TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ BẤT ĐỘNG SẢN
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
CHUYÊN ĐỀ:
VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GV: Th.S. Lê Mộng Triết
CN. Dương Thị Hương Giang
-Tháng 11 năm 2015-
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hội nhập, đô thị hóa với tốc độ
ngày càng cao, dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, đặc biệt tại đô thị
lớn như Thành phố Hồ Chí Minh.Trong những năm gần đây, luồng dân di cư từ nông
thôn ra các đô thị ngày càng nhiều,làm cho dân số đô thị tăng nhanh. Số người thu
nhập thấp ngày càng nhiều, điều kiện nhà ở và môi trường nói chung rất thấp, nhiều
khu dân cư vẫn phải sử dụng nhà vệ sinh chung.
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
Theo quan điểm của VeT – tổ chức phi chính phủ - người có thu nhập thấp bao
gồm những người có mức thu nhập trên 500.000 tháng và thấp hơn 6.000.000/ năm –
mức trung bình của đô thị.
Trong chương trình ‘‘Phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp’’: Người có
thu nhập ổn định trên ngường nghèo và dưới mức tiệm cận với mức trung bình, có khả
năng tích lũy vốn để tự cải thiện điều kiện ở nhưng vẫn cần sự hỗ trợ của nhà nước cho
vay dài hạn với mức lãi suất ưu đãi trả góp, chính sách về đất đai và cơ sở hạ tầng
Như vậy, các nhóm người thu nhập thấp có thể kể đến như sau:
- Công chức, vên chức
- Dân lao động, muôn bán nhỏ lẻ
- Công nhân các nhà máy, công ty, xí nghiệp
- Quân đội, sỹ quan, công an
II. Đặc điểm nhà ở của người có thu nhập thấp
1. Diện tích trên đầu người
Diện tích trên đầu người thấp : Tuy tăng lên so với thời kì bao cấp nhưng vẫn
thuộc loại thấp so với mức trung bình của xã hội. Ở TPHCM nhiều nơi cho thuê nhà
với giá 500.000đ/tháng.
Trung bình diện tích trên đầu người từ 1 – 2 m2.
2. Về kiến trúc
Đối với nhóm di cư từ nơi khác đến đô thị , nhất là từ nông thôn ra kiếm việc
làm ăn buôn bán nhỏ . Nhà ở của họ là những liều lán dựng tạm bợ bởi các vật liệu
kém chất lượng nên hình thức kiến trúc rất ngeo nàn đơn sơ như chính cuộc sống của
họ . Họ tạo dựng ngôi nhà bằng tất cả vật liệu sẵn có như tre, nứa, lá dừa nước, giấy
dầu …thậm chí là cả những phế liệu thải ra từ sản phẩm công nghiệp .Bản thân vật
liệu tạo dựng lên ngôi nhà chủ yếu là loại rẻ tiền , dễ kiếm, tận dụng lại
Đối với nhóm người định cư từ trước khi nền kinh tế chuyển đổi vẫn còn cơ chế
Thu nhập thấp kéo theo hàng loạt vấn đề nảy sinh , không chỉ vấn đề ở mà còn
những sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống của họ như : y tế ,giáo dục, vệ sinh ,môi
trường
Nghèo lại vẫn cứ nghèo nếu Đảng và Nhà nước ta không có những chính sách
hỗ trợ , giúp đỡ họ . Đây là một trong những vấn đề bức xúc mà bất cứ một xã hội chủ
nghĩa nào cũng cần phải nhanh chóng giải quyết ,đảm bảo công bằng trong xã hội theo
đúng bản chất của nó.
III. Khả năng tiếp cận nhà ở cho người có thu nhập thấp
1. Về phía nhà đầu tư
Thủ tục phức tạp, rườm rà và cơ chế xin - cho đối với các dự án nhà giá rẻ
Đại diện Tổng Công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) cho rằng, quy
trình, thủ tục liên quan đến quá trình thiết kế, lập dự án và thực hiện dự án phức tạp,
tốn nhiều thời gian hơn so với các dự án nhà ở thương mại, đặc biệt là khâu thẩm định,
xác định giá thành, quyết toán dự án cho đến xét duyệt đối tượng mua nhà.
