Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ việt nam - Pdf 19

i

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU viii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ix

PHẦN MỞ ĐẦU VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN 1

1.

Sự cần thiết khách quan của vấn đề nghiên cứu 1

2.

Những nghiên cứu có liên quan 4

2.1.

Một số nghiên cứu nước ngoài 4

2.2.


5.

Ý nghĩa và những đóng góp của luận án 23

5.1. Ý nghĩa lý luận 23

5.2. Ý nghĩa thực tiễn 23

5.3. Những đóng góp mới của luận án 24

6.

Kết cấu của luận án 25

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 26

1.1.

Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 26

1.1.1.

Nguồn nhân lực 26

ii

1.1.2.

Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 31

1.3.1.1.

Xu thế hội nhập quốc tế 51

1.3.1.2.

Chính sách phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam 54

1.3.1.3.

Nhu cầu thị trường lao động 55

1.3.2.

Những yếu tố bên trong 56

1.3.2.1.

Đánh giá nguồn nhân lực 56

1.3.2.2.

Giáo dục và đào tạo 57

1.3.2.3. Tuyển chọn nhân lực 59

1.3.2.4. Điều kiện làm việc 60

1.3.2.5. Thù lao cho nguồn nhân lực 61


1.5.5.

Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh
nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 76

Chương 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM 78

2.1. Khái quát ngành nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 78

2.1.1. Lịch sử phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 78

2.1.2. Đặc điểm ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 80

2.1.3. Sự phát triển doanh nghiệp và đặc điểm nguồn nhân lực trong các doanh
nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 85

2.1.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ 93

2.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công nghiệp chế
biến gỗ Việt Nam 95

2.2.1. Chất lượng nguồn nhân lực thông qua trí lực 95

2.2.1.1. Trình độ học vấn 95

2.2.1.2. Kỹ năng nghề nghiệp 97

2.2.1.3. Kiến thức chuyên môn 102



2.3.4.

Mức độ an toàn trong lao động sản xuất 117

2.3.5.

Việc thực hiện các quy định của Nhà nước và mức độ hài lòng của người lao
động 118

2.3.6.

Ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp 122

2.4. Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công
nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 124

2.4.1. Những thành tựu 124

2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế 125

Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT
NAM 129

3.1. Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 129

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công
nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 140


BQP Bộ Quốc phòng
BYT Bộ Y tế
CLNNL Chất lượng nguồn nhân lực
CBG Chế biến gỗ
CĐ Cao đẳng
CN Công nghiệp
CNCBG Công nghiệp chế biến gỗ
CNCBGVN Công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐB Đồng bằng
ĐH Đại học
DN Doanh nghiệp
DNLD Doanh nghiệp liên doanh
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNNNN Doanh nghiệp ngoài nhà nước
GS.TS Giáo sư. Tiến sỹ
HĐ Hợp đồng
KCN Khu công nghiệp
KD Kinh doanh
KT Kinh tế
KTXH Kinh tế - xã hội
LĐ Lao động
LĐPT Lao động phổ thông
LLLĐ Lực lượng lao động
NCS Nghiên cứu sinh
NL Nhân lực
NNL Nguồn nhân lực
vi

Nxb Nhà xuất bản

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Số Tên bảng Trang
1 Quy mô mẫu và kết quả khảo sát 22
1.1 Phân loại sức khỏe theo thể lực 48
2.1. Số lượng và phân bố các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 86
2.2. Quy mô doanh nghiệp phân chia theo lao động 87
2.3 Quy mô doanh nghiệp phân chia theo nguồn vốn 88
2.4. Nguồn nhân lực trong các DNDNCBG Việt Nam 89
2.5. Phân loại doanh nghiệp chế biến gỗ theo thành phần kinh tế 91
2.6. Cơ cấu sử dụng nguyên liệu gỗ của các DNCNCBGVN 95
2.7. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ tại 3 thị trường chính 95
2.8. Số liệu khảo sát về trình độ học vấn NNL các DNCNCBGVN 97
2.9.
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động SXKD của các
DNCNCBGVN
98
2.10
Kỹ năng làm việc theo nhóm của lao động trực tiếp trong các
DNCNCBG gỗ hiện đại Việt Nam
100
2.11
Khả năng hiểu biết về hóa chất trong ngành của NNL trong các
DNCNCBG hiện đại Việt Nam
101
2.12 Tỷ lệ đào tạo nghề của NNL trong các DNCNCBG hiện đại 103
2.13 Số nhân lực đào tạo dài hạn về chế biến gỗ sau khi vào DN 104
2.14 Chiều cao của NNL trong các DNCNCBG hiện đại Việt Nam 107
2.15 Cơ cấu cân nặng của NNL trong các DNCNCBG hiện đại VN 108

120
2.24 Chế độ đãi ngộ NNL các DNCNCBG tại Bình Định 121
2.25
Mức độ hài lòng đối với chế độ đãi ngộ NNL trong các
DNCNCBG hiện đại Việt Nam
122
2.26
Văn hóa ảnh hưởng đến cách làm việc của NNL trong các
DNCNCBG gỗ hiện đại Việt Nam
124
2.27 Những nguyên nhân nguồn nhân lực thích làm việc độc lập 124
3.1. Yêu cầu về trí lực NNL trong các DNDNCBGVN đến năm 2025 150
3.2 Yêu cầu về thể lực và tâm lực NNL trong các DNCNCBGVN 161

DANH MỤC CÁC BIỂU
Số Tên biểu Trang
2.1. Sự phân bố doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam 87
2.2. Cơ cấu DNCNCBG gỗ chia theo quy mô nguồn vốn 89
2.3 Nguồn nhân lực trong CNCBG phân chia theo vùng kinh tế 90
2.4 Cơ cấu loại hình doanh nghiệp trong CNCBG Việt Nam 91
2.5 Cơ cấu thị trường xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ Việt Nam 92
2.6
Tỷ lệ nhân lực làm việc tại các khâu chế biến trong quá trình sản
xuất tại các DNCNCBG hiện đại Việt Nam
93
2.7 Sự phân bố rừng nguyên liệu cho các DNCNCBGVN 94
2.8
Tỷ lệ trình độ học vấn NNL các DNCNCBGVN
97
2.9. Số lượng lao động trực tiếp được đào tạo kỹ năng nghề 99

Mức độ hài lòng của NNL đối với chế độ đãi ngộ của các
DNCNCBG hiện đại Việt Nam
123

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số Tên sơ đồ Trang
1.
Cấu thành quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm mộc
13
1.1
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL trong các
DNCNCBG hiện đại Việt Nam
65
1.2
Mô hình các tiêu chí đánh giá chất lượng NNL trong các
DNCNCBG hiện đại Việt Nam
70 x


[103]
, trình độ tay nghề NNL trong ngành CBG thấp và chủ yếu do
truyền nghề theo truyền thống, mặc dù cũng là đào tạo trong công việc nhưng hoàn
toàn không thể hiện được đó là NNL đã qua đào
tạo. Số lượng các DNCBG tăng lên
ngày càng nhiều chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN trong cả cước, đã thu hút
được lực lượng lao động (LLLĐ) tham gia và ngày càng tăng lên với mọi trình độ
khác nhau, đặc biệt là NNL trẻ góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế (PTKT).
Đó là những thành tựu có ý nghĩa về mặt kinh tế–xã hội (KTXH) mà các DN vừa và
nhỏ mang lại: giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân cả nước.
Trong bối cảnh người lao động VN nói chung vẫn còn chịu ảnh hưởng của lề
lối, phong cách làm việc của cơ chế KT cũ nhưng môi trường kinh doanh (KD)
2

thường xuyên biến động và thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, hội nhập KT
khu vực và thế giới nên VN không thể đứng ngoài quỹ đạo phát triển chung toàn
cầu. Do vậy, có những vấn đề cần quan tâm là NNL trong các DN này có đủ trình độ
đáp ứng yêu cầu công việc trong hoàn cảnh mới không, có nâng cao trình độ để thích
nghi với tốc độ phát triển, với xu hướng phát triển của nền KTXH của đất nước hay
không? Trong các báo cáo chính thức, VN luôn khẳng định mình là một quốc gia có
NNL dồi dào, có khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển KTXH. Tuy nhiên, trên
thực tế CLNNL Việt Nam còn thấp và thiếu rất nhiều LĐ có trình độ cao, đặc biệt là
LĐ trực tiếp.
Ngành gỗ đang trong giai đoạn phát triển với tốc độ trung bình 20%/năm, là
một trong 5 ngành hàng XK chủ lực của quốc gia. Năm 2010, kim ngạch XK gỗ và
các SP gỗ đạt 3 tỷ USD trong 71 tỷ USD tổng kim ngạch XK hàng hóa. Năm 2011,
kim ngạch XK gỗ và các SP gỗ chiếm 4,2 tỷ USD trong 96,3 tỷ USD
[91]
. NNL có tay

Điều quan trọng nhất là hiện nay có rất nhiều tiêu chí khác nhau của các tác giả,
các trường phái khác nhau đánh giá về CLNNL. Tuy nhiên, sự không thống nhất
trong các quan điểm của các trường phái gây nên những tranh cãi, tạo ra nhiều cách
hiểu khác nhau cho người đọc. Vì vậy, NCS thấy cần phải xây dựng một hệ thống
các tiêu chí để đánh giá CLNNL cho ngành CNCBGVN, tạo sự thống nhất trong
đánh giá về NNL trong các DNCNCBG hiện đại này là hết sức quan trọng và cần
thiết. Đó còn là một sự trăn trở rất lớn đối với các nhà quản trị trong DN khi CLNNL
ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả hoạt động SXKD.
NNL trong hoạt động sản xuất kinh doanh có vị trí và vai trò hết sức quan
trọng. Doanh nghiệp có thể đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhưng máy móc không
thể thay thế được toàn bộ công việc trong doanh nghiệp, máy móc thiết bị chỉ là
công cụ hoạt động dưới sự điều khiển và quản trị của NNL. Nâng cao chất lượng
NNL để NNL sử dụng, quản trị được máy móc, thiết bị tốt hơn và đặc biệt là quản trị
được chính NNL tốt hơn. Do vậy, vị trí và vai trò của NNL và nâng cao chất lượng
NNL là không thể thiếu, mang tính chất quyết định sự thành bại của DN.
Về mặt tương lai lâu dài, đó chính là sự tăng trưởng và phát triển của DN trong
ngành; là uy tín, thương hiệu của một ngành KT tạo nên sức cạnh tranh quốc gia.
Như vậy, vấn đề đặt ra cần có câu trả lời thoả đáng và rất cần thiết cho các
DNCNCBG là “Làm thế nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực?”. Đây là một
câu hỏi rất cần thiết cho các nhà quản lý NNL không chỉ trong ngành CNCBG, mà
có thể cho các ngành khác. Điều đó cần được tìm hiểu, phân tích, đánh giá thông qua
nhu cầu thực tiễn về CLNNL về thái độ, kiến thức, kỹ năng, thể chất của họ để tìm
ra đâu là nguyên nhân khiến cho CLNNL trong các DNCNCBG thấp như hiện nay.
4

Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn này, NCS chọn chủ đề “Nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt
Nam” làm luận án tiến sỹ.
2. Những nghiên cứu có liên quan
2.1. Một số nghiên cứu nước ngoài

Chính vì có quan niệm như vậy nên việc đánh giá tài sản đó có chất lượng hay không
5

thì phải có kiến thức để làm việc, có ý thức làm việc để tạo ra của cải làm giàu cho
tổ chức.
Như vậy, có thể nói dưới mỗi góc nhìn khác nhau chúng ta lại có một quan
điểm để đưa ra những nhận xét và sử dụng làm thước đo về CLNNL theo quan điểm
tiêng đó. Để có những đánh giá thống nhất hơn đối với CLNNL, tổ chức Liên hợp
quốc đã đưa ra một thang đo mang tính tổng hợp: đó là trình độ lành nghề, là kiến
thức của toàn bộ cuộc sống của con người, là tiềm năng để phát triển KTXH và cho
cộng đồng. Tuy nhiên, đây là một cách nhìn tổng quát về CLNNL chung cho tất cả
các quốc gia, các ngành và các tổ chức có sử dụng nguồn lực con người. Nếu áp
dụng cách đánh giá này cho các ngành riêng lẻ, cho từng DN trong mỗi lĩnh vực hoạt
động khác nhau sẽ không có tính cụ thể và chính xác. Do đó, tùy theo từng khu vực,
từng ngành nghề với môi trường sống và làm việc khác nhau cần có các tiêu thức chi
tiết và cụ thể hơn để đánh giá về CLNNL.
Tác giả Gill Palmer – Trường đại học Wollongong (New South Wales,
Australia), Bà đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau. Đặc biệt trong cuốn
British Industrial Relations (1993) cùng với tác giả Howard F.Gospel, đã tìm hiểu
mối quan hệ giữa người LĐ và người sử dụng LĐ trong quan hệ LĐ ở Anh và đánh
giá về CLNNL thông qua mối quan hệ đó
[132]
. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có môi
trường, điều kiện sống và làm việc, tốc độ phát triển kinh tế không giống nhau nên
các đánh giá mang tính chất tham khảo, áp dụng trong từng thời kỳ hoặc thời điểm
nhất định.
Ian Saunders – Trường Queensland University of Technology trong đề tài
nghiên cứu Understanding quality leadership (1996) đã chỉ ra các đặc điểm để đánh
giá NNL nhưng chủ yếu là NNL quản lý. Ông cho rằng nếu người quản lý làm tốt
chức năng và vai trò lãnh đạo của mình thì các nhân viên khác sẽ phục tùng và làm

ngành và của từng DN. Một quốc gia muốn phát triển, có sánh vai với tốc độ tăng
trưởng và phát triển của các nước phát triển hiện đại được hay không chủ yếu nhờ
vào lợi thế cạnh tranh về NNL. Đó là chìa khóa, là đầu mối của để có những quyết
sách và chiến lược thành công.
Cẩm nang ngành lâm nghiệp (2006) do kỹ sư Nguyễn Tôn Quyền – Phó chủ
tịch hiệp hội gỗ và Lâm sản VN chủ biên cùng với các kỹ sư Trịnh Vỹ, Huỳnh
Thạch và TS. Vũ Bảo đã cung cấp cho độc giả nói chung và những người nghiên cứu
về ngành CNCBG nói riêng một tài liệu những vấn đề cơ bản nhất về ngành
CNCBGVN: tài nguyên rừng VN, các cách phân loại gỗ và CBG cơ bản
[88]
. Từ
những kiến thức này có thể thấy sự liên quan trong việc khai thác, bố trí và sử dụng
NNL trong ngành.
7

Hiệp hội gỗ và Lâm sản VN là một trung tâm cung cấp rất nhiều thông tin về
ngành cũng như về các đối tác nước ngoài cho các cá nhân và DN trong ngành
CNCBG. Các DN lớn như Trường Thành không chỉ có nghiên cứu về thị trường KD
trong nước và trên thế giới, mà Tổng giám đốc-Ông Võ Trường Thành-một người có
rất nhiều thành công trong xây dựng và phát triển DN trong ngành CNCBG, đã có
những trải nghiệm trong quản lý NNL và phát triển NNL của Trường Thành. Trường
Thành là một doanh nghiệp lớn trong ngành CNCBG Việt Nam, có sự ảnh hưởng
nhất định trong các hoạt động của ngành. Ngoài ra, Trường Thành còn liên kết với
một trung tâm của Đức trong việc gây dựng Trung tâm đào tạo cho LĐ kỹ thuật cho
DN và cho DN khác có nhu cầu và cho cả học viên nước ngoài. Đó là một trong
những thắng lợi và tự hào của ngành CNCBGVN.
Ngoài ra, với sự hiểu biết và tâm huyết của bản thân với Ngành CNCBGVN, kỹ
sư Nguyễn Tôn Quyền còn nhiều bài viết, những nhận định và đánh giá về Ngành và
NNL trong ngành ở từng giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của
Ngành

đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” đã đúc kết và đưa ra
những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
KTXH. Nhưng như vậy, trong mọi hoạt động của đời sống KT không chỉ có đội ngũ
cán bộ, mà tham gia vào lực lượng LĐ một quốc gia, một ngành còn có đội ngũ công
nhân có thể qua đào tạo hoặc không qua đào tạo là LĐPT Do đó, đề tài là một tài
liệu được tham khảo hữu ích nhất trong trường hợp liên quan đến cán bộ là công
chức trong các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý trong các
doanh nghiệp quốc doanh ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Vĩnh Giang (2004) đặt
trọng tâm tìm giải pháp nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
trong các DN quốc doanh. Đề tài cũng chưa chỉ rõ cần có các tiêu chí nào đánh giá
năng lực của NNL làm công tác quản lý. Thông qua phân tích về năng lực thực tế
làm việc của NNL làm công tác quản lý chính là một phần thể hiện CLNNL này.
Tuy nhiên, hầu hết các DN không chỉ có đội ngũ cán bộ quản lý mà còn có các đối
tượng khác. Do đó, đề tài này không thể là đại diện đầy đủ trong việc phân tích về
CLNNL của một DN.
Đề tài “Các giải pháp chủ yếu nâng cao CLNNL phục vụ nhu cầu CNH, HĐH
đất nước” của tác giả Phan Thanh Tâm (2000) chú trọng phân tích thực trạng NNL
trong nước và đưa ra các giải pháp có thể giúp nâng cao được CLNNL trong quá
trình CNH, HĐH đất nước.
9

