Tiểu luận nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ việt nam - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU
VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1. Sự cần thiết khách quan của vấn đề nghiên cứu
Công cuộc đổi mới của nước ta hơn hai mươi năm qua đã và đang thu được
những thành tựu hết sức to lớn và quan trọng. Đóng góp vào những thành tựu đó là
sự phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp
này trong những năm qua không chỉ tăng lên về số lượng mà còn tăng lên cả về chất
lượng, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), sự
đóng góp của các doanh nghiệp (DN) này làm thay đổi diện mạo kinh tế nước ta.
Trong 7 năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam (CNCBGVN) tăng
trưởng với tốc độ bình quân khoảng 20%/năm về giá trị và sản xuất (SX) với lượng
sản phẩm chất lượng cao cho xuất khẩu (XK)[91]. Đặc biệt tốc độ tăng trưởng rất cao
sau khi Việt Nam (VN) thực hiện chính sách mở cửa để trở thành thành viên đầy đủ
của WTO. Hiện nay, cơ hội để sản phẩm (SP) gỗ VN bước vào thị trường toàn cầu
đang rộng mở. Tuy nhiên, ngành cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ thị
trường nội địa và quốc tế. Những thách thức, khó khăn đó đòi hỏi cần có sự đánh giá
đầy đủ nhằm duy trì mức tăng trưởng của ngành CBGVN. Trong những thách thức
đó, chất lượng nguồn nhân lực (CLNNL) là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển, thành công hay thất bại của DN. Hầu hết các DNCBVN có quy mô nhỏ và vừa
(khoảng 97%)[103], trình độ tay nghề NNL trong ngành CBG thấp và chủ yếu do
truyền nghề theo truyền thống, mặc dù cũng là đào tạo trong công việc nhưng hoàn
toàn không thể hiện được đó là NNL đã qua đào tạo. Số lượng các DNCBG tăng lên
ngày càng nhiều chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN trong cả cước, đã thu hút
được lực lượng lao động (LLLĐ) tham gia và ngày càng tăng lên với mọi trình độ
khác nhau, đặc biệt là NNL trẻ góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế (PTKT).
Đó là những thành tựu có ý nghĩa về mặt kinh tế–xã hội (KTXH) mà các DN vừa và
nhỏ mang lại: giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân cả nước.
Trong bối cảnh người lao động VN nói chung vẫn còn chịu ảnh hưởng của lề

coi là đã qua đào tạo. Thêm vào đó, khi thiếu NL các DN tìm cách thu hút nhân công
của nhau tạo nên biến động về NNL trong ngành rất lớn (20%–50%)

[91]

. Đội ngũ

công nhân kỹ thuật sử dụng máy móc thiết bị hiện đại và thợ mộc, trạm trổ, thiết kế
mẫu…thực sự cần thiết nhưng lại khan hiếm, các LĐPT lại không phù hợp với yêu
cầu công việc. Đó là một nghịch lý mà các DN trong ngành đang phải đối mặt.


3

Để nghiên cứu thực trạng NNL và nhu cầu thực tiễn về CLNNL trong các
DNCNCBG hiện đại VN thông qua tìm hiểu thực trạng NNL tại các DNCNCBG
hiện đại, qua thực tế thu hút và sử dụng lao động tại các DN, đồng thời tìm ra những
nguyên nhân còn tồn tại để từ đó hình thành các giải pháp nâng cao CLNNL các
DNCNCBG hiện đại VN. Đó là điều kiện cần để ngành CNCBG giữ vững tốc độ
tăng trưởng và từng bước phát triển bền vững, để nâng cao được lợi thế cạnh tranh
trên trường quốc tế, để gỗ luôn là ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Điều quan trọng nhất là hiện nay có rất nhiều tiêu chí khác nhau của các tác giả,
các trường phái khác nhau đánh giá về CLNNL. Tuy nhiên, sự không thống nhất
trong các quan điểm của các trường phái gây nên những tranh cãi, tạo ra nhiều cách
hiểu khác nhau cho người đọc. Vì vậy, NCS thấy cần phải xây dựng một hệ thống
các tiêu chí để đánh giá CLNNL cho ngành CNCBGVN, tạo sự thống nhất trong
đánh giá về NNL trong các DNCNCBG hiện đại này là hết sức quan trọng và cần
thiết. Đó còn là một sự trăn trở rất lớn đối với các nhà quản trị trong DN khi CLNNL
ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả hoạt động SXKD.
NNL trong hoạt động sản xuất kinh doanh có vị trí và vai trò hết sức quan