Thời gian thu hồi vốn chậm
Xét về hiệu quả đầu tư, quy định lợi nhuận không quá 10% tổng mức đầu tư
được xem là mức thấp so với các dự án nhà ở thương mại cũng như để bù đắp rủi ro.
Nhiều rủi ro
Chủ đầu tư không được tự quyết định giá bán, giá thuê nhà mà phải theo mức
trần do địa phương quy định nên họ không chủ động được trong chiến lược đầu tư của
mình.
Thiếu vốn đầu tư
Hiện nay các dự án chủ yếu được đầu tư bằng nguồn ngân sách nhưng nguồn
vốn của trung ương và địa phương dành cho lĩnh vực này vẫn bị giới hạn.
Quỹ đất còn vụn vặt
Theo quy định, 20% diện tích đất trong các dự án nhà ở phải được dành cho
NƠXH nhưng thực tế quy định này rất bất hợp lý, không mang tính khả thi.
2. Về phía người mua nhà
Khó tiếp cận với gói tín dụng ưu đãi 30000 tỷ đồng
Bộ Xây dựng quy định đối tượng được mua Nhà ở xã hội phải chứng minh thu
Vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Tiền thu được từ việc bán, cho thuê và cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà
nước;
- Trích từ 30% đến 50% tiền sử dụng đất của các dự án phát triển nhà ở trên
địa bàn;
- Ngân sách nhà nước đầu tư;
- Tiền hỗ trợ, tiền đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước;
- Tiền huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định cụ thể các nguồn vốn đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xã hội,
đơn vị quản lý quỹ phát triển nhà ở và nội dung quản lý sử dụng quỹ này bảo đảm
nguyên tắc bảo toàn vốn.
Ngoài ra các yếu tố khác về thị trường cũng tác động nhiều đến nhà ở cho người
thu nhập thấp như: các yếu tố cung và cầu, khả năng tài chính, chính sách hỗ trợ vào
hệ thống thuế. Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho thị trường bất động
sản mấy năm gần đây nóng lên là do cầu thì càng tăng mà nguồn cung thì hạn chế. Do
vậy gây khó khăn rất lớn trên thị tường nhà ở cho người thu nhập thấp. Đối tượng
người thu nhập thấp cũng có nhu cầu mua nhà rất lớn nhưng không đủ tuền mua nhà,
chưa hình thành cầu một cách rõ rệt. Trong khi đó nhiều đối tượng khác thừa khả năng
mua nhà nhưng cung lại thiếu.
b. Yếu tố về quyền sở hữu và cơ sở hạ tầng
Quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu đất ở là yếu tố rất quan trọng đối với
chính sách nhà ở, đất ở.
Luật nhà ở Việt Nam quy định: “Quyền có chỗ ở và quyền sở hữu nhà ở
5
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
ngang nhau, thường tuổi thọ vật lý dài hơn tuổi thọ kinh tế. Chính vì vậy khi đầu tư
xây dựng phải dự tính tuổi thọ kinh tế để quyết tuổi thọ vật lý, tránh đầu tư lãng phí
hoặc đầu tư nhiều lần. Trong mối quan hệ giữa tuổi thọ kinh tế và tuổi thọ vật lý của
bất động sản, lợi ích kinh tế mang lại có xu hướng giảm dần đến cuối chu kỳ kinh tế
do các chi phí duy trì tăng và nguồn thu nhập có xu hướng giảm. Do vậy phải so sánh
giữa giá trị kinh tế mang lại với các chi phí duy trì và chi phí cơ hội của việc duy trì
hay đổi mới bất động sản đó để quyết định sự tồn tại của chu kỳ vật lý.