Với quan điểm phát triển NNL cũng nhằm nâng cao CLNNL, NCS tham khảo
đề tài “Phát triển NNL trong DN vừa và nhỏ của Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế” của tác giả Lê Thị Mỹ Linh (2009) đã phân tích, đánh giá thực tiễn để hiểu
rõ những mặt được và chưa được về phát triển NNL trong các DN vừa và nhỏ ở VN.
Một trong những đặc điểm chung tương đồng trong đề tài của tác giả Lê Thị Mỹ
Linh và NCS là: hầu hết là các DNCNCBG có quy mô vừa và nhỏ nên NCS tham
khảo một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác phát triển NNL chủ yếu cho các DN

tế ngành CNCBG là một trong những ngành có tỷ trọng XK cao, đóng góp mức
tương đối lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển KTXH trong nước. Do đó,
NCS mạnh dạn lựa chọn vấn đề CLNNL trong các DNCNCBG làm đề tài nghiên
cứu.
- Các nghiên cứu nước ngoài có đưa ra một số tiêu chí làm thước đó CLNNL
(sự nhận thức, kỹ năng làm việc, ứng dụng công nghệ, thái độ, sự tin tưởng, sự nhạy
cảm, đặc tính cá nhân…). Tuy nhiên điều kiện và môi trường áp dụng giữa các quốc
gia, các châu lục không giống nhau, do đó, các tiêu chí chủ yếu để tham khảo;
- Xét trên bình diện tổng thể, các đề tài có nghiên cứu về CLNNL trong nước
có đề cập đến trình độ, phẩm chất, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thái độ nhưng đều
chưa đưa ra một mô hình cụ thể xác định các tiêu chí làm thước đo đánh giá về
CLNNL một quốc gia nói chung, hay của một ngành nói riêng;
- Xét trên phương diện chuyên sâu, cho đến nay vẫn chưa có một đề tài cụ thể
nào nói về CLNNL trong các DNCNCBG cả về chiều sâu và chiều rộng, tổng quát
hay chi tiết.
Do vậy, tác giả hy vọng đề tài nghiên cứu về CLNNL các DNCNCBG hiện đại
này được xem xét, phân tích và quan tâm thông qua mô hình các tiêu chí đánh giá
CLNNL trong các DNCNCBG Việt Nam.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá CLNNL trong các DNCNCBG VN;
- Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong các DNCNCBG Việt Nam;
- Nghiên cứu thực trạng CLNNL trong các DNCNCBG thông qua các tiêu chí
được xây dựng làm thước đo về CLNNL;
- Xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng CLNNL trong các DNCNCBG;
11

- Xây dựng các giải pháp nâng cao CLNNL trong các DNCNCBGVN;
- Đưa ra các kiến nghị với Nhà nước, với Hiệp hội gỗ và Lâm sản VN nhằm
tạo ra tiền đề và cơ sở phát triển ngành bền vững cho ngành và nâng cao lợi thế cạnh

bàn phấn) bút chì, bàn vẽ, điêu khắc gỗ, con dấu, đồ chơi, quạt gấp, bình phong,
nhạc cụ, nông cụ…;
Theo cách tiếp cận truyền thống từ phương Tây được xuất phát từ tiếng Anh,
thuật ngữ đồ mộc gia dụng (furniture) có được hiểu là thiết bị, đồ dùng kết hợp với
từ Mobile - Ý, Mobel – Đức, Meuble – Pháp. Do đó, đồ mộc gia dụng chính là
những SP dùng trong gia đình có thể chuyển dịch
[43]
.
Theo cách tiếp cận mới, khái niệm về SP mộc hiện đại đã có những thay đổi
và mang nghĩa rộng hơn. Đồ mộc gia dụng hiện đại không những là các SP dùng
trong gia đình, mà còn rất nhiều những SP mộc nội thất tại các cơ quan, công sở, các
khu sinh hoạt công cộng trong nhà và ngoài trời. Đồ mộc gia dụng hiện đại có thể
chuyển dời và cũng có thể được gắn cố định trên mặt đất hoặc trên vật kiến trúc
khác. Nguyên liệu để SX đồ mộc gia dụng hiện đại ngoài gỗ còn có các vật liệu phi
gỗ (song, mây, tre, nứa, kim loại, nhựa tổng hợp…). Cũng từ cách tiếp cận mới này,
đồ mộc gia dụng hiện đại có nhiều cách phân loại khác nhau có thể theo nguồn gốc
vật liệu, theo chức năng sử dụng, theo kiểu dáng sản phẩm, theo vị trí đặt SP, theo
phong cách sử dụng…
[43]