công nghệ, thái độ, sự tin tưởng, sự nhạy cảm, đặc tính cá nhân… của NNL[146]. Đây
hoàn toàn là cách đánh giá những nghiên cứu về NNL với tri thức, phong cách làm
việc, suy nghĩ và hành động dựa trên môi trường làm việc hiện đại và phát triển.
Trong cách đánh giá này đề cao ý thức, văn hóa, kỷ luật LĐ tốt dẫn đến nắm bắt,
nhận thức và hội tụ được các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sự thực hiện công
việc của NNL hiện đại. Trong cách nhìn nhận này cũng đề cao những tư tưởng và
giá trị cá nhân, những cảm nhận của bản thân mỗi người về ý nghĩa của cuộc sống và
những hoạt động để được xã hội công nhận công hiến của NNL. Tuy nhiên, nhược
điểm của sự đánh giá này ở chỗ: những giá trị về mặt tư tưởng này không phải bất cứ
một người nào, ở bất kỳ tầm nhận thức nào cũng có thể hiểu rõ được tư tưởng và giá
trị đó. Do đó, có những hiện tượng biến cái tư duy đó thành cái tôi cá nhân và tôn
thờ việc thỏa mãn cái tôi đó chứ không phải sự cống hiến trí tuệ để được công nhận
trong xã hội (XH).
Một nghiên cứu của William R.Racey trong cuốn The Human Resources
Glossary: The Complete Desk Reference for HR Executives, Managers, and
Practitioners (1991) đã nhìn nhận NNL của tổ chức là tất cả những người làm việc
trong tổ chức đó, là tài sản của tổ chức đó nhưng không giống tài lực hay vật lực,
mà tài sản này biết tạo ra các mối quan hệ, giao dịch và làm giàu cho tổ chức[153].
Chính vì có quan niệm như vậy nên việc đánh giá tài sản đó có chất lượng hay không


5

thì phải có kiến thức để làm việc, có ý thức làm việc để tạo ra của cải làm giàu cho
tổ chức.
Như vậy, có thể nói dưới mỗi góc nhìn khác nhau chúng ta lại có một quan
điểm để đưa ra những nhận xét và sử dụng làm thước đo về CLNNL theo quan điểm
tiêng đó. Để có những đánh giá thống nhất hơn đối với CLNNL, tổ chức Liên hợp
quốc đã đưa ra một thang đo mang tính tổng hợp: đó là trình độ lành nghề, là kiến
thức của toàn bộ cuộc sống của con người, là tiềm năng để phát triển KTXH và cho


2.2. Những nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, một số các công trình nghiên cứu khoa học mang
tính chuyên sâu có liên quan đến CLNNL trong các lĩnh vực khác nhau được công
bố. Nhiều tác giả có sự quan tâm và thấy sự nhức nhối trong vấn đề NNL VN nói
chung dồi dào về số lượng nhưng khan hiếm về chất lượng, đặc biệt là NNL chất
lượng cao. Do đó, sự tâm huyết thôi thúc các tác giả nghiên cứu về CLNNL trong
các ngành, các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế xã hội.
PGS.TS. Phùng Rân với bài “Chất lượng nguồn nhân lực, bài toán tổng hợp
cần có lời giải đồng bộ”[92] đã trăn trở với vấn đề CLNNL đã đưa ra nhận định rằng:
sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia (mang tầm vĩ mô) hay sự thành công
của một tổ chức (tầm vi mô) đều dựa vào NNL và trình độ có được của NNL đó.
Tuy nhiên, đến nay chưa có lời giải xác đáng cho vấn đề CLNNL này mặc dù luôn
có chiến lược phát triển NNL cho quốc gia và các chính sách NNL cho việc thực
hiện các chiến lược phát triển NNL đó. Vấn đề PGS.TS. Phùng Rân trăn trở không
chỉ là vấn đề của một thời điểm hay một thời kỳ nhất định, mà đó là một vấn đề cần
được quan tâm trong chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn của một quốc gia, một
ngành và của từng DN. Một quốc gia muốn phát triển, có sánh vai với tốc độ tăng
trưởng và phát triển của các nước phát triển hiện đại được hay không chủ yếu nhờ
vào lợi thế cạnh tranh về NNL. Đó là chìa khóa, là đầu mối của để có những quyết
sách và chiến lược thành công.
Cẩm nang ngành lâm nghiệp (2006) do kỹ sư Nguyễn Tôn Quyền – Phó chủ
tịch hiệp hội gỗ và Lâm sản VN chủ biên cùng với các kỹ sư Trịnh Vỹ, Huỳnh
Thạch và TS. Vũ Bảo đã cung cấp cho độc giả nói chung và những người nghiên cứu
về ngành CNCBG nói riêng một tài liệu những vấn đề cơ bản nhất về ngành
CNCBGVN: tài nguyên rừng VN, các cách phân loại gỗ và CBG cơ bản[88]. Từ
những kiến thức này có thể thấy sự liên quan trong việc khai thác, bố trí và sử dụng
NNL trong ngành.



nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Tuy nhiên, đó là nghiên cứu về
NNL trong quản lý Nhà nước chứ không phải trong các DN hoạt động KD.


8

Đề tài nghiên cứu khoa học làm luận án tiến sỹ “Nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Kim Diện
(2008) cũng đã đề cập đến CLNNL trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp. Những
phân tích đánh giá thực trạng NNL thực hiện công tác hành chính với những thành
công và hạn chế trong nhất định thuộc tỉnh Hải Dương, những phân tích đánh giá
này có thể là điển hình đại diện cho đội ngũ công chức hành chính nói chung nhưng
không đại diện cho NNL trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KHXH 05-03 (GS-TS. Nguyễn Phú
Trọng làm chủ nhiệm đề tài) “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” đã đúc kết và đưa ra
những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
KTXH. Nhưng như vậy, trong mọi hoạt động của đời sống KT không chỉ có đội ngũ
cán bộ, mà tham gia vào lực lượng LĐ một quốc gia, một ngành còn có đội ngũ công
nhân có thể qua đào tạo hoặc không qua đào tạo là LĐPT... Do đó, đề tài là một tài
liệu được tham khảo hữu ích nhất trong trường hợp liên quan đến cán bộ là công
chức trong các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý trong các
doanh nghiệp quốc doanh ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Vĩnh Giang (2004) đặt
trọng tâm tìm giải pháp nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
trong các DN quốc doanh. Đề tài cũng chưa chỉ rõ cần có các tiêu chí nào đánh giá
năng lực của NNL làm công tác quản lý. Thông qua phân tích về năng lực thực tế
làm việc của NNL làm công tác quản lý chính là một phần thể hiện CLNNL này.
Tuy nhiên, hầu hết các DN không chỉ có đội ngũ cán bộ quản lý mà còn có các đối

đó có ngành công nghiệp chế biến lâm sản.
Sách của tác giả Đặng Văn Phan (chủ biên) (1991), Đánh giá hiện trạng kinh tế
(công nghiệp, nông - lâm nghiệp, CNCB các tỉnh giáp biển miền Trung), Nxb Chính
trị Quốc gia. Thông qua các số liệu từ các niên giám thống kê của Trung ương và địa
phương, từ tài liệu điều tra cơ bản, từ các dự án qui hoạch của 7 tỉnh giáp biển miền
Trung, hệ thống theo 4 lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và CNCB mà
tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những nhận định và đánh giá về hiện trạng về công
nghiệp, nông lâm nghiệp, CNCB các tỉnh giáp biển miền Trung.
Ngoài các đề tài trên, NCS còn nghiên cứu, tham khảo các bài viết, các công
trình khoa học là các sách, các giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu chuyên khảo...


10

để hiểu biết thêm về vấn đề nghiên cứu và còn nhiều thắc mắc. Đặc biệt, các báo cáo
của Hiệp hội gỗ và Lâm sản VN đã cung cấp rất nhiều kiến thức và thông tin cho
NCS trong quá trình thực hiện.