Do có tính lâu bền nên trước khi đầu tư, thiết kế phải tính toán và dự báo được
tất cả các công năng cũng như dự tính trước được các nhu cầu phát sinh. Bởi lẽ nếu
không dự tính trước những nhu cầu phát sinh sẽ không dễ gì thay đổi những yếu tố vật
lý cho phù hợp với những nhu cầu dành cho người có thu nhập thấp.
Nhà ở bền vững lâu dài, chi phí xây dựng, mua sắm cao. Nhà ở là một loại hàng
hóa đầu tư cơ bản có tính bền cao, các quyết định về nhu cầu nhà ở của người thu nhập
thấp là sự lựa chọn giữa làm nhà, mua nhà hoặc thuê nhà.
6
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
b. Tính không đồng nhất
Tính không đồng nhất của nhà ở hay còn gọi là tính dị biệt. Mỗi nhà ở là một
tài sản riêng biệt, được sản xuất đơn chiếc và đều có các yếu tố riêng biệt không giống
với bất kỳ một nhà ở nào khác. Sự khác biệt của nhà ở trước hết là do có sự khác nhau
về vị trí lô đất; khác nhau về kết cấu và kiến trúc; khác nhau về hướng; khác nhau về
cảnh quan và các vật ngoại cảnh. Do vậy trong đầu tư phát triển phải chú ý khai thác
nhà ở dành cho người có thu nhập thấp.
II. Vấn đề kinh tế - xã hội tác động đến việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người có
thu nhập thấp
1. Vấn đề dân di cư vào đô thị
a. Mức độ di cư và mô hình di cư theo lứa tuổi, giới tính
Một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng dân số đô thị là do luồng
dân di cư từ các vùng nông thôn đến các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu chế
xuất để tìm kiếm việc làm. Vì đô thị có nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, sinh
7
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
hoạt như: Thu nhập của đô thị thường cao hơn nông thôn, địa bàn đô thị có nhiều khả
năng kiếm được việc làm tốt hơn, chất lượng dịch vụ và phúc lợi xã hội tốt hơn. Dân
cư tìm mọi cách để được nhập cư vào đô thị, từ đó hình thành dòng chuyển dịch vào
đô thị. Chính điều đó đã gây ra sự quá tải về dân số ở đô thị của một số nước đang
phát triển, trong đó có TP.HCM
Dân nhập cư vào đô thị hầu như là lao động trẻ ở lứa tuổi từ 18 đến 27 muốn có
cơ hội việc làm ở đô thị, hoặc là những sinh viên muốn tìm kiếm cơ hội việc làm tại
thành phố trong tương lai. Tỷ lệ nam chiếm nhiều hơn nữ trong tổng số dân nhập cư
hàng năm vào các đô thị lớn.
b. Đặc điểm dân di cư
Đặc điểm về cơ cấu lao động: Dòng người từ nông thôn tiến vào thành phố
ngày càng nhiều, hầu như là những người lao động tham gia vào các ngành như dịch
vụ, xây dựng, công nghiệp, chủ yếu là lao động làm công ăn lương. Một số vào thành
phố tìm công ăn việc làm có tính chất nhất thời và thời vụ.
8
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
giàu nghèo ảnh hưởng rất lớn đến việc quy hoạch, quản lý, xây dựng và phát triển nhà
ở. Sự phân tầng xã hội càng sâu sắc thì người thu nhập thấp càng khó mua được nhà.