Trong phạm vi luận án này, NCS sử dụng sự phân loại theo nguồn gốc vật
liệu của SP mộc gia dụng. Theo cách phân loại này, đồ mộc gia dụng hiện đại được
chia thành 9 loại: (1)Đồ mộc từ gỗ tự nhiên; (2)Đồ mộc từ ván nhân tạo như ván
dăm, ván sợi, ván dán…; (3)Đồ “mộc” bằng thép là các loại bàn, ghế, giường, tủ mà
kết cấu do thép cấu thành toàn bộ hoặc kết hợp vật liệu; (4)Đồ mộc bằng tre; (5)Đồ
mộc gia dụng từ song, mây có thể dùng hoàn toàn hoặc các chi tiết kết hợp gỗ và
song, mây; (6)Đồ gia dụng Polyme mà toàn bộ do polyme cấu thành hoặc kết hợp
vật liệu; (7)Đồ gia dụng được làm hoàn toàn từ đá hoặc kết hợp; (8)Đồ gia dụng
được làm từ thủy tinh; (9)Đồ gia dụng làm từ gang
[43]

chuyên SX ván nhân tạo đế bán cho các DN SX SP hoàn thành để sử dụng… Sự
hoạt động riêng lẻ tại mỗi công đoạn SX trong từng DN khác nhau giống như một
DN cực lớn có nhiều phân xưởng SX. Khi tiến hành khớp nối các công đoạn của
từng DN lại sẽ thành một chuỗi SX tạo ra các SP mộc hiện đại. Chính vì thế, NCS

SấyPha
phôi

Gia
công
phôi
thôDán

Gia
công
phôi
tinh

SP
hoàn
thiện

Lắp
ráp

Như vậy, DNCNCBG hiện đại là thuật ngữ để chỉ DN đơn vị tiến hành SX theo
một trong các công đoạn hoặc toàn bộ các công đoạn của quy trình SX đồ mộc gia
dụng hiện đại. NNL SX trực tiếp được đào tạo tại các trường, lớp trong các cơ sở
đào tạo và có trình độ cấp bậc nhất định; làm việc dựa trên các loại máy móc, thiết bị
trong dây chuyền chế biến trong từng công đoạn nhất định. Còn các cơ sở SX đồ gỗ
truyền thống thường SX trọn bộ các khâu, các công đoạn chủ yếu được làm thủ công
để có được SP hoàn thiện và NNL thường được truyền nghề “cha truyền, con nối”
trong các dòng họ, các thế hệ con cháu trong gia đình.
Nghiên cứu NNL trong các DNCNCBG hiện đại, nghiên cứu quy trình SX SP
để hiểu thêm về bản chất công việc và sự thực hiện công việc của NNL. Tìm hiểu về
cách bố trí NNL và cơ cấu NNL trong phân công SX của các DN. Để đảm bảo SP
đạt chất lượng theo tiêu chuẩn của ngành và các tiêu chuẩn dành cho XK, nguyên
liệu SX chủ yếu là gỗ xẻ và ván nhân tạo cần đạt độ ẩm nhất định nên yêu cầu cần
được sấy (có thể tẩm hóa chất) trước khi gia công. Gia công cơ giới gỗ xẻ và ván
nhân tạo thành phôi gỗ theo kích thước nhất định tránh lãng phí gỗ trong quá trình ra
phôi. Ra phôi xong tiến hành tẩm, sấy hoặc sấy xong mới ra phôi có thể thay đổi tùy
theo chất liệu loại cây gỗ và phụ thuộc kết cấu SP mộc.
Ra phôi từ gỗ tự nhiên hay gỗ tròn cần sử dụng các loại máy xẻ chuyên dụng để
có gỗ theo kích thước và độ dày theo thiết kế hoặc đặt hàng của đối tác. Từ gỗ xẻ
hoặc ván nhân tạo để có phôi thô có các công đoạn: cắt ngang, xẻ dọc, xẻ theo đường
lượn theo kích thước và hình dạng hình học chính xác, bào cuốn, bào thô, liên kết
mộng, dán gỗ… có thể bào mặt ván trước rồi tiến hành pha phôi; có thể bào thô,
vạch mực trước, sau đó cắt ngang trước, sau khi mở mộng ngón, dán rồi cắt…. Cho
dù các bước thứ tự gia công có thể thay đổi theo điều kiện SX nhưng phải đảm bảo
đúng kỹ thuật và chất lượng gia công. Để có các kích thước, các hình dáng hình học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status