán chi ngân sách địa
phương, bao gồm chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới,
chi tiết theo các lĩnh vực chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi
bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát triển và
chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ. (khoản 1).
HĐND các cấp quyết định việc phân bổ dự toán ngân sách cấp mình theo:
Tổng số và mức chi từng lĩnh vực;Dự toán chi ngân sách của từng cơ quan, đơn
vị thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực; vàMức bổ sung cho ngân sách từng địa
phương cấp dưới, gồm bổ sung cân đối, bổ sung có mục tiêu (khoản 2).Ngoài ra,
HĐND các cấp còn quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện
ngân sách địa phương;Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương
trong trường hợp cần thiết; cũng như tiến hành giám sát việc thực hiện ngân
sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định; Ngoài ra, HĐND có quyền bãi bỏ
những văn bản quy phạm pháp luật về tài chính - ngân sách của Uỷ ban nhân
3
dân cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.Bên cạnh đó, Điều 25
Luậtcòn quy định chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh
giao nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể, chi tiết cho từng cấp ngân sách huyện và
xã thuộc địa bàn tỉnh phù hợp với đặc thù, khả năng và nhu cầu của địa phương
mình và tuân thủ đúng theo các nguyên tắc pháp lý do Nhà nước quy định.
Mỗi địa phương có trình độ phát triển kinh tế-xã hội khác nhau, mức sống của
người dân trong từng địa phương vì thế cũng khác nhau. Căn cứ vào khả năng
của nhân dân địa phương, HĐND cấp tỉnh tự mình quyết định một số khoản thu
dựa trên tình hình thực tế đã huy động được tối đa sức mạnh vật chất trong dân
để phát triển các mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của địa phương, đầu tư
cơ sở hạ tầng góp phần phát triển địa phương một cách chủ động.
Ngoài ra, HĐND cấp tỉnh còn quyết định việc huy động vốn trong nước cho đầu
tư trong trường hợp cấp tỉnh có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ
tầng vượt quá khả năng cân đối của địa phương (Khoản 3 Điều 8 Luật NSNN
2002). Ở Việt Nam hiện nay, xây dựng mới và nâng cấp các công trình kết cấu
hạ tầng là một nhu cầu lớn và bức thiết, nó là động lực phát triển kinh tế-xã hội
của địa phương. Với quyền hạn này, cấp tỉnh sẽ phát huy được tiềm năng để
tăng nguồn thu cho chi đầu tư phát triển.
Thứ hai, trong việc quyết định các vấn đề về ngân sách, HĐND các cấp luôn đề
cao tính công khai, minh bạch.
Việc trao quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương trong quyết định các
vấn đề về ngân sách đặt ra yêu cầu đòi hỏi địa phương phải tăng tính minh bạch
và trách nhiệm giải trình trong thực hiện ngân sách. Điều này đã được HĐND
các cấp ở các địa phương thực hiện nghiêm chỉnh và tương đối hiệu quả trong
thời gian gần đây. Từ thực tiễn hoạt động của HĐND nhiều tỉnh, thành phố
trong nhiệm kỳ 2004-2013 cho thấy, các quyết định của HĐND tỉnh về ngân
sách đã từng bước được nâng cao về chất lượng; quy trình lập dự toán, phân bổ
ngân sách cơ bản đảm bảo tính công khai, minh bạch và tiến đến công bằng.
5
Điều đó giúp hạn chế một bước tính trạng “xin – cho” trong phân bổ dự toán
Thứ tư, HĐND đã thực hiện tốt, hiệu quả vai trò giám sát đối với việc
thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định trước đó.
Thực hiện quyền giám sát của HĐND trong công tác KH&NS. Trong những
năm qua, nhất là từ năm 2004 thực hiện luật NSNN 2002 đến nay, vai trò giám
sát của HĐND đã được nâng cao từng bước khẳng định vị thế là người đại biểu
của nhân dân giám sát các cơ quan hành pháp tổ chức thực hiện KH&NS. Cụ
thể:
Các ban chuyên môn của HĐND và UBND có sự phối hợp chặt chẽ ngay từ
khâu đầu của quá trình xây dựng KH&NS. Việc quyết định KH&NS được tuân
thủ theo đúng các quy định hiện hành. Hằng năm, HĐND thường tổ chức họp
hai kì. Một trong những nội dung quan trong của kì họp cuối năm là phê duyệt
KH&NS năm sau. Các ban chuyên môn của HĐND đã tích cực, chủ động hơn
trong công việc giám sát KH&NS với nhiều hình thức đa dạng và quy trình giám
sát ngày càng được chuẩn hóa. Trước đây, hoạt động của các ban thường phụ
thuộc vào ý kiến chỉ đạo của thường trực HĐND. Gần đây, Ban KTNS và các
ban khác đã chủ động hơn trong việc lập và thực hiện kế hoạch giám sát tại cơ
sở.Trước khi lên kế hoạch giám sát, các chuyên viên đã tổ chức đi thực địa,
xuống cơ sở nắm bắt tình hình. Sau quá trình giám sát, các đoàn giám sát đều có
báo cáo kết luận về vấn đề giám sát và gửi tới UBNS các cấp yêu cầu xử lý.