Vì lúc đó khoảng cách giàu, nghèo là rất lớn, người giàu sẽ có đủ điều kiện sở hữu
những mảnh đất rộng lớn, những ngôi biệt thự mà người nghèo không bao giờ mua
được, làm cho giá đất bất động sản tăng mạnh, đẩy người nghèo càng xa hơn với ước
mơ được sở hữu ngôi nhà của mình.
b. Các loại nhà ở cho người thu nhập thấp dưới tác động của sự phân hóa giàu nghèo
trong đô thị
Trong thời kì bao cấp, Nhà Nước bao cấp luôn nhà ở cho cán bộ công nhân
viên. Họ sống trong những khu nhà tập thể được Nhà Nước hỗ trợ hoàn toàn. Tuy
nhiên, hiện nay đó là những khu nhà giành cho những người có mức thu nhập thấp,
những căn hộ trong các khu nhà tập thể và khu chung cư nhiều tầng, chúng đã bị sụp
xuống cấp một cách rất nghiêm trọng. Theo khảo sát tình hình nhà ở do Công đoàn
viên chức Việt Nam tiến hành, 19% số Cán bộ công nhân viên chức hiện đang thuê
nhà tập thể của Nhà Nước, 14,6% số Cán bộ công nhân viên chức mua nhà hóa giá tập
thể trước đây, 31% chưa có nhà ở phải ở nhờ, ở tạm; 4% số Cán bộ công nhân viên
chức phải thuê nhà cấp 4 không đảm bảo tiện nghi sinh hoạt chung; và chỉ có 31,4% số
Cán bộ công nhân viên chức mua được nhà riêng. Như vậy nhu cầu về nhà ở cho
người thu nhập thấp là rất lớn, Cán bộ công nhân viên cũng cũng thuộc bộ phận những
người có thu nhập thấp, hầu như đều sống trong các khu nhà tập thể, đã xuống cấp
hoàn toàn.
Một bộ phận khác của những người có thu nhập thấp là công nhân trong các
Mô hình cải tạo, nâng cấp nhà ở hiện có: là loại mô hình phổ biến nhất hiện nay
vì chi phí không cao
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG VỀ GIẢI QUYẾT NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP
THẤP TẠI TP.HCM VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
I. Thực trạng tại TP.HCM
1. Thực trạng về người thu nhập thấp tại TP.HCM
Theo Báo cáo về hoạt động ngành Lao động – Thương binh và Xã hội TP.HCM
tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2015, số hộ nghèo thành phố có thu nhập từ 16 triệu
đồng/người/năm trở xuống, hiện còn 19.482 hộ, chiếm tỷ lệ 0,99% hộ dân thành phố;
tổng số hộ cận nghèo có thu nhập trên 16-21 triệu đồng/người/năm trở xuống là 51.681
hộ, chiếm tỷ lệ 2,63% tổng hộ dân thành phố.
Nếu xét mức thu nhập bình quân đầu người theo các tiêu chí của TCTK và
ADB, thành phố có trên 50% dân số ở mức thu nhập thấp, chiếm hơn một nửa dân số
Theo Cục Quản lý nhà – Bộ xây dựng, tại khu vực TP.HCM hiện nay vẫn còn
hàng vạn hộ gia đình thuộc diện thu nhập thấp đang phải sống trong điều kiện chỗ ở
không đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu. Trên 30% các hộ gia đình có diện tích nhà ở dưới
36m2. Chỉ có 25% hộ gia đình có nhà ở kiên cố và 19% sống trong những căn hộ tạm
bợ. Theo đánh giá chung, có khoảng 15 – 20% hộ gia đình tại thành phố và trên 70%
công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung thực sự gặp khó khăn về chỗ ở
Cũng theo Cục quản lý nhà, hiện cả nước có trên 1,4 triệu cán bộ, công chức
hưởng lương ngân sách Nhà nước; trên 5 triệu công nhân, viên chức thuộc các thành
phần kinh tế khác, trong đó có khoảng 800.000 công nhân lao động làm việc tại các
khu công nghiệp, khu chế xuất. Kết quả điều tra cho thấy, có tới 31% cán bộ, công
chức, viên chức chưa có nhà ở phải ở ghép; 4% phải thuê tạm nhà của tư nhân để ở;
19% được thuê nhà chung cư thuộc sở hữu Nhà nước xây dựng trước năm 1990;
14,6% đã được mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước; 31,4% đã xây dựng được nhà riêng.
Tổng hợp kết quả điều tra cho thấy, có trên 32% số hộ gia đình cán bộ, công chức,
2. Thực trạng về nhà ở cho người có thu nhập thấp tại TP.HCM
Theo số liệu thống kê 2014, diện tích thành phố hiện nay là 2.095,6 km 2 dân số
ước tính khoảng 8 triệu người. Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký
thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người. Mật độ dân số bình quân
năm 2010 là 3.531 người/km2 Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên
khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Bên cạnh đó, Bộ xây dựng cho biết
diện tích nhà ở bình quân của người dân tại TPHCM hiện nay là 13,53m²/người
Theo một số liệu thống kê của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Bộ Xây
dựng, dự báo, đến năm 2020, nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp tại các đô thị lớn
sẽ vào khoảng 1 triệu căn, nhưng hiện nay nguồn cung mới chỉ đáp ứng khoảng hơn 10
nghìn căn/năm. Trong khi đó, số liệu thống kê mới nhất cho thấy, hiện nay Việt
Nam có 33,1% dân số, tương đương hơn 30 triệu người đang sinh sống tại các đô thị.
Trong khi sinh viên các trường đại học và cao đẳng tại phía Nam đang cần
khoảng 60 – 70.000 chỗ ở. Tuy nhiên hiện nay mới chỉ có khoảng 1.000 sinh viên
được ở trong các khu nhà ở xã hội. Số còn lại cũng phải tự thuê ở nhà dân.
Nhu cầu nhà ở của người thu nhập thấp rất lớn nhưng thị trường thường chỉ
cung ứng những sản phẩm giá cao. Hệ quả là hiện nay nhà ở cao cấp thì thừa những
những người thu nhập trung bình có nhu cầu nhưng không mua được nhà vẫn rất lớn
Những năm gần đây, tuy quỹ nhà thành phố có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng
hết nhu cầu về nhà ở của người dân thành phố. Thành phố đã xây dựng 1,3 triệu mét
vuông chỗ ở cho 450.000 công nhân, 8.263 căn nhà ở xã hội và 8.760 căn hộ dành cho
người thu nhập thấp
Trên cả nước hiện đã hoàn thành đầu tư xây dựng 102 dự án nhà ở xã hội; trong
đó có 38 dự án dành cho người thu nhập thấp với quy mô xây dựng 19.680 căn hộ,
tổng mức đầu tư đạt 6.810 tỉ đồng và 64 dự án nhà ở xã hội cho công nhân với 20.270
căn hộ, tổng mức đầu tư 4.440 tỉ đồng
3. Tình trạng CSHT của nhà ở cho người có thu nhập thấp
Về cấp nước: Hiện nay, trên địa bàn TP.HCM một số nơi vẫn còn chưa được
cung cấp nước sạch, người dân vẫn phải dùng nước giếng khoan để sinh hoạt, thậm chí
dùng làm nước uống hàng ngày , không đảm bảo vệ sinh nước sạch
phức tạp chỉ tính các thủ tục thuê, mua nhà ở thu nhập thấp, người dân đã phải chuẩn
bị hơn 10 loại giấy tờ. Việc xin xác nhận tình trạng nhà ở tại UBND xã, phường vô
cùng khó khăn
II. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp của
Singapore
Singapore được đánh giá là quốc gia có trình độ quản lý đô thị hàng đầu thế
giới hiện nay. Đó chính là kết quả của cả một quá trình hoạch định , thực thi chính
sách, phát triển, xây dựng và triển khai quy hoạch đô thị với mục tiêu đưa Singapore
trở thành đô thị hàng đầu thế giới.
Quy hoạch đô thị của Singapore đã thay đổi khá nhiều trong 4 thập kỉ qua kể từ
ngày đất nước dành độc lập.