2.3. Xác định phần lý luận và thực tiễn cần bổ sung
Qua việc nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học trước đó, kết hợp với thực
tế ngành CNCBG là một trong những ngành có tỷ trọng XK cao, đóng góp mức
tương đối lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển KTXH trong nước. Do đó,
NCS mạnh dạn lựa chọn vấn đề CLNNL trong các DNCNCBG làm đề tài nghiên
cứu.
- Các nghiên cứu nước ngoài có đưa ra một số tiêu chí làm thước đó CLNNL
(sự nhận thức, kỹ năng làm việc, ứng dụng công nghệ, thái độ, sự tin tưởng, sự nhạy
cảm, đặc tính cá nhân…). Tuy nhiên điều kiện và môi trường áp dụng giữa các quốc
gia, các châu lục không giống nhau, do đó, các tiêu chí chủ yếu để tham khảo;
- Xét trên bình diện tổng thể, các đề tài có nghiên cứu về CLNNL trong nước
có đề cập đến trình độ, phẩm chất, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thái độ... nhưng đều

nhanh NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một đột phá chiến lược”.
Nhiệm vụ nghiên cứu: tập trung làm rõ thực trạng chất lượng NNL trong các
DNCNCBG thông qua các tiêu chí được xây dựng làm thước đo về chất lượng NNL,
từ đó tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của NNL và các yếu tố ảnh hưởng chất
lượng NNL trong các DNCNCBGVN; Đưa ra các kiến nghị với Nhà nước, với Hiệp
hội Lâm sản và chế biến gỗ nhằm tạo ra tiền đề và cơ sở nâng cao chất lượng NNL
góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành và của quốc gia.

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Nguồn nhân lực (chủ yếu là công nhân SX) đang
làm việc tại các DNCNCBG hiện đại Việt Nam từ nguyên liệu gỗ tự nhiên (gỗ tròn
hoặc gỗ xẻ) và ván ép
Tiếp cận đối tượng nghiên cứu: một cách hiểu thông thường nhất, các SP lấy
gỗ làm nguyên liệu chính trong SX được gọi là SP mộc. Phạm vi SP mộc có thể sử
dụng trong công nghiệp quốc phòng, trong công nghiệp, trong việc SX dụng cụ thể
thao, trong kiến trúc hoặc dân dụng. SP mộc phục vụ quốc phòng có thể là thùng
đạn, báng súng, chuôi lựu đạn... Trong công nghiệp, các SP mộc như thân tàu, sàn
tàu, bánh lái, thoi dệt, thùng chứa, palet… SP mộc dùng trong thể thao thường là các
dụng cụ và phương tiện như thuyền đua, vợt cầu lông, vợt bóng bàn, vợt tenis, xà
đơn, xà kép… Trong vật dụng kiến trúc, SP mộc chủ yếu là khung cửa, ván sàn. Còn
lại SP gỗ dân dụng bao gồm đồ mộc gia dụng (bàn, ghế, giường, tủ khung gương,


12

bàn phấn) bút chì, bàn vẽ, điêu khắc gỗ, con dấu, đồ chơi, quạt gấp, bình phong,
nhạc cụ, nông cụ…;
Theo cách tiếp cận truyền thống từ phương Tây được xuất phát từ tiếng Anh,
thuật ngữ đồ mộc gia dụng (furniture) có được hiểu là thiết bị, đồ dùng kết hợp với
từ Mobile - Ý, Mobel – Đức, Meuble – Pháp. Do đó, đồ mộc gia dụng chính là



13

Để SX được các SP mộc gia dụng hiện đại, từ gỗ tự nhiên hay còn gọi là gỗ
tròn và ván nhân tạo tiến hành theo quy trình: xẻ gỗ, sấy gỗ, ra phôi gỗ (có thể ra
phôi gỗ trước rồi sấy sau), gia công phôi thô, dán gỗ (nếu cần thiết), uốn gỗ theo
định hình thiết kế của kiến trúc sản phẩm, gia công phôi tinh, lắp ráp các cụm chi
tiết, gia công cụm chi tiết, lắp ráp toàn bộ, trang sức thẩm mỹ theo thiết kế, hoàn
thiện SP.
Sấy

SP
hoàn
thiện

Pha
phôi

Trang
sức

Gia
công
phôi
thô
Lắp
ráp
toàn
bộ

. Sự phân tán của ngành CNCBGVN theo các vùng rất lớn nên không

thuận tiện cho nghiên cứu và tổng hợp các thông tin liên quan đến ngành.
Với khoảng 2600 DN nhưng không phải tất cả các DN đều tiến hành mọi công
công đoạn trong quy trình SX SP mộc gia dụng. Có DN chỉ chuyên xẻ gỗ từ gỗ tròn
và bán cho các DNCBG khác. Vì đây là một công đoạn cần được đầu tư máy chuyên
dụng với số vốn đầu tư trên mỗi máy là rất cao. Mỗi một LĐ kỹ thuật chính có thể
cần từ 2 đến 7 LĐ phụ cho công đoạn xẻ gỗ. Có DN chuyên KD phôi gỗ hoặc DN
chuyên SX ván nhân tạo đế bán cho các DN SX SP hoàn thành để sử dụng… Sự
hoạt động riêng lẻ tại mỗi công đoạn SX trong từng DN khác nhau giống như một
DN cực lớn có nhiều phân xưởng SX. Khi tiến hành khớp nối các công đoạn của
từng DN lại sẽ thành một chuỗi SX tạo ra các SP mộc hiện đại. Chính vì thế, NCS


14

không thể tiến hành khảo sát tại tất cả các DN trong ngành CNCBG. Việc nghiên
cứu các công đoạn trong các khâu SX khác nhau để có căn cứ xác định số lượng các
DN tiến hành khảo sát. Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận án về CLNNL
trong các DNCNCB SP mộc gia dụng hiện đại và NCS sử dụng thành thuật ngữ
ngắn gọn: các DNCNCBG hiện đại Việt Nam.
Như vậy, DNCNCBG hiện đại là thuật ngữ để chỉ DN đơn vị tiến hành SX theo
một trong các công đoạn hoặc toàn bộ các công đoạn của quy trình SX đồ mộc gia
dụng hiện đại. NNL SX trực tiếp được đào tạo tại các trường, lớp trong các cơ sở
đào tạo và có trình độ cấp bậc nhất định; làm việc dựa trên các loại máy móc, thiết bị
trong dây chuyền chế biến trong từng công đoạn nhất định. Còn các cơ sở SX đồ gỗ
truyền thống thường SX trọn bộ các khâu, các công đoạn chủ yếu được làm thủ công
để có được SP hoàn thiện và NNL thường được truyền nghề “cha truyền, con nối”
trong các dòng họ, các thế hệ con cháu trong gia đình.
Nghiên cứu NNL trong các DNCNCBG hiện đại, nghiên cứu quy trình SX SP

máy cắt mộng 1 đầu hoặc 2 đầu mộng nhiều thân... dùng đầu dao phay có dao cắt,
dao phay rãnh và dao phay đĩa tròn..., mộng hình đuôi én và nhiều mộng hình bậc
thang có thể tiến hành gia công trên thiết bị chuyên dùng; lỗ mộng và các loại lỗ tròn
chủ yếu là vị trí kết hợp của chi tiết, cụm chi tiết trong đồ gia dụng. Độ chính xác vị
trí và độ chính xác kích thước của lỗ có ảnh hưởng rất lớn đến cường độ chịu lực, sự
kết hợp và chất lượng của toàn bộ đồ gia dụng. Do đó gia công lỗ mộng và lỗ tròn
cũng là một thứ tự gia công rất quan trọng trong quá trình công nghệ gia công. Tùy
theo yêu cầu chi tiết có thể dùng dao phay định hình hoặc dao phay đầu tương ứng
gia công trên các loại máy phay.
Trong quá trình gia công chi tiết, thời gian gia công tiêu hao cho cắt gọt thường
nhỏ hơn rất nhiều so với thời gian phụ trợ tiêu hao cho việc lắp đặt, điều chỉnh, kẹp,
dịch chuyển… trên bàn làm việc máy công cụ. Việc giảm thời gian chạy không tải
của máy công cụ, giảm số lần lắp đặt và thời gian tháo của chi tiết gia công để giảm
lãng phí, tăng năng suất. Đây là phần công việc rất dễ gây ách tắc về tiến độ, gây mất
thẩm mỹ sản phẩm... Vì thế, trong khâu tinh chế này, yêu cầu sự thành thạo công
việc, kỹ năng nghề nghiệp, tính cách cẩn thận, tỷ mỷ, thận trọng và kiên nhẫn… luôn
được đề cao. Trường hợp NNL không làm đúng kỹ thuật và sai lệch chi tiết gia công
dẫn đến hỏng phải sửa chữa hay bỏ thành phế phẩm. Điều này không chỉ làm lãng
phí tài sản, chậm tiến độ, lãng phí công sức của các công đoạn gia công trước đó,
ảnh hưởng đến uy tín, tâm trạng và gây ra không khí nơi làm việc không được thoải


16

mái. Chính vì thế, yêu cầu về CLNNL trong khâu sơ chế không hoàn toàn giống
trong khâu tinh chế đồ mộc gia dụng trong các DNCNCBG.
Công đoạn lắp ráp SP và hoàn thiện SP mộc thông thường là trước tiên đem
chi tiết lắp ráp thành cụm các chi tiết, nếu cần thiết có thể gia công cụm chi tiết để
các chi tiết có thể kết nối mà không gây ra biến dạng SP do dùng sức ép trong kết
nối để hoàn thành lắp ráp toàn bộ. Một công việc cần thiết trong khâu hoàn thiện SP

SX SP thành các công đoạn trong quá trình SX để nghiên cứu; đưa ra định hướng
khắc phục những tồn tại cho một nguồn lực có tính chất quyết định tới mọi hoạt
động, tới sự phát triển và thành công hay sự suy thoái của một tổ chức. Chính vì vậy,
NCS thấy đây là một khoảng trống cần được tìm hiểu, cần được nghiên cứu với hy
vọng nghiên cứu của mình sẽ lấp được phần nào khoảng trống trong nghiên cứu
khoa học của một ngành kinh tế.
Từ việc nghiên cứu về quy trình SX các đồ mộc gia dụng trong ngành CNCBG
để tìm ra sự kết nối thống nhất trong quy trình SX khi phân loại NNL trong từng
khâu. Điều này rất quan trọng để tác giả có thể những và phân tích kỹ hơn vấn đề
nghiên cứu đặt ra. Với câu hỏi dưới góc độ của nhà quản lý: Làm thế nào để nâng
cao CLNNL cho các DNCNCBGVN? Vấn đề đặt ra chủ yếu chú trọng đến NNL làm
việc trực tiếp trong các khâu SX tại các DN, đây cũng là một vấn đề rất quan trọng
khiến cho hoạt động quản trị trong DN cũng gặp khó khăn, là một vấn đề ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả và hiệu quả SXKD của các DN, ảnh hưởng đến uy tín và hình
ảnh của DN, ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của DN trên thị trường… Chính vì
thế, nghiên cứu nguyên nhân thực trạng CLNNL làm việc trực tiếp thấp và tìm ra
biện pháp khắc phục nhằm nâng cao CLNNL trực tiếp cho các DNCNCBG, NCS
thấy có thể đặt ra các câu hỏi nghiên cứu để tiến hành khảo sát:
1- Đo lường CLNNL dựa vào các tiêu chí nào?
2- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới CLNNL trong các DNCNCBGVN?
3- Nhu cầu về NNL đối với các DNCNCBG hiện nay?
Có thể có rất nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng việc tìm tòi nghiên cứu để có câu
trả lời cho tất cả các câu hỏi đó không phải là dễ nên trong phạm vi luận án này NCS
cố gắng để làm sáng tỏ các câu hỏi nghiên cứu trên. Từ câu hỏi quản lý và câu hỏi
nghiên cứu, tác giả nhận thấy có thể đặt ra các vấn đề cần quan tâm tìm hiểu: chế độ
đãi ngộ tốt có thể giữ chân được NNL có chất lượng cao và có sức thu hút với NNL
vào DN; Nếu các DN và ngành có tiêu chuẩn trong tuyển chọn và đào tạo NNL có
thể sẽ nâng cao được CLNNL của ngành; Yêu cầu về SP trên thị trường càng khắt
khe khiến CLNNL càng được nâng cao để đáp ứng nhu cầu sản xuất; Nếu NNL
trong các DNCNCBG được đào tạo một cách bài bản thì CLNNL trong các

Phương pháp chuyên gia được tác giả sử dụng nhằm làm sáng tỏ hơn nữa các
nội dung nghiên cứu, đặc biệt là ý kiến của các chuyên gia giúp NSC trong đề xuất
mô hình và giải pháp nhằm nâng cao CLNNL cho các DNCNCBG. Tác giả đã tham
vấn ý kiến chuyên gia gồm các Thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, người
sử dụng lao động. Đó là những người có hiểu biết chuyên sâu, người có kinh nghiệm


19

trong nghiên cứu, giảng dạy, quản lý và sử dụng NNL tại các Trường đại học, Viện
nghiên cứu, Bộ lao động Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn lao động Việt
Nam và các DN điều tra.
4.2.4. Phương pháp điều tra xã hội học
Mục đích của khảo sát nghiên cứu là thu thập thông tin để xây dựng hệ thống
chỉ tiêu, nghiên cứu thực trạng và đánh giá CLNNL trong các DNCNCBG Việt Nam
từ đó xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao CLNNL trong
các DN này.

Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm thu thập nhưng thông tin về những đặc
điểm và CLNNL trong lĩnh vực đang nghiên cứu, đặc biệt là những chuyên gia và
nhà quản lý và NNL sản xuất trực tiếp trong các DNCBG. Các cuộc tọa đàm, phỏng
vấn sâu được tổ chức tại DN để thu thập ý kiến.
Mục đích phỏng vấn sâu các đối tượng khác nhau để nhận thông tin giúp NCS
có thể so sánh các thông tin thu thập được từ các đối tượng khác nhau, đánh giá tính
logic khoa học của kết quả phân tích định lượng với những thông tin phỏng vấn thu
thập được.
Công cụ nghiên cứu định tính được sử dụng gồm: các bản câu hỏi bán cấu
trúc dùng cho tọa đàm, phỏng vấn sâu, ghi lại câu chuyện điển hình.
Các nhóm đối tượng tham gia khảo sát định tính: quản lý (lãnh đạo), chuyên

NCS thực hiện quan sát các thao tác tại nơi làm việc, thái độ làm việc, thái độ
giao tiếp ứng xử, tác phong làm việc, khả năng xử lý tình huống của cán bộ quản lý
và công nhân SX trực tiếp… tại nơi làm việc của đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Cuộc khảo sát sẽ sử dụng bảng hỏi cấu trúc/bán cấu trúc để thu thập thông tin.
Mẫu khảo sát định lượng được xác định theo phương pháp chọn mẫu đa cấp, kết hợp
chọn điển hình với chọn ngẫu nhiên nhiều cấp.
Phương pháp: phát phiếu khảo sát đến người lao động trong DN, hướng dẫn
điền phiếu và bổ sung thông tin phù hợp cùng với các đối tượng được phỏng vấn
trong trường hợp cần thiết.
Mẫu điều tra: Mẫu điều tra được xác định theo phương pháp chọn mẫu đa
cấp, kết hợp chọn điển hình với chọn ngẫu nhiên nhiều cấp để lựa chọn địa bàn và
đối tượng điều tra. Các bước tiến hành chọn mẫu điều tra thực hiện như sau:


21

Bước 1. Đơn vị chọn mẫu cấp 1: tỉnh
Ngành CNCBGVN vừa có tính tập trung, vừa có sự phân tán nhất định. Việc
hình thành các cụm CNCBG đã giảm bớt sự phân tán của ngành với 3 cụm lớn là
Bình Dương – TP.Hồ Chí Minh gồm các tỉnh miền Đông Nam Bộ, TP. HCM, Đồng
Nai và Bình Dương; cụm Bình Định – Tây Nguyên gồm các tỉnh Tây nguyên và
Nam Trung Bộ; cụm Hà Nội – Bắc Ninh gồm Hà Nội, Bắc Ninh và các tỉnh lân cận
Hà Nội.
Để đảm bảo tính đại diện 4 tỉnh được chọn để khảo sát là Hà Nội, Bắc Ninh,
Bình Định và Bình Dương. Đây là những tỉnh tập trung nhiều doanh nghiệp CNCBG
cũng như có đội ngũ lao động đông đảo trong lĩnh vực này.

Bước 2. Đơn vị chọn mẫu cấp 2: Chọn doanh nghiệp

1 - 2 lao động làm việc gián tiếp (bằng phiếu hỏi)

-

Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý (1 - 2 người), chuyên gia (1 - 2 người), lao
động làm việc trực tiếp (1 – 2 người)

Kết quả khảo sát


22

Hợp phần điều tra

Bảng 1. Quy mô mẫu và kết quả khảo sát
Quy mô mẫu
Quy mô mẫu
Kết quả khảo sát
(1 tỉnh)
(4 tỉnh)
(4 tỉnh)
Số
Số đối
Số
Số đối
Số
Số đối
lượng
tượng
lượng

40

40

40

Phiếu NNL trực tiếp

100

400

370

Phiếu NNL gián
tiếp

20

80

69

Các công đoạn sản xuất của các DNDNDBG hiện đại được chia thành 3 khâu:
Khâu sơ chế, khâu tinh chế, khâu lắp ráp và hoàn thiện. Có những DN chỉ tiến hành
thực hiện một khâu, hoặc một số công đoạn trong một khâu chứ không thực hiện
toàn bộ các khâu của quá trình SX. Nếu trong một DN thực hiện đầy đủ cả 3 khâu
trong quá trình SX ra SP hoàn thiện, công nhân SX trực tiếp thường được các DN bố
trí với tỷ lệ: khâu sơ chế chiếm khoảng 20%-25%, khâu tinh chế khoảng 40-45%,
khâu lắp ráp và hoàn thiện khoảng 35%-40% so với tổng số công nhân trực tiếp sản

một cách nhìn mới trong việc sử dụng các tiêu chí đã xây dựng trong mô hình làm
thước đo CLNNL cho một ngành kinh tế của đất nước.