Giám sát việc chấp hành ngân sách, HĐND phát huy vai trò quan trọng để kịp
thời phát hiện , điều chỉnh việc thu, chi. Chẳng hạn trong việc giám sát về lĩnh
vực xây dựng cơ bản; giám sát tình hình chuyển đổi và quy hoạch sử dụng đất,
giám sát tình hình thu, chi ngân sách ở một số địa phương và đơn vị; kết quả
thực hiện các dự án đầu tư cho giao thông nông thôn từ nguồn vốn vay, tiến độ
và kết quả thực hiện các dự án trọng điểm; kết quả thực hiện công tác bồi
thường, tái định cư. Trong quá trình giám sát, các đoàn giám sát đã phát hiện
được những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện của các cấp, các ngành,
nêu lên những ý kiến xác đáng, được đối tượng giám sát tiếp thu một cách
ninh, trả nợ, cải cách tiền lương, an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai. Bên
cạnh đó, đã tập trung giải ngân vốn cho các dự án quan trọng, cấp bách đã được
8
Thủ tướng Chính phủ quyết định ứng trước dự toán năm sau (vốn đối ứng dự án
ODA; các dự án đầu tư, nâng cấp Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14;…)
Công tác quản lý chi tiêu được tăng cường, đến 31/12/2013, hệ thống KBNN
ước thực hiện kiểm soát chi đối với gần 648.300 tỷ đồng chi thường xuyên của
NSNN, đạt 96% dự toán chi thường xuyên, đã phát hiện trên 77.000 khoản chi
của trên 34.600 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định, từ
chối chưa thanh toán với số tiền trên 1.400 tỷ đồng chưa đủ điều kiện chi theo
quy định; đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân qua hệ thống KBNN ước đạt
223.552 tỷ đồng, đạt 85% kế hoạch vốn năm 2013 (bao gồm cả tạm ứng), thông
qua kiểm soát, đã từ chối thanh toán khoảng 80 tỷ đồng do chủ đầu tư đề nghị
thanh toán cao hơn giá trúng thầu, sai số học hoặc không có trong hợp đồng, dự
toán,...
Về cân đối NSNN: Tính đến ngày 31/12/2013, bội chi ngân sách nhà nước được
kiểm soát ở mức 5,3% GDP, nằm trong phạm vi Quốc hội đã cho phép điều
chỉnh.
Đạt được kết quả như vậy chính nhờ một vào sự nỗ lực cùng với những chính
sách điều chỉnh hợp lý, kịp thời của các cơ quan nhà nước nói chung và HĐND
các cấp nới riêng đã phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc quyết
định dự toán thu – chi ngân sách, phân bổ dự toán ngân sách, quyết định các chủ
trương biện pháp để thực hiện ngân sách địa phương và đưa ra các điều chỉnh
ngân sách địa phương hợp lý, kịp thời khi tình hình kinh tế-xã hội gặp khó khăn,
…
2.2 Những mặt hạn chếtrong việc thực thi quyền hạn của HĐND các cấp
trong lĩnh vực ngân sách nhà nước
Thứ nhất, cơ cấu ngân sách mang tính thứ bậc cao và tính lồng ghép của
chủ của ngân sách cấp dưới. Cách làm này có ưu điểm là tăng quyền quyết định
và sự chủ động cho cấp tỉnh tuỳ thuộc vào điều kiện đặc thù của từng địa
phương. Nhưng trên thực tế, cách làm này tạo lại điều kiện cho chính quyền cấp
tỉnh tập trung các nguồn lực lớn trong tay mình và vô hình chung lại tạo ra một
cơ chế xin cho giữa chính quyền cấp trên với các cấp chính quyền bên dưới ở
mỗi địa phương. Điều đó làm tăng tình trạng phụ thuộc của các cấp chính quyền
bên dưới vào cấp trên.
10
Sự không phân định rõ ràng bằng luật pháp về nguồn thu và nhiệm vụ chi
của mỗi cấp sẽ tước đi quyền chủ động trong lập kế hoạch ngân sách dài hạn và
khuyến khích cấp huyện, cấp xã quan tâm nuôi dưỡng và phát triển các nguồn
thu của riêng mình.
Thứ ba,tương quan giữa nguồn thu được giữ lại và nhiệm vụ chi của các
cấp chính quyền địa phương chưa tương xứng. Phân cấp chi ngân sách chưa gắn
liền với việc cung cấp các dịch vụ công cộng ở địa phương mà chủ yếu vẫn được
phân bổ dựa trên những định mức cũ, không còn phù hợp.Luật qui định không
được dùng ngân sách của cấp này để chi nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp
đặc biệt theo qui định của Chính phủ. Tuy nhiên trong thực tế, hầu hết các địa
phương còn phải hỗ trợ thêm kinh phí cho các cơ quan trung ương ở địa phương
(cơ quan tư pháp, công an, quân đội…) để thực hiện nhiệm vụ chung trên địa
bàn. Việc hỗ trợ không được qui định cụ thể dẫn đến giữa các địa phương hỗ trợ
cho đối tượng không thống nhất và gây áp lực về ngân sách của địa phương,
nhất là đối với những tỉnh còn phải nhận hỗ trợ của ngân sách trung ương. Mặt
khác khó khăn trong việc kiểm tra, kiểm soát và kiến nghị của cơ quan thanh tra,
kiểm toán trong công tác quản lý sử dụng kinh phí này.