Singapore phải đối mặt với nạn thất nghiệp, dân số gia tăng nhanh chóng tại
khu vực trung tâm thành phố, thiếu nhà ở cùng hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém. Diện
tích đất sử dụng hạn chế cộng với những yêu cầu cấp thiết từ dân cư khiến các nhà quy
hoạch đô thị Singapore phải đưa ra chính sách xây dựng phù hợp để phục vụ nhu cầu
sử dụng không chỉ hiện tại mà còn về lâu dài.
Khi nhà nước Singapore triển khai kế hoạch và thành lập một cơ quan chuyên
về nhà ở. Là Cơ quan phát triển nhà ở xã hội (HDB).
HDB thành lập năm 1960, được giao nhiệm vụ giải quyết khủng hoảng nhà ở
trên toàn Singapore thuộc Bộ Phát triển Quốc gia trong việc xây dựng nhà ở chất
lượng với giá phải chăng (public housing) .
HDB đã xây dựng 21.000 căn hộ chưa đầy 3 năm.
12
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
Quần thể quy mô, chất lượng nhà ở cho người có thu nhập thấp còn là thước đo
sự phát triển hệ thống an sinh xã hội và nâng cao chất lượng sống, quy định vẻ đẹp
kiến trúc, bộ mặt cảnh quan của một địa phươngvà toàn thể quốc gia, đồng thời khẳng
định trình độ quản lý xã hội của Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp, đặc
biệt là Thủ đô. Hơn nữa, vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp không chỉ là việc
tạo nơi ăn, chốn ở mới cho hàng ngàn hộ dân nằm trong diện giải phóng mặt bằng để
triển khai các dự án phát triển kinh tế – xã hội theo các quy hoạch quốc gia và địa
phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, mà còn bao gồm cả việc thu xếp nhà ở
để “an cư lạc nghiệp” cho hàng ngàn lao động từ nông thôn ra thành thị làm việc tại
các khu, cụm công nghiệp, các nhà máy, công trường, cũng như bố trí nhà ở cho các
cặp gia đình trẻ “tách hộ” khỏi nhà bố, mẹ để ra ở riêng, hoặc đáp ứng nhu cầu nhà ở
khác cho những người có thu nhập thấp gắn với quá trình xê dịch địa điểm làm việc,
13
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
nơi công tác, học tập, chữa bệnh và nghỉ dưỡng dài hạn, hoặc đơn thuần chỉ là để cải
thiện điều kiện ăn ở, sinh hoạt, không gian sống vốn quá khó khăn của mình. Quá trình
di chuyển các dòng dân cư và xác lập chỗ ở mới “bằng và tốt hơn chỗ ở cũ” cho các cư
dân này đã, đang và sẽ còn tiếp tục mở rộng và tăng tốc trong xu thế phát triển chung
năng động và dịch chuyển nhiều hơn của xã hội hiện đại, cũng như với quá trình tổng
tái cơ cấu các khu vực và hoạt động kinh tế – xã hội vĩ mô và vi mô trong nền kinh tế
chuyển đổi và đang phát triển như ở nước ta…
Theo nghĩa đó, có thể nói, việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người có thu nhập
thấp phải là một trong các mục tiêu ưu tiên hàng đầu nổi bật và bao quát của một thể
chế xã hội văn minh, nhất là một quốc gia muốn phát triển bền vững, và đặc biệt lựa
thuê nhà cho người thu nhập thấp thông qua hình thức lập quỹ nhà xã hội;
14
Tiểu luận: Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
tại thành phố Hồ Chí Minh
DH12QD
2. Chính sách về đất đai
a. Xây dựng kế hoạch sử dụng
Cần đầu tư có chiều sâu cho chính sách lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
hằng năm, 5 năm, 10 năm. Hạn chế việc giao đất cho từng hộ riêng lẻ, hợp tác xã nhà
ở được tham gia xây dựng phát triển nhà ở theo dự án.
b. Chính sách giao đất và thuê đất phù hợp với từng đối tượng
Cần có kế hoạch giao đất để lập dự án xây dựng nhà đền bù di dân trước tiến
hành giải phóng mặt bằng mở đường hoặc xây dựng. Có chính sách phù hợp với dãn
dân, đặc biệt tại các vùng thu hồi đất đai. Khuyến khích các cơ quan, hộ gia đình có
quỹ đất chưa sử dụng nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng nhà ở được chuyển đổi
mục đích sử dụng đất để xây dựng nhà ở.
c. Áp dụng chính sách lấy đô thị để nuôi đô thị
Mở rộng phạm vi đô thị, chọn khu đất phù hợp để xây dựng nhà ở cho người
thu nhập thấp, không nên xây dựng gần trung tâm thành phố vì chi phí sinh hoạt cao
và xa chỗ làm không tiện lợi cho người thu nhập thấp. Phải lựa chọn nhà đầu tư thích
hợp, có thể giảm thiểu chi phí xây dựng nhà, từ đó giảm giá nhà cho người thu nhập
thấp.
d. Chính sách thu hồi đất và giải phóng mặt bằng
Việc thu hồi đất và giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển nhà ở
phải thực hiện đúng theo quy định của nhà nước và UBND TP.HCM. Nhà nước cần
Không gian khu ở và tiện nghi cho nhà ở xã hội không phải là khoog gian đóng
tách biệt với bên ngoài mà nó phải tạo ra những cơ hội để người thu nhập thấp có thể
tiếp cận, vươn lên, có niềm tin vào cuộc sống tương lai, không tự ti với hiện tại.
Quy mô các khu nhà ở xã hội không nên quá lớn cả về đất đai cũng như chiều
cao nhằm han chế tối đa chi phí đầu tư cũng như chi phí vận hành của người sử dụng
sau này, mặc dù vậy cũng phải đảm bảo sự tiếp cận tối đa đến các dịch vụ.
Nhà ở xã hôi cần phải được sử dụng diện tích tối ưu, mật độ xây dựng tối đa mà
vẫn không ảnh hưởng tới cảnh quan môi trường toàn khu.
b. Về kiến trúc:
Kinh nghiệm trong nước và ngoài nước cho thấy nhà ở xã hội tại khu vực
TP.HCM nên thiết kế từ khoảng 9-15 tầng và các căn hộ có diện tích sàn khoảng 45,55
và 65 m2, không nên thiết kế căn hộ lớn
Trừ khu vệ sinh và bếp cố định thì còn lại các không gian nên bố trí linh hoạt,
tự do ngăn chia bằng nội thất theo yêu cầu của người sử dụng.
Nhà ở xã hội không phải là nhà rẻ tiền, chất lượng vật tư kém, chất lượng sống
kém. Mọi giải pháp thiết kế kể cả giá đất đều phải được tính toán khoa học hợp lý để
đưa đến giá căn hộ mà đông đảo người dân có thể chấp nhận được mà chất lượng công
trình, chất lượng sống được đảm bảo.
KẾT LUẬN
Vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp tại thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề
mang tính chiến lược, lâu dài, nó liên quan đến nhiều mặt của cuộc sống và nó gắn liền
với điều kiện sống của con người, của cộng đồng. Chúng ta không thể sống nếu không
có nhà ở, nhưng nhà ở lại không dễ dàng tạo ra được. Không những thế nhà ở cho
người có thu nhập thấp còn là một vấn đề mà bất cứ một quốc gia, một đô thị nào cũng
phải đối mặt. Nhiều nước đã giải quyết khá thành công, người có thu nhập thấp đã có
một chỗ ở ổn định như Singapore… Việt Nam là một nước đang phát triển, số người
thu nhập thấp còn rất nhiều, để có một ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của mình là rất
khó. Nếu chỉ dựa vào thu nhập của bản than, nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ
trợ cho người thu nhập thâp mua nhà. Thành phố Hồ Chí Minh cũng có nhiều dự án
17