Nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện than ở việt nam - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo quy hoạch phát triển hệ thống điện Việt Nam (Quy hoạch điện VII)
giai đoạn 2011 – 2020 xét triển vọng đến năm 2030, tỷ trọng nguồn nhiệt điện
than ngày càng gia tăng.
Định hướng đến năm 2020: công suất các nhà máy nhiệt điện than là
36.000 MW chiếm 48% công suất nguồn, sản lượng điện sản xuất 154,44 tỷ
kWh chiếm 46,8% cơ cấu nguồn, nhu cầu than 67,3 triệu tấn.
Triển vọng đến năm 2030: công suất các nhà máy nhiệt điện than là
75.748,8 MW chiếm 51,6% công suất nguồn, sản lượng điện sản xuất 391,98 tỷ
kWh chiếm 56,4% cơ cấu nguồn, nhu cầu than lên tới 171 triệu tấn.
Dự báo từ năm 2014 khi các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 và Duyên
Hải 1 đưa vào vận hành, ngành điện bắt đầu phải nhập khẩu than. Việc nhập
khẩu than với số lượng ngày càng lớn dành cho các nhà máy nhiệt điện đốt than
đang là một vấn đề đáng quan tâm.
Thị trường điện Việt Nam đổi mới chuyển sang giai đoạn thị trường phát
điện cạnh tranh, vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất và hiệu suất thiết bị trong
các đơn vị sản xuất điện được đặc biệt quan tâm.
Hiện nay hiệu quả sử dụng nhiên liệu trong vận hành các nhà máy nhiệt
điện than ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu cả về khoa học và
thực tiễn. Vấn đề ảnh hưởng của các yếu tố vận hành (sự biến đổi đặc tính
nhiên liệu, các điều kiện tự nhiên khu vực, yếu tố tổ chức quản lý vận hành …)
đến hiệu quả sử dụng nhiên liệu – năng lượng ở các nhà máy nhiệt điện đốt
thanchưa được quan tâm nghiên cứu.
Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng quá trình sử dụng
nhiên liệu – năng lượng trong các nhà máy nhiệt điện đốt than nhằm đánh giá
tiềm năng và đề xuất giải pháp cũng như xác định hiệu quả sử dụng các giải
pháp tiết kiệm năng lượng tại các nhà máy nhiệt điện than ở nước ta.

1


2


6. Những đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được bộ dữ liệu về các chỉ tiêu thông số tiêu thụ nhiên liệu năng lượng hiện nay và tổng hợp đánh giá những vấn đề cần giải quyết để nâng
cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu - năng lượng trong các nhà máy nhiệt điện đốt
than Việt Nam;
- Nghiên cứu lựa chọn giải pháp và xây dựng được mô hình tính toán
tiềm năng và hiệu quả tiết kiệm nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện đốt
than.
- Đề xuất được các giải pháp phù hợp, có tính khả thi cao và tính toán
hiệu quả cho trường hợp áp dụng tại nhà máy nhiệt điện Phả Lại. Kết quả thu
được của đề tài có thể áp dụng cho các nhà máy nhiệt điện khác có cùng công
nghệ.

3


CHƯƠNG I: HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÀ MÁY
NHIỆT ĐIỆN ĐỐT THAN TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN VIỆT NAM
1.1 HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐIỆN
VIỆT NAM
Hệ thống điện (HTĐ) là tập hợp các phần tử, bộ phận có mối liên hệ mật
thiết với nhau nhằm cung cấp điện phục vụ cho nhu cầu sản xuất của xã hội và
dân sinh.
Hệ thống điện Việt Nam được hình thành từ rất sớm (khi Việt Nam còn
là thuộc địa của Pháp). Từ ngày hoà bình lập lại, HTĐ Việt Nam đã phát triển
mạnh, đáp ứng cơ bản nguồn điện năng cho phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống
điện nước ta hiện nay được chia thành 3 vùng chính và được liên kết bởi hệ
thống truyền tải điện 500kV. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tổng

Công suất

Năm 2030
Tỷ

trọng

Công suất

Tỷ
trọng

17.987MW

25,6%

19.857MW

20,3 %

21.100MW

15,3 %

Nhiệt điện dầu –
13.625MW
khí

19,4%



5%

10.700MW

7,8 %

Điện hạt nhân

1.000MW

1,4%

6.000MW

6,1 %

4.800MW

3,5 %

Điện nhập khẩu

1.839MW

2,6%

4.609MW

4,7 %


2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

2019

2020

2025

2030

10,8

12,7

15,8

18,8


1,5

1,8

2,7

7,0

34,4

0

0,07

0,07

0,07

0,08

0,07

0,07

0,06

0,06

0,07


0

0

3,4

9,0

9,6

9,8

9,4

9,7

9,6

9,0

8,6

0,4

0,8

0,9

0,8


61,3

70,1

77,3

116,5

187,4

0,38

0,83

0,90

0,84

2,4

8,0

15,1

21,6

26,7

30,2

Miền Bắc –
trong nước
Miền Bắc
nhập khẩu
Miền Trung
- trong nước
Miền Trung
-nhập khẩu
Miền Nam trong nước
Miền Nam nhập khẩu
Toàn quốc
Tổng nhập
khẩu
Trong nước

(Nguồn: Quy hoạch điện VII)
Bảng 1.3: Khả năng cấp than cho sản xuất điện
Khả năng cấp than
cho SX điện
P.A cơ sở - Triệu tấn
P.A cao – Triệu tấn

2010

2011

2012

2013


26,0

27,6

28,3

30,5

40,9

72,2

74,8

(Nguồn: Quy hoạch điện VII)
Như vậy, tổng nhu cầu than cho sản xuất điện trong 20 năm tới khoảng 1.670
triệu tấn, trong đó giai đoạn 2011 – 2020 là 401 triệu tấn, giai đoạn 2021 – 2030
khoảng 1.270 triệu tấn. Theo quy hoạch điều chỉnh ngành công nghiệp than, tổng
lượng than cấp cho sản xuất điện khoảng 920 triệu tấn. Như vậy, lượng than dự kiến
nhập khẩu khoảng 750 triệu tấn, trong đó từ 2011 – 2020 cần nhập khẩu khoảng 107
6


triệu tấn. Than nhập khẩu từ mức dưới 400 nghìn tấn hiện nay sẽ tăng lên khoảng 2,4
triệu tấn 2015 và đạt khoảng 30 triệu tấn năm 2020.
Ngoài ra, nhu cầu dầu FO cho sản xuất điện giai đoạn 2011 – 2030 tương ứng
như các bảng 1.4 và 1.5 sau đây:
Bảng 1.4: Nhu cầu dầu FO cho sản xuất điện giai đoạn 2011 - 2030
Dầu FO
(nghìn tấn)


0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Miền Trung

39

41

52

42


124

124

143

56

81

53

Toàn quốc

776

882

1135

831

449

155

153

153


2020

2025

2030

Miền Bắc

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0


22

24

44

22

4

0

0

0

0

0

0

0

Toàn quốc

22

24

do đốt than để biến nước thành hơi có nhiệt độ và áp suất cao làm quay tuabin
để phát ra điện. Ngoài ra, nhà máy nhiệt điện than còn sử dụng nhiên liệu là
dầu FO hoặc DO khi khởi động lò cũng như duy trì lò khi phụ tải thấp.

7


Vai trò của nhà máy nhiệt điện than (NMNĐT):Vai trò chính của NMNĐT là
phát điện phục vụ nhu cầu điện năng cho sản xuất kinh doanh cũng như sinh
hoạt và mọi hoạt động sử dụng điện khác.
Ngoài ra, NMNĐT còn cung cấp một lượng nguyên liệu lớn cho một số
ngành công nghiệp do tận dụng tro bay và xỉ, góp phần giảm giá thành sản xuất
của các ngành đó cũng như hiệu quả của việc xử lý chất thải của nhà máy, đồng
thời mang lại một phần doanh thu cho các nhà máy này.
Một số NMNDT còn có vai trò điều tiết trong hệ thống.
Ưu điểm và nhược điểm của nhà máy nhiệt điện than:Nhiệt điện than ở Việt
Nam có vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất điện năng. Ưu thế cơ bản của
nhiệt điện than là:
+ Có khả năng xây dựng tại nhiều khu vực (các nhà máy này thường
được bố trí gần các khu vực có phụ tải lớn như khu công nghiệp, thành phố,
khu dân cư tập trung đông).
+ Không bị giới hạn về công suất lắp đặt do các cụm nhiệt điện có thể
được xây dựng với công suất rất lớn (hơn 1.000MW).
+ Giá thành xây dựng nhà máy thấp hơn thủy điện có cùng công suất
+ Không phụ thuộc vào nhiều vào yếu tố thiên nhiên: địa hình, địa chất,
chế độ dòng chảy, mưa - nắng.
+ Chủ động trong vận hành vì không phụ thuộc thời tiết.
+ Diện tích chiếm đất của nhà máy ít hơn nhiều so với thủy điện cùng
công suất do đó ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đền bù giải tỏa…
Tuy nhiên:

thời gian này là chạy ở nền của đồ thị phụ tải.

9


Hình 1.4: Vị trí của các nhà máy nhiệt điện than trong đồ thị phụ tải vào mùa khô

Phân loại các nhà máy nhiệt điện than


Phân theo dòng lịch sử, năm sản xuất công nghệ:
- Công nghệ của những năm 60 - 80: như nhà máy nhiệt điện Ninh Bình
- Công nghệ của những năm 80 - 90: như dây chuyền I của nhà máy nhiệt
điện Phả Lại
- Công nghệ của những năm 90 đến nay: như dây chuyền II của nhà máy
nhiệt điện Phả Lại



Phân theo đặc điểm công nghệ sản xuất của nhà máy:
- NMNDT ngưng hơi thuần túy
- NMNDT có trích hơi
- NMNDT có hồi nhiệt



Phân theo nguồn năng lượng sản xuất điện:
- NMNDT chỉ sử dụng nhiên liệu hóa thạch: than và dầu
- NMNDT lai hóa: bên cạnh nhiên liệu là than và dầu thì nguồn năng
lượng để sản xuất ra điện của nhà máy còn gồm các dạng năng lượng tái

trong buồng lửa lò hơi. Nhiệt từ quá trình đốt cháy sẽ gia nhiệt cho nước và hơi
trong các dàn ống và thiết bị bố trí trong lò hơi. Công nghệ này trong tương lai
vẫn sẽ là một lựa chọn ưu thế cho các nhà máy điện.
Quy trình công nghệ sản xuất điện trong NMNĐT
Quy trình công nghệ sản xuất là bao gồm tất cả các công đoạn từ vận
chuyển, chế biến cho đến khi ra thành phẩm. Các công đoạn liên kết với nhau
như các mắt xích trong một dây chuyền. Quy trình công nghệ sản xuất là một
khối thống nhất giữa các công đoạn và thiết bị.
11


Sơ đồ quy trình sản xuất:

Hình 1.5: Sơ đồ quy trình sản xuất điện trong các nhà máy nhiệt điện

Vai trò của một số hệ thống chính:
- Hệ thống cấp nước: Nước lấy từ sông đi làm các nhiệm vụ như sau:
+ Thứ nhất: nước được đưa vào bể chứa để loại bỏ tạp chất, sau đó được
xử lý làm mềm và cấp cho lò hơi.
+ Thứ hai: nước được cấp cho hệ thống thải xỉ, đưa xỉ từ mương thải xỉ
ra các hồ chứa xỉ.
+ Thứ ba: nước có nhiệm vụ cấp cho hệ thống làm mát bình ngưng để
thu hồi nước ngưng cấp lại cho lò.
- Hệ thống nhiên liệu than: Than được vận chuyển từ các mỏ than đến
nhà máy bằng đường sông, đường sắt hoặc đường bộ. Sau khi than được đưa
tới cảng, hệ thống bốc dỡ sẽ đưa than đi: một về nhà kho để dự trữ một phần rồi
đi tiếp lên máy nghiền, hoặc thẳng lên hệ thống máy nghiền để chuẩn bị nhiên
liệu sẵn sàng cho lò hơi. Trong hệ thống máy nghiền, than vừa được sấy khô
nhờ không khí nóng, vừa được nghiền liên tục đến kích thước yêu cầu. Sau khi


rồi chuyển hóa thành động năng làm quay trục của tuabin đồng thời kéo theo
trục của máy phát cũng quay theo (do trục của tuabin được nối với trục của
13


máy phát). Máy phát làm việc và phát ra dòng điện rồi đưa lên trạm biến áp để
biến đổi điện áp.
1.2.3 Vận hành nhà máy nhiệt điện than Việt Nam
Nguyên lý hoạt động của các NMNĐT

Hình 1.6: Sơ đồ thiết bị nhà máy điện
I – Lò hơi; II – Bộ quá nhiệt; III – Tuốc bin; IV – Bình ngưng ; V – Bơm cấp

Trước khi đưa than vào buồng lửa, than được sấy khô và nghiền thành
bột cho đến khi đạt kích thước tiêu chuẩn nhờ hệ thống nghiền. Than khi đã đạt
kích thước tiêu chuẩn được phun vào trong buồng lửa cùng với không khí qua
hệ thống các vòi phun tạo thành hỗn hợp cháy và được đốt cháy trong buồng
lửa, nhiệt độ ngọn lửa có thể đạt tới 19000C. Nhiệt lượng tỏa ra khi nhiên liệu
cháy truyền cho nước trong dàn ống sinh hơi được bố trí trong lò hơi, nước
tăng dần nhiệt độ đến sôi, biến thành hơi bão hoà. Hơi bão hòa theo các đường
ống sinh hơi đi lên và tập trung ở bao hơi.
Qua hệ thống phân ly trong bao hơi, hơi được tách ra khỏi nước và đi
vào các dàn ống xoắn của bộ quá nhiệt. Ở bộ quá nhiệt, hơi bão hòa chuyển
động trong các ống xoắn sẽ nhận nhiệt từ khói nóng chuyển động phía ngoài
ống tạo thành hơi quá nhiệt có nhiệt độ và áp suất cao hơn và đi vào ống góp
sang tuabin. Nước sau khi phân ly đi xuống các đường ống đặt bên ngoài tường
lò rồi lại sang ống sinh hơi tiếp tục nhận nhiệt.
Khi sang tuabin hơi quá nhiệt có nhiệt độ và áp suất cao (giống như một
vật ở trên cao có thế năng rất lớn) đi vào tầng cánh tĩnh để dãn nở một phần
làm giảm thế năng, biến thành động năng của dòng hơi. Dòng hơi có động năng

- Thông tư 32/2010/TT – BCT của Bộ Công thương quy định về Hệ
thống điện phân phối…
15


Những văn bản pháp lý như trên sẽ dần đưa thị trường điện Việt Nam
vào vận hành công khai và minh bạch. Từ đó tạo động lực thúc đẩy các nhà
máy tham gia trong thị trường nói chung, các nhà máy nhiệt điện than nói riêng
tích cực áp dụng các giải pháp cải tiến kỹ thuật và quản lý vận hành để có thể
đạt được sự tăng hiệu suất với chi phí thực hiện là nhỏ nhất.
Luận văn xin đưa ra một sốđiểm cần được quan tâm để nâng cao hiệu
suất tại các nhà máy:
1. Phương thức quản lý sản xuất chung, bao gồm cả cơ chế thưởng phạt
đã được áp dụng hợp lý chưa?
2. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống cung cấp nhiên liệu than hay
chưa?
3. Quản lý và vận hành hiệu quả lò hơi và hệ thống khói thải, hệ thống
cấp gió cho lò hơi đã hợp lý chưa?
4. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống xả lò hay chưa?
5. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống trích hơi tuabin hay chưa?
6. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống bình ngưng và nước tuần hoàn
đã tốt chưa?
7. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống rửa bình ngưng chưa, rửa đủ
sạch chưa? như thế nào là đủ sạch, rửa ống bình ngưng một cach liên tục có
phải là giải pháp hiệu quả không?
8. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống hơi tự dùng chưa?
9. Quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống điện tự dùng (giảm tiêu thụ
điện tự dùng) đã đúng mức chưa?
Nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện than
để từ đó nâng cao hiệu suất của nhà máy, luận văn nhấn mạnh và tập trung tìm

nhiễm do bụi.

Quản lý và vận hành Đã được quan tâm Đã được quan tâm Đã được quan tâm
hiệu quả lò hơi và hệ nhưng còn nhiều hạn nhưng còn nhiều hạn nhưng còn nhiều
thống khói thải, hệ chế do thiết bị ống lò chế.

hạn chế do vận

thống cấp gió lò hơi vận hành 30 năm

hành vận hành lò

hợp lý chưa?

được

chưa được tối ưu

thay mới hoàn toàn,

hóa, tổn thất nhiệt

kiểm soát kim loại

nhiều => hiệu suất

chưa triệt để, vận

lò chưa cao, suất


578

2,25

2,14

2,3

sản xuất điện (%)
Suất tiêu hao than
trung bình (g/kWh)
Suất tiêu hao dầu
trung bình (g/kWh)

17


Như vậy, ở cả 03 nhà máy khảo sát đều gặp các vấn đề:
- Đối với việc quản lý và vận hành hệ thống cung cấp nhiên liệu: quản lý
chưa hiệu quả gây tổn hao, thất thoát than, dầu (Việc kiểm kê thực tế và số liệu
báo cáo không chính xác, chất lượng than xấu…).
- Đối với lò hơi: Do các thiết bị được thiết kế lắp đặt vận hành lâu năm
(đặc biệt là dây chuyền 1 của nhiệt điện Phả Lại), nên thường xuyên xảy ra sự
cố, vận hành lò hơi chưa tối ưu, tổn thất nhiệt nhiều. Do đó, hiệu suất của lò hơi
chưa cao, suất tiêu hao nhiên liệu lớn.
- Đối với môi trường: Môi trường không khí ô nhiễm do bụi than, bụi tro
bay, thải xỉ … ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và người dân sống ở
khu vực xung quanh.
Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp quản lý và sử dụng nhiên
liệu hiệu quả đóng một vai trò vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao hiệu suất



CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NHIÊN LIỆU –
NĂNG LƯỢNG TRONG CÁC NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THAN
2.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NHIÊN
LIỆU - NĂNG LƯỢNG TRONG CÁC NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THAN
2.1.1 Đặc tính nhiên liệu sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện đốt than Việt
Nam
Nhiên liệu là vật chất có khả năng giải phóng năng lượng khi cấu trúc vật
lý hoặc hóa học bị thay đổi. Nhiên liệu giải phóng năng lượng thông qua quá
trình hóa học (cháy ...) hoặc quá trình vật lý (phản ứng tổng hợp nhiệt hạch,
phản ứng phân hạch ...). Nhiên liệu có thể phân thành hai loại chính: nhiên liệu
vô cơ và nhiên liệu hữu cơ. Nhiên liệu hữu cơ là nhiên liệu có sẵn trong thiên
nhiên do quá trình phân hủy hữu cơ tạo thành. Nhiên liệu vô cơ là nhiên liệu
được tạo ra do phản ứng phân hủy hạt nhân uranium.
Trong lĩnh vực năng lượng chủ yếu sử dụng các nhiên liệu hữu cơ như
than đá, than bùn, dầu diezen, dầu nặng, khí thiên nhiên. Thời gian gần đây
nhiên liệu hạt nhân được sử dụng nhiều để cung cấp nhiệt năng.
Đối với nhà máy nhiệt điện chạy than thì nhiên liệu chính sử dụng là
than cám, ngoài ra còn sử dụng dầu DO hoặc FO để khởi động hoặc đốt kèm
khi tải thấp.
Thường phân tích than nhiên liệu theo thành phần hoá học (nguyên tố)
và được chia ra các nguyên tố cháy được cacon (C); hydro (H), một phần lưu
huỳnh (S) và quy ước cả oxy (O) và những thành phần không cháy được như
tro (A), độ ẩm (W). Nhiên liệu cấp cho NMĐ có thành phần khối lượng sau:
Clv+ Hlv+Olv+Nlv+Slv+Alv+Wlv = 100%
+ Cacbon Clv là thành phần cháy chủ yếu của nhiên liệu hữu cơ, khi cháy
cacbon toả ra 34.150 kJ/kg; Tuỳ theo tuổi hình thành của nhiên liệu mà tỷ lệ C
nhiều hay ít. Thông thường nhiên liệu hữu cơ có thành phần C từ 50 – 95%,
tuổi càng cao thì tỷ lệ C càng lớn và càng khó bắt lửa.

là tỷ lệ phần còn lại khi đốt nhiên liệu rắn ở 8000C và nhiên liệu lỏng ở
21


5000C.Trong cũng có trong ngoài (các chất rắn không cháy được lẫn vào nhiên
liệu trong quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển và bảo quản) và tro trong
(chất rắn không cháy được có ngay trong quá trình hình thành nhiên liệu). Tro
trong dầu FO 0,2 – 0,3%; trong củi gỗ khoảng 0,5 đến 2,5% và trong than đá
khoảng 15 – 30% hoặc hơn nữa.
Tro có tác dụng xấu làm giảm nhiệt lượng phát ra của nhiên liệu; gây
hiện tượng bám bẩn, mài mòn các bề mặt truyền nhiệt, các đường ống dẫn, thiết
bị khử bụi, quạt khói v.v…Trong công nghệ đốt, người ta thường quan tâm đến
3 trị số nhiệt độ là nhiệt độ biến dạng T1, nhiệt độ hoá mềm T2 và nhiệt độ nóng
chảy T3 của tro.
Các đặc trưng kỹ thuật của nhiên liệu là nhiệt trị, độ tro, độ ẩm và chất
bốc. Các đặc trưng kỹ thuật của nhiên liệu có ảnh hưởng lớn tới cấu trúc lò hơi,
tới các thiết bị phụ trợ và tới việc tổ chức vận hành thiết bị.
- Nhiệt trị: Là lượng nhiệt sinh ra khi cháy hoàn toàn 1 kg (đối với nhiên
liệu rắn hoặc lỏng) hoặc 1 m3 tiêu chuẩn (đối với khí) nhiên liệu.
Nhiệt trị làm việc của nhiên liệu gồm nhiệt trị cao và nhiệt trị thấp. Trong nhiên
liệu có hơi nước, nếu hơi nước đó ngưng tụ thành nước sẽ tỏa ra một lượng
nhiệt nữa. Nhiệt trị cao là nhiệt trị có kể đến cả lượng nhiệt khi ngưng tụ hơi
nước trong sản phẩm cháy nữa. Nhiệt trị thấp là nhiệt trị không kể đến lượng
nhiệt ngưng tụ hơi nước trong sản phẩm cháy. Nhiệt trị càng lớn thì lượng
nhiên liệu cần càng ít khi năng suất hơi của lò hơi không đổi.
- Độ tro: Nhiên liệu hóa thạch ở thể rắn hoặc lỏng có chứa một số chất
khoáng không cháy (đất sét Al2O3. 2SiO2.2H2O, cát SiO2, pirit sắt FeO2). Khi
nhiên liệu cháy các chất khoáng cặn này trải qua một loạt các biến đổi và biến
thành tro. Ở nhiệt độ cao trong buồng đốt chúng bị đốt cháy sinh ra xỉ. Độ tro
càng lớn làm giảm nhiệt trị, tăng chi phí vận chuyển, tăng sự ăn mòn và làm

tải do kéo băng tải có dính than ướt, than ẩm, làm tăng tổn hao điện tự dùng,
gây dính kho chứa làm lượng than lưu động trong kho thấp, công nhân phải phá
than đóng bánh do tắc kẹt vất vả. Đối với hệ thống chế biến than bột do than
23


ẩm, than ướt nên phải tổn hao nhiệt để sấy và nghiền than, tổn hao điện tự dùng
do chạy máy nghiền với năng suất thấp. Điều này không có lợi cho thiết bị và
người vận hành.
Đồng thời, độ ẩm của nhiên liệu tăng sẽ làm giảm nhiệt trị của nhiên
liệu, nhiệt lượng hữu ích sinh ra trong buồng lửa cũng giảm đi. Nhiệt độ cháy
giảm đi ảnh hưởng xấu đến quá trình cháy trong buồng lửa. Do nhiệt độ cháy
giảm nên nhiệt độ theo toàn đường khói cũng giảm theo. Nhưng vì tăng thể tích
khói nên tổn thất nhiệt theo đường khói thải vẫn tăng. Hiệu suất và sản lượng
hơi của lò hơi giảm đi nhanh chóng.
2.1.3 Ảnh hưởng của việc thay đổi đặc tính nhiên liệu đến hiệu quả vận
hành lò hơi đốt than
Vì mỗi lò hơi được thiết kế với mỗi một loại than có đặc tính nhiên liệu
nhất định. Do đó, sự thay đổi thành phần đặc tính nhiên liệu trong và sau quá
trình trộn than hoặc thay đổi loại than đều có ảnh hưởng nhất định đối với quá
trình vận hành lò hơi.
- Thành phần Cacbon: Thành phần chính của nhiên liệu than đốt cho lò
hơi ở nhà máy nhiệt điện là thành phần Cacbon (C) chiếm tỷ lệ trên 50% xét về
mặt khối lượng. Quá trình cháy của hạt than trong buồng đốt chủ yếu là cháy
Cacbon sinh ra một nhiệt lượng rất lớn. Do vậy khi nhập than hay sau khi pha
trộn giữa than xấu và than tốt, giữa than có nhiệt trị cao với than có nhiệt trị
thấp, người ta đều thí nghiệm đốt ở phòng thí nghiệm để lựa chọn than có nhiệt
trị tương đương với nhiệt trị than thiết kế. Nếu nhiệt trị thấp làm việc (Qt lv ) của
nhiên liệu lớn hơn nhiều nhiệt trị thiết kế sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ tâm cháy
của buồng đốt (quá tải nhiệt buồng đốt), dễ gây đóng xỉ và cháy vách ống lò.

điện người ta thiết kế bộ khử lưu huỳnh để bảo vệ môi trường và sức khỏe con
người. Ở một số tài liệu về môi trường còn cho thấy nếu hàm lượng SO2 là
0.1% thì sẽ làm kim loại bị ăn mòn tới 1.2 mg/m2 trong một năm ở độ ẩm
98%.
- Thành phần Nlv, Olv: Đây là hai thành phần có thể cháy sinh nhiệt trong
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status