Thứ tư,quy trình ngân sách với tính lồng ghép lớn và thời gian tương đối
ngắn làm cho việc lập dự toán ở các cấp dưới mang tính hình thức. Yêu cầu lập
và quyết toán ngân sách đòi hỏi cấp dưới phải trình lên cấp trên và cấp trên phải
thể“vay nợ để trả nợ”. Kỷ luật ngân sách cũng là vấn đề đáng quan tâm khi phân
cấp quản lý ngân sách ,việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật tài chính ngân sách
đang thực sự là vấn đề lớn, đáng lo ngại, cần được xem xét, bàn thảo để tìm ra
giải pháp hiệu quả để quản lý tốt.
Thứ sáu,quyền quyết định mức huy động vốn tại địa phương của HĐND
còn bị hạn chế. Theo Luật ngân sách nhà nước 2002 thì HĐND có quyền quyết
định mức huy động vốn trong nước trong trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi
ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã
được HĐND cấp tỉnh quyết định nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân
sách cấp tỉnh năm dự toán. Tuy nhiên, mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không
được vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân
sách cấp tỉnh. Quy định này nhằm mục đích đảm bảo an ninh tài chính tuy nhiên
lại hạn chế tính chủ động của địa phương nhất là các địa phương có nguồn thu
12
ngân sách lớn và đang có tiềm lực về kinh tế. Ví dụ như thành phố Hồ Chí Minh
có tổng thu ngân sách năm 2013 đạt khoảng 230 nghìn tỷ đồng, nếu cũng bị ràng
buộc bởi quy định trên sẽ bị hạn chế khả năng huy động vốn của thành phố, trực
tiếp làm chậmquá trình phát triển tại địa phương
Cuối cùng, có thể kể đến nhữn hạn chế trong quyền giám sát thực hiện
ngân sách nhà nước của HĐND.Theo khoản 6 Điều 25 Luật ngân sách nhà nước
có quy định HĐND có quyền giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND
quyết định. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện chưa hiệu quả, do trình độ của
đại biểu HĐND còn hạn chế chưa chuyên sâu, còn số lượng lớn đại biểu có trình
độ chuyên môn thấp hoặc không cao. Cơ chế chính sách tài chính còn bất cập,
sự thay đổi diễn ra thường xuyên để phù hợp với tình hình thực tế của xã hội,
làm cho việc hiểu nội dung các thông tư hướng dẫn và đưa vào vận dụng trong
tình trạng thiếu nhất quán. Hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu, sử dụng tài
tiêu. Chính quyền địa phương được phép tự chủ ra các quyết định chi tiêu theo
ưu tiên của địa phương, có quyền quyết định các chế độ, định mức chi tiêu của
địa phương nhưng phải ở một mức độ phù hợp với chiến lược và mục tiêu phát
triển quốc gia. Việc mở rộng quyền tự chủ này sẽ phải dựa trên những nguyên
tắc chi tiêu nhất định sao cho có hiệu quả nhất.
Thứ ba,về việc nhằm phát huy tính tự chủ của HĐND ở các cấp:Luật pháp
cần quy định trao quyền nhiều hơn cho các cấp chính quyền địa phương như cấp
huyện, xã… nơi trực tiếp cung cấp cho nhân dân các dịch vụ công thiết yếu.
Trung ương cũng cần thống nhất phân cấp về các loại nguồn thu và nhiệm vụ chi
cơ bản đến cấp huyện, xã, tạo cho mỗi cấp này quyền chủ động nhất định trong
thu – chi ngân sách ở cấp mình, phát triển năng lực quản lý tài chính ở mỗi cấp
tương xứng với vai trò của nó trong quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.
Ngoài ra, cũng cần nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, nâng cao về trình độ
chuyên môn, năng lực công tác, phẩm chất của đại biểu HĐND về các lĩnh vực
ngân sách, tài chính để thực hiện tốt hơn quyền hạn giám sát, quyết định, thực
thi ngân sách.
C. KẾT LUẬN
Qua đề tài trên, nhóm muốn làm rõ hơn những quy định của pháp luật hiện hành
về quyền hạn của HĐND các cấp trong lĩnh vực NSNN cũng như thực tiễn áp
14
dụng. Có thể thấy, bên cạnh những mặt đạt được còn rất nhiều những bất cập
cần phải sửa đổi trong thời gian sắp tới. Với hiểu biết còn hạn chế và thời gian
nghiên cứu chưa nhiều, nên bài làm của nhóm còn nhiều thiếu xót, rất mong
nhận được sự góp ý từ thầy cô và các bạn!
1.
Danh mục tài liệu tham khảo: