Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng; thực hiện tinh giản bộ máy biên chế - Pdf 35

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH
HUYỆN UỶ BA CHẼ
*
Số - ĐA/HU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Ba Chẽ, ngày

tháng 12 năm 2014

ĐỀ ÁN
Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy biên chế
--------Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã
hội trên cơ sở cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, định hướng. Đảng ta luôn tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng
và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Đảng lãnh đạo, tôn trọng,
phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội; thường
xuyên đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng.
Tỉnh uỷ Quảng Ninh đã có chủ trương, định hướng đúng đắn, lãnh đạo ổn
định về chính trị, phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh trên
địa bàn tỉnh. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII đã đề ra: “Tiếp tục
đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức đảng; nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị.
Phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững trên cơ sở nâng cao hơn nữa
năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế” . Tỉnh uỷ đã
chủ động báo cáo với bộ chính trị, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế xã hội.
Bộ Chính trị đã có Kết luận 108-KL/TƯ: "Xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành
tỉnh công nghiệp, dịch vụ theo hướng hiện đại vào năm 2015, là tỉnh dịch vụ
công nghiệp hiện đại vào năm 2020, phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững".

của Đảng, của Tỉnh uỷ và Huyện uỷ Ba Chẽ, từng bước khắc phục khó khăn, xây
dựng huyện Ba Chẽ phát triển kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở
thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015 và trở thành tỉnh dịch
vụ, công nghiệp hiện đại vào năm 2020.
PHẦN I
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG, SỰ CẦN THIẾT
VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I- ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG

1- Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội
(1) Ba Chẽ là huyện miền núi vùng sâu vùng xa, nằm phía đông bắc tỉnh
Quảng Ninh, địa bàn rộng, đồi núi hiểm chở, dân cư thưa thớt. Tổng diện tích
toàn huyện 60.855,56 ha, rừng và đất rừng chiếm trên 80% diện tích. Huyện có
8 đơn vị hành chính gồm 7 xã, 1 thị trấn với 75 thôn, khu dân cư (66 thôn, 9
khu phố). Trong đó có 7/7 xã thuộc diện khó khăn theo quy định của Chính phủ,
25/66 thôn đặc biệt khó khăn. Dân số toàn huyện 20.581 người. Có 10 dân tộc
anh em cùng sinh sống, dân tộc thiểu số chiếm 80%, trong đó, dân tộc Dao
chiếm 43,6%, Kinh 20,2%, Sán Chỉ 18%, Tày 16,5%, còn lại các dân tộc: Cao
Lan, Sán Dìu, Thái, Mường, Nùng, Hoa 1,7%.
Những năm qua, Ba Chẽ được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của
Tỉnh Quảng Ninh: hạ tầng kỹ thuật, các công trình dân sinh đã được đầu tư đáng
kể, góp phần quan trọng khắc phục dần khó khăn, từng bước phát triển kinh tếxã hội, nâng cao đời sống nhân dân… Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch
theo hướng tích cực; kinh tế Lâm nghiệp đã phát triển trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của Huyện. Chương trình xây dựng nông thôn mới đang thực hiện có
hiệu quả. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng
2


được chú trọng. Ba Chẽ có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Tỉnh uỷ, Uỷ ban

hoạch được xây dựng cụ thể. Tập trung chỉ đạo thực hiện có kết quả các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn
mới, giải quyết các vấn đề bức xúc trong nhân dân...
Hoạt động của HĐND các cấp đã từng bước phát huy hiệu lực, hiệu
quả hoạt động, đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. MTTQ và các đoàn thể đã bám sát chủ
trương, nghị quyết của Huyện uỷ, cụ thể hoá sáng tạo trong tổ chức thực hiện
nhiều việc có hiệu quả như: phong trào thi đua chug sức xây dựng nông thôn
mới; giúp dân thoát nghèo; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội; củng cố
3


nâng cao chất lượng hoạt động MTTQ, đoàn thể, thực hiện xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân
Đảng bộ huyện có 26 tổ chức cơ sở đảng, 141 chi bộ trực thuộc đảng bộ
và 1.544 đảng viên. Hàng năm, có từ 75-85% số cơ sở đảng và từ 59-70% chi bộ
trực thuộc Đảng ủy đạt trong sạch vững mạnh. Có 25 phòng, ban chuyên môn,
cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc huyện. Tổng biên chế cán bộ, công chức, viên
chức thuộc huyện quản lý có mặt 1.002/1.044 biên chế được giao. Trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ cơ bản đạt chuẩn (thạc sĩ chiếm
9,43%, Đại học 77,35%)
(2) Tuy nhiên: Một số cơ sở Đảng: năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
còn hạn chế, tính sáng tạo trong tổ chức thực hiện không nhiều. Chất lượng hoạt
động của một bộ phận chi bộ thôn, khu còn hạn chế; vai trò gương mẫu của một
bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao. Công tác chỉ đạo, điều hành của chính
quyền một số việc chưa quyết liệt. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực (đất
đai, xây dựng cơ bản, môi trường...) chưa theo kịp yêu cầu. Phương thức tổ
chức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị xã hội ở huyện và cơ
sở chậm đổi mới, có việc, có thời điểm còn hành chính. Chưa thực sự phát huy
được sức mạnh tổng hợp của nhân dân trong tham gia phát triển kinh tế xã hội,

CHÍNH SỰ
NGHIỆP

07
CHI BỘ TRỰC
THUỘC

Bảng 01: Chất lượng các chi, đảng bộ cơ sở
4

01 CHI BỘ
DOANH
NGHIỆP


Xế
p
loại

TSVM
Tiêu biểu

Hoàn thành
tốt nhiệm vụ

TSVM

Hoàn thành
nhiệm vụ


6

19

67,86

03

10,71

01

3,57

0

0

2012

05

17,8
6

16

57,14

05


0

Bảng 02: Chất lượng các chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở
Xế
p
loại

TSVM
Tiêu biểu

Hoàn thành
tốt nhiệm vụ

TSVM

Hoàn thành
nhiệm vụ

Yếu

Ghi chú

SL

TL %

SL

TL

14

11,3

0

0

2012

28

21,21

61

46,2

31

23,5

12

9,1

0

0


ĐTC - HTNV

Không HTNV

SL

TL %

SL

TL %

SL

TL %

SL

TL %

2011

137

11,08

903

73,05


11,63

1144

77,4

146

9,87

16

1,08

6/2014

Tổng số đảng viên: 1.544 (chưa phân loại)

II- SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1- Nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách, chỉ thị, nghị
quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy
Quảng Ninh về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh. Vận dụng
sáng tạo trong thực tiễn trên địa bàn của huyện Ba chẽ góp phần ổn định chính
trị, phát triển kinh tế xã hội của của huyện Ba Chẽ, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
5


2- Nâng cao năng lực, sức chiến đấu; đổi mới phương thức lãnh đạo của

chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ
chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng
chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và
phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật
thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
(3) Luật Công đoàn Việt Nam và các Điều lệ của MTTQ Việt Nam, Công
đoàn, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh Việt Nam;
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh...

6


- Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định: Tiếp tục phát huy dân chủ và
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đổi mới và nâng cao chất lượng
hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn
Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật
sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán
bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
(4) Chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020 theo tinh thần Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI đã xác định: Trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền
và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phương
thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước.
Hoàn thiện nội dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn
với trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng lãnh đạo của các cấp ủy đảng;
tăng cường dân chủ trong Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nội
dung quan trọng của đổi mới chính trị phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới
kinh tế. Coi trọng mở rộng dân chủ trực tiếp trong xây dựng Đảng và xây dựng
chính quyền, khắc phục tình trạng Đảng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện
làm thay chức năng, nhiệm vụ quản lý điều hành của chính quyền.

(13) Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 BCH
Trung ương (khoá XI) “Một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm
xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”.
(14) Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khoá XI) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính
trị từ Trung ương đến cơ sở” đã đề ra mục tiêu: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính
trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn,
có tính ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên
môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị.
(15) Kết luận số 47-KL/TW ngày 06/5/2009 của Bộ chính trị “Về kết quả 3
năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ Tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII và những chủ trương, giải pháp phát triển tỉnh
Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”; Thông báo Kết luận số 108KL/TW ngày 01/10/2012 của Bộ chính trị (khoá X) “Về xây dựng Quảng Ninh trở
thành tỉnh công nghiệp, dịch vụ theo hướng hiện đại vào năm 2015, là tỉnh dịch vụ
công nghiệp vào năm 2020, phát triển kinh tế- xã hội nhanh, bền vững; bảo đảm vững
chắc quốc phòng an ninh và thí điểm xây dựng đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt”.
(16) Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ chính trị “Về Đại hội
Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”.
(17) Kết luận số 24-KL/TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh công tác quy
hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm
tiếp theo có nêu: Đẩy mạnh công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ đồng thời
với việc đổi mới đồng bộ các khâu khác trong công tác cán bộ, trước hết là đổi
mới công tác đánh giá cán bộ, xác định thẩm quyền, trách nhiệm của người
đứng đầu trong công tác cán bộ và trong quy hoạch, luân chuyển cán bộ.
1.2- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và công tác cán bộ
(1) Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về quy luật
Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình: Đảng ta không
phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra, do đó, Đảng phải thường
xuyên phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn và đó chính là quy luật phát triển của một

là "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tinh giản bộ máy, biên chế và đồng
hành cùng doanh nghiệp";
(3) Chỉ thị số 25- CT/TU ngày 28/02/2014 của Tỉnh uỷ Quảng Ninh về
việc triển khai thực hiện Kết luận 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá XI và Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 05/12/2013
của BCH Đảng bộ tỉnh về nội dung “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,
tinh giản bộ máy biên chế”
(4) Các chỉ thị, Nghị quyết của BCH, BTV Tỉnh ủy về xây dựng Đảng,
XD hệ thống chính trị …
2- Cơ sở pháp lý:
(1) Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013,
Điều 4 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và
9


của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt
Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của
Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Các
tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
(2) Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày
26/11/2003; Luật Tổ chức Chính phủ năm 2011; Luật Cán bộ, Công chức năm
2008; Luật Viên chức năm 2010; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Giáo dục ngày
14/6/2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày
25/11/2009.
(3) Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ “Quy
định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị

vững chắc; khả năng ứng dụng KHCN, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm;
trình độ dân trí còn hạn chế, tư tưởng trông chờ, ỷ lại, hủ tục lạc hậu còn tồn tại
ở một bộ phận người dân; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao; Tổ chức bộ máy
có chỗ có nơi còn cồng kềnh, chồng chéo nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động chưa
cao. Công tác quy hoạch, bố trí, sử dụng, luân chuyển, đào tạo cán bộ còn một
số bất cập; sử dụng nguồn lực (nhân lực, vật lực) còn có chỗ lãng phí, chưa phù
hợp.
3.3 - Thực tiễn yêu cầu phát triển của huyện:
Huyện Ba chẽ đang thực hiện nhiều biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh
tế xã hội, xây dựng nông thôn mới giảm nghèo nhanh và bền vững, cải thiện đời
sống nhân dân, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh... Huyện đã
XD Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH đồng thời xây dựng, thực hiện các
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế các ngành, lĩnh vực...huy động nguồn lực
đầu tư phát triển, ứng dựng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất trong sản
xuất nông, lâm nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao; trên cơ sở định hướng của
tỉnh về phát triển kinh tế vùng Đông Bắc, với những chủ trương định hướng cụ
12


thể; huyện đang từng bước triển khai thực hiện đồng thời huy động cả hệ thống
chính trị vào cuộc, đổi mới hoạt động để thực hiện hiệu quả mục tiêu đề ra.
Từ thực tiễn trên đòi hỏi phải xây dựng đề án thể hiện đồng bộ, toàn
diện sự lãnh đạo của BCH, BTV Huyện ủy, nâng cao năng lực lãnh đạo của các
cấp uỷ Đảng, đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị của huyện để đáp ứng
yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội huyện Ba Chẽ những năm tới.
IV- PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1- Phạm vi nghiên cứu
1.1 Thời gian: Nghiên cứu từ thực tế thực hiện trong nhiệm kỳ 2010-2015
và những dự báo, nhiệm vụ giải pháp chuẩn bị cho đại hội nhiệm kỳ tới. Xác định


1- Ưu điểm:
1.1- Năng lực dự báo và tầm nhìn:
(1) Xác định tiềm năng, thế mạnh của huyện, để đề ra mục tiêu, định
hướng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; những giải pháp đột phá nhằm phát triển
kinh tế xã hội: Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được trong nhiệm kỳ khoá XXII
của Đảng bộ huyện, những thời cơ thách thức; BTV, BCH huyện uỷ đã xây
dựng văn kiện Đại hội đảng bộ lần thứ XXIII với mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và
chỉ tiêu phân đấu nhằm từng bước khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế- xã
hội
(2) Chỉ đạo xây dựng quy hoạch, kế hoạch: Trên cơ sở định hướng của
tỉnh và tình hình địa phương, dự báo tình hình chung những thời cơ, thách thức,
những tiềm năng, lợi thế của huyện, Huyện ủy tập trung chỉ đạo xây dựng Quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội, định hướng mục tiêu, cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu
tiên đầu tư phát triển, nhiệm vụ đột phá, giải pháp thực hiện... (hoành thành
trong tháng 7/2014), làm tiền đề xây dựng các quy hoạch phát triển các ngành,
lĩnh vực khác, quy hoạch vùng sản xuất, quy hoạch xây dựng nông thôn mới
các... Hiện nay một số nội dung đề ra trong các quy hoạch, đề án đang hoàn
thiện cũng đồng thời được triển khai thực hiện có kết quả bước đầu, phù hợp
điều kiện đặc thù địa phương và các chủ trương chỉ đạo của Tỉnh.
(3) Nắm bắt tình hình, dự báo nguy cơ ảnh hưởng tham mưu đề xuất với
tỉnh những cơ chế, chính sách phù hợp cho huyện: huyện đã đề xuất thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia 135 cho các xã, thôn khó khăn, bổ sung công
trình ưu tiên (hạ tầng) trên địa bàn huyện trong thực hiện các quy hoạch của tỉnh
những năm tới; bổ sung định hướng phát triển kinh tế du lịch những năm tới cho
huyện Ba Chẽ trong quy hoạch của tỉnh; đề xuất chương trình thực hiện đầu tư
theo phương thức PPP
(4) Dự báo những khó khăn thách thức của địa phương: BCH, BTV
Huyện ủy Đã xác định những những khó khăn, hạn chế, thách thức của huyện
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế- xã hội từ đó tìm biện pháp tháo gỡ, khắc phục

triển khai thực hiện có hiệu quả như: Các Nghị quyết về: XD Nông thôn mới,
tăng cường công tác lập, quản lý quy hoạch, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác dân vận trong tình hình mới, công tác Dân tộc, công tác chính
trị tư tưởng, công tác cán bộ, Thực hiện quy chế dân chủ, XD hệ thống chính trị,
cải cách tư pháp, cải cách hành chính, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh, trật tự, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về Làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh… đều được Huyện ủy triển khai thực hiện bằng nhiều biện pháp,
cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện của địa phương, mang lại hiệu quả tiêu
biểu như: một số cấp ủy cấp xã đã chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa
XD-NTM, vận động nhân dân hiến đất, hiến cây làm đường nội thôn, xây dựng
công trình dân sinh; vận động nhân dân thi đua lao động sản xuất, gắn với xây
dựng mô hình mỗi xã một sản phẩm và phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn
với giảm nghèo bền vững…huyện đã tổ chức cuộc vận động chung tay XD
Nông thôn mới với cách làm sáng tạo, thuyết phục đã được các tổ chức cá nhân
ủng hộ hàng chục tỷ đồng giải quyết được một số khó khăn vướng mắc trong
xây dựng hại tầng nông thôn mới; các đoàn thể có nhiều sáng tạo trong hỗ trợ
các hộ nghèo, tuyên truyền cho nhân dân từng bước giảm tư tưởng nếp sống lạc
hậu, bảo thủ, trông chờ ỷ lại, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, trong
công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên; nhiều cơ quan, đơn
vị doanh nghiệp có kế hoạch riêng thực hiện vận dụng có hiệu quả thực hiện các
chỉ thị nghị quyết của Đảng vào thực tiễn nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn
vị, tổ chức mình góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, các chỉ tiêu KTXH
của toàn huyện.
15


(3) Năng lực chỉ đạo thực hiện pháp luật của Nhà nước: Thông qua cơ

chế giao ban Thường trực, họp BTV Huyện ủy đã được quy định trong quy chế
làm việc của BCH, BTV Huyện ủy nắm bắt tình hình đồng thời chỉ đạo công tác

Chí Minh. Huyện ủy tổ chức sinh hoạt chuyên đề nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của
Bác gắn nội dung đảng viên thực hiện chuyên đề ” Nêu cao tinh thần trách nhiệm,
chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm” liên hệ thực hiện nhiệm vụ được
giao. Xây dựng được tổ chức bộ máy quản lý đáp ứng yêu cầu cải cách hành
chính, cải cách công vụ. Quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo,
điều hành và thực thi nhiệm vụ, có số lượng cơ cấu hợp lý.
16


(2) Năng lực xây dựng tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của
các tổ chức trong hệ thống chính trị:
Ban Thường vụ Huyện ủy có kế hoạch hành động chỉ đạo các cấp ủy
Đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện Kết luận số 62-KL/TW
ngày 8/12/2009 của Bộ chính trị (khoá X) về “Tiếp tục đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội”
và Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 Hội nghị Trung ương 5 (khoá X)
“Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống
chính trị”. Hàng năm Thường trực Huyện ủy duyệt chương trình công tác của Mặt
trận, đoàn thể, hàng tháng chủ trì họp giao ban các ban Đảng và Mặt trận tổ quốc,
các đoàn thể huyện qua đó chỉ đạo các đoàn thể thực hiện các biện pháp nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động. Xây dựng và thực hiện mối quan hệ phối hợp công
tác giữa chính quyền với các đoàn thể, giữa các đoàn thể, có nội dung phôí hợp cụ
thể. Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có nhiều hoạt động thiết thực hiệu quả
như: Xây dựng nông thôn mới; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc; các
phong trào văn hóa văn nghệ thể thao...
1.4 - Năng lực quy tụ, đoàn kết, huy động nguồn lực
(1) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân, phụ
trách; tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến của tập thể trước khi quyết định những
vấn đề quan trọng nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất, đoàn kết vì sự nghiệp phát

chức, viên chức học tập nâng cao trình độ năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Vận động cả hệ thống chính trị vào cuộc, huy động sức dân, doanh nghiệp cả
trong và ngoài huyện nhằm khắc phục khó khăn thực hiện nhiệm vụ chính trị
của địa phương.
1.5- Năng lực sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm
(1) Sơ tổng kết thực hiện các chỉ thị nghị quyết của Đảng: Trong quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Huyện
ủy luôn coi trọng công tác sơ, tổng kết thực hiện các nghị quyết: đánh giá những
kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, thiếu sót, rút ra bài học kinh nghiệm và
bàn giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện thời gian tới. Điển hình trong nhiệm kỳ
Đại hội, Đảng bộ đã tiến hành sơ tổng kết các nghị quyết của Đảng: tổng kết 15
năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; tổng kết 20 năm thực
hiện Nghị quyết 01 của Bộ chính trị về công tác lý luận; và sơ kết 3 năm thực
hiện Chỉ thị 03 của Bộ chính trị khóa X về Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổng kết 30 năm đổi mới về nội dung
“Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Tổng kết 15
năm thực hiện nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ; tổng kết 10 năm
thực hiện NQ số 11 của Bộ chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý;
tổng kết 8 năm thực hiện NQ số 42 của Bộ chính trị về công tác quy hoạch cán
bộ lãnh đạo quản lý; 5 năm NQ 22 của BCH Trung ương về nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ
đảng viên; tổng kết 10 năm thực hiện Đề án của BCH Đảng bộ huyện về xoá cơ
sở trắng, giảm chi bộ sinh hoạt ghép; kiểm điểm 2,5 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội đảng các cấp; sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 10 của BCH Đảng bộ
tỉnh về xây dựng nông thôn mới; sơ kết, tổng kết một số NQ về công tác dân
vận, kiểm tra giám sát, về lĩnh vực giáo dục &ĐT...
(2) Sơ tổng kết đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị hàng năm: 6
tháng, một năm tổ chức sơ tổng kết đánh giá kết quả thực hiện. Qua sơ kết, tổng
kết kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân tiêu biểu, nhân rộng

vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong khi trình độ năng lực của một
bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng được vấn đến mới nên ảnh hưởng đến
khả năng dự báo và nhận định tình hình, quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
3.2- Một số quy chế chưa được xây dựng; việc điều chỉnh bổ sung phù
hợp từng thời kỳ chưa được quan tâm như chưa có quy chế đánh giá cán bộ, quy
chế quản lý cán bộ còn một số bất cập...
3.3- Do tư duy, cách nghĩ, cách làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên,
đặc biệt người đứng đầu một số cấp uỷ, tổ chức, cơ quan, đơn vị chậm đổi mới,
còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thiếu nhiệt tình trong thực thi chức trách nhiệm
vụ được giao, còn có tư tưởng làm việc theo giờ hành chính, không theo yêu cầu
công việc được giao.
3.4- Việc sơ kết, tổng kết các chủ trương về công tác tổ chức cán bộ có
mặt còn hạn chế; vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác cán bộ ở một số cấp uỷ
quản lý trực tiếp chưa được quan tâm đúng mức, chưa chủ động rà soát, phát
hiện sửa đổi, bổ sung, khắc phục những vướng mắc bất cập trong việc thực hiện
quy chế, quy định; công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng, hướng
dẫn của cơ quan chuyên môn còn hạn chế.
3.5- Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền chưa quan tâm đúng mức
đến việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc sơ tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, có
nơi còn làm chiếu lệ; chưa nhận thức rõ tầm quan trọng trong công tác lãnh đạo,
chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, thiếu tinh thần quyết tâm; không
nghiêm túc, tự giác kiểm điểm tự phê bình và phê bình.
3.6- Một bộ phận cán bộ cán bộ cấp ủy và đảng viên trình độ nhận thức
và năng lực còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
II- PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

1- Ưu điểm
1.1- Ban hành và tổ chức thực hiện Nghị quyết, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch:
20


cán bộ thôn, khu dân cư
1.3 - Công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục:
(1) Đẩy mạnh thực hiện đồng bộ các giải pháp về công tác tuyên truyền;
chỉ đạo xác định nội dung trọng tâm, lĩnh vực trọng điểm, khâu đột phá và cách
thức tuyên truyền phù hợp. Ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo của cấp uỷ, tập
trung trước hết vào việc lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và kịp thời về định hướng
thông tin, tổ chức quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp
luật của nhà nước, Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực
hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông
thôn mới…Đa dạng, linh hoạt các phương thức tuyên truyền. Tổ chức, phát huy
vai trò của lực lượng Báo cáo viên, Tuyên truyền viên, Ban Tuyên giáo Đảng uỷ
21


cơ sở tại các xã, thị trấn, chỉ đạo hướng mạnh tuyên truyền về cơ sở để đáp ứng
yêu cầu tuyên truyền thường xuyên, diện rộng và từng bước đi vào chiều sâu,
hiệu quả.
(2) Kịp thời cụ thể hóa, triển khai thực hiện các chủ trương chính sách
của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực công tác Dân vận, nhất là Quy chế công tác
Dân vận của hệ thống chính trị. Nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng, quản
lý của nhà nước đối với công tác Dân vận được cụ thể hóa bằng các Chỉ thị,
Nghị quyết của cấp ủy huyện, các chương trình, kế hoạch thực hiện của chính
quyền về phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, các cơ chế chính sách đặc
thù của huyện…
1.4- Lãnh đạo thực hiện tốt việc xây dựng quy chế làm việc, quy chế phối
hợp của cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội:
(1) Ban hành quy chế làm việc của cấp uỷ từ huyện đến cơ sở; các quy
chế về công tác tổ chức cán bộ; quy chế phối hợp giữa cấp ủy với chính quyền,
MTTQ và các đoàn thể trong hệ thống chính trị. Chỉ đạo triển khai thực hiện
Quy chế giám sát và phản biện xã hội, quy chế dân chủ.

học, chưa chủ động. Công tác đánh giá cán bộ, kiểm tra, thanh tra công vụ, theo
dõi, quản lý cán bộ có thời điểm chưa chặt chẽ. Công tác đánh giá, phân loại cán
bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở đảng có nơi chưa sát thực.
(3) Nội dung, phương thức tuyên truyền vận động nhân dân chậm đổi
mới. Tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, chủ
trương của huyện tới cán bộ, đảng viên, nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa
chưa thường xuyên, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Việc nắm tình hình, tư tưởng
nhân dân và cán bộ, đảng viên chưa kịp thời tại một số địa bàn nên còn để xảy
ra tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.
(4) Việc triển khai nhiệm vụ công tác Dân vận theo chức trách nhiệm vụ
của một số cấp ủy chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chưa nghiêm túc, còn
mang tính hình thức. Công tác Dân vận của các cơ quan nhà nước còn có mặt
hạn chế, tình trạng quan liêu, gây phiền hà cho nhân dân còn diễn ra; việc giải
quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo của công dân còn có những vụ việc kéo dài.
Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở một số cơ quan, đơn vị còn hình thức.
(5) Công tác kiểm tra giám sát của cấp uỷ huyện và việc tổ chức tự kiểm
tra giám sát của một số chi, đảng bộ cơ sở mới thực hiện theo kế hoạch là chủ
yếu, đôi khi chưa kịp thời, nên chưa chủ động phát hiện sớm những vi phạm
của cán bộ, đảng viên. Việc kiểm tra thực hiện khắc phục các tồn tại sau kết
luận của các cuộc kiểm tra còn hạn chế. Thực hiện công tác giám sát ở cơ sở
còn lúng túng, chưa thường xuyên.
(6) Việc nắm và quản lý địa bàn tại một số cơ sở còn hạn chế, chưa kịp
thời phát hiện, giải quyết hoặc phản ánh, đề xuất giải quyết những bất cập phát
sinh tại cơ sở. Công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên các lĩnh vực:
Dân số - KHHGĐ, môi trường nông thôn, quản lý đất đai, tài nguyên, đầu tư
xây dựng cơ bản còn nhiều bất cập. Sự phối hợp giải quyết công việc của một
số phòng ban với các xã, thị trấn hiệu quả chưa cao.
(7) Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung và đối với hoạt
động của MTTQ và các đoàn thể có mặt còn hạn chế, còn chậm, do đó hoạt
động của MTTQ và các đoàn thể có lúc còn hành chính hoá. Một bộ phận cán

CƠ QUAN KHỐI ĐẢNG

MTTQ, ĐOÀN THỂ

24

VĂN PHÒNG HU

CƠ QUAN ỦY BAN MTTQ


BAN TỔ CHỨC HU

HÔI PHỤ NỮ

(2) Ban Thường vụCƠHuyện
ủy gồm có 12 đ/c. Cơ cấu:
Thường trực huyện
QUAN UBKT HU
HỘI NÔNG DÂN
uỷ 02; Thường trực HĐND, UBND 03; Các ban xây dựng Đảng 04; LLVT 02;
cơ sở (thị trấn) 01.
BAN TUYÊN GIÁO HU
THANH NIÊN
(3) Các Ban tham
mưu của Huyện uỷ 06 đơn ĐOÀN
vị: Văn
phòng, Ban Tổ
chức, Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Uỷ ban Kiểm tra và Trung tâm bồi dưỡng
chính trị.

liệt có trọng tâm, trọng điểm, có giải pháp cụ thể, thường xuyên kiểm tra đôn
đốc, sâu sát cơ sở, tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn, việc khó, thực hiện khâu đột
phá nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.
(4) Các Ban Xây dựng Đảng, Văn phòng Huyện ủy, Trung tâm Bồi dưỡng
chính trị Huyện được thành lập và hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng và
các quy định, văn bản hướng dẫn của Ban Chấp hành, Ban Bí thư Trung ương, của
Tỉnh uỷ. Là cơ quan tham mưu cho BCH, BTV, thường trực huyện uỷ về công tác
xây dựng đảng trên các lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, đào tạo bồi dưỡng, tổ chức
cán bộ, kiểm tra giám sát, trung tâm thông tin tổng hợp phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp uỷ huyện. Trong những năm qua đã phục vụ tốt công tác lãnh đạo của
BCH, BTV Huyện uỷ, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.
(5) MTTQ và các đoàn thể đã có nhiều sáng tạo trong tổ chức triển khai
thực hiện nhiệm vụ; tiếp tục hướng về cơ sở để tuyên truyền vận động nhân dân
với những nội dung trọng tâm: xây dựng các phong trào đoàn, hội, phong trào
thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; các mô hình vận
động giúp đỡ hộ nghèo, phổ biến kiến thức pháp luật, chủ trương nghị quyết về
xây dựng nông thôn mới. Tăng cường công tác phối hợp với cấp uỷ, chính
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status