5. Ý nghĩa và những đóng góp của luận án
5.1. Ý nghĩa lý luận
- Nghiên cứu đề tài là một quá trình vận dụng các PP nghiên cứu vào nhận diện
một vấn đề đang được quan tâm trong sự phát triển KT một quốc gia nói chung và
một ngành KT nói riêng, chính là việc chỉ ra trong một ngành KT đó chất lượng
NNL hiện tại thể hiện năng lực cạnh tranh của một ngành và của đất nước.
- Qua việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích đề tài nhằm đóng góp thêm một phần
lý luận về CLNNL cho một ngành, tác giả hy vọng sự đóng góp này làm phong phú
thêm nguồn lý luận và kinh nghiệm cho sự tiếp cận và phân tích các công trình khoa
học về CLNNL sau này của tác giả, đồng thời có thể giúp cung cấp thông tin cho
những người nghiên cứu khoa học khác có quan tâm.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ngành CNCBG là một trong những ngành kinh tế chủ lực trong XK và nhu cầu
sử dụng NNL rất lớn nhưng hiện tại CLNNL thấp. Thực tế các DNCNCBGVN hầu
hết có quy mô nhỏ và vừa, thậm chí rất nhỏ nên khả năng tự đào tạo trong DN yếu.
Do đó, đề tài nghiên cứu làm sáng rõ thêm tình hình CLNNL của các DNCNCBG


24

hiện nay, đồng thời chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới CLNNL và việc nâng cao
CLNNL cho các DNCNCBGVN.

5.3. Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa vấn đề lý luận về NNL và CLNNL;
- Đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá CLNNL làm thước đo về CLNNL trong

(5) Đào tạo công nhân kỹ thuật hiện còn đang thiếu kiến thức về các chuyên
sâu: Khoa học gỗ, Công nghệ ván nhân tạo, Công nghệ sấy và bảo quản lâm sản,
Công nghệ trang sức và hoàn thiện sản phẩm, Máy và thiết bị chế biến lâm sản.
- Nhóm giải pháp nâng cao thể lực và tâm lực
+ Tạo động lực cho NNL nhằm nâng cao thể lực và tâm lực bằng cách:
(1) Tăng cường tiếp xúc và đàm phán thương mại mở rộng tạo cơ hội cho NNL
học tập, hiểu biết về môi trường kinh doanh quốc tế;
(2) Sử dụng cán bộ Công đoàn chuyên trách trong cải thiện các chế độ thù lao.
+ Bố trí và sử dụng hợp lý NNL giúp nâng cao thể lực và tâm lực bằng cách:
(1) Giảm dần tỷ lệ lao động nữ;
(2) Luân chuyển công nhân kỹ thuật giữa khâu ra phôi và tinh chế;
(3) Không sử dụng lao động phổ thông trừ lao động phụ máy.
Tất cả các kết quả nghiên cứu và các giải pháp có thể dùng làm cơ sở hoạch
định chiến lược NNL trong các DNCNCBGVN, làm tài liệu tham khảo cho giảng
dạy và nghiên cứu về CLNNL trong các DNCNCBGVN.
Mọi vấn đề đặt ra cho quá trình nghiên cứu, tác giả đều hy vọng có thể giải
quyết được trọn vẹn, tuy nhiên không thể tránh được khiếm khuyết. Tác giả mong
nhận được những ý kiến đóng góp chân thành có luận án hoàn thiện và sâu sắc hơn.

6. Kết cấu của luận án
Ngoài danh môc c¸c b¶ng, biÓu; danh môc c¸c tõ viÕt t¾t; danh mục tài liệu
tham khảo; phụ lục. Những nội dung của luận án được chia làm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thức tiễn về chất lượng nguồn nhân lực trong các
doanh nghiệp
Chương 2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công
nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp
công